Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

Một vài suy nghĩ về sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.95 MB, 44 trang )

1

A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Cuộc sống con người ngày càng phát triển về mọi mặt và hướng đến
chân thiện mỹ. Mỹ thuật dần đi vào cuộc sống của con người trong mọi hoạt
động, mọi công việc. Ví dụ như: làm một ngôi nhà, may một bộ đồ đẹp, chọn
màu sắc cho một chiếc xe máy yêu thích,…Như vậy thuật ngữ “ mỹ thuật ” từ
lâu đã đi vào con người, đó là “ cách làm đẹp ” không thể thiếu. Cũng chính
vì tầm quan trọng của Mỹ thuật mà nó đã được đưa vào chương trình trung
học cơ sở ( THCS ) trở thành một môn học chính thống.
Môn Mỹ thuật ở THCS nhằm giáo dục thẩm mỹ cho các em và tạo điều
kiện cho các em sáng tạo ra cái đẹp, nâng cao khả năng nhận thức thẩm mỹ
của các em. Không những thế, học Mỹ thuật còn giúp các em hiểu về cái đẹp
để sống và hoạt động theo quy luật của cái đẹp.
Môn Mỹ thuật được ngành Giáo dục và mọi người quan tâm, bên cạnh
những thành công bước đầu đạt được việc dạy và học Mỹ thuật còn nhiều hạn
chế và khó khăn. Trong dạy học, đồ dùng dạy học đóng vai trò rất quan trong
trong suốt quá trình dạy học. Đối với môn Mỹ thuật, đồ dùng dạy học càng
quan trọng hơn, nó làm tăng hiệu quả của tiết dạy rất nhiều.
Qua quá trình tìm hiểu thực tiễn tại trường THCS Hoằng Trung –
Hoằng Hóa tôi nhận thấy việc dạy và học môn Mỹ thuật còn gặp nhiều khó
khăn trong sử dụng đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy học chưa đáp ứng được
một tiết dạy hoàn chỉnh và nhu cầu kiến thức của học sinh.
Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu trường THCS Hoằng
Trung – Hoằng Hóa tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Một vài suy nghĩ về
sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS
Hoằng Trung – Hoằng Hóa.”


2



2. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nhằm đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng
Trung – Hoằng Hóa.
Dạy mỹ thuật ở THCS không nhằm đào tạo học sinh trở thành họa sỹ
hoặc những người chuyên làm nghề mỹ thuật, môn mỹ thuật không chỉ là vẽ
mà lấy hoạt động mỹ thuật để nâng cao hiểu biết về nhiều mặt như: đạo đức,
trí tuệ, thẩm mỹ...Vì vậy mục tiêu của môn học mỹ thuật ở THCS là:
- Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, giúp các em hiểu biết cái đẹp từ thiên nhiên
của tác phẩm mỹ thuật, tập tạo ra cái đẹp bằng khả năng của mình đồng thời
biết thưởng thức cái đẹp vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hàng ngày và
công việc sau này. Như vậy dạy học mỹ thuật ở THCS nhằm góp phần xây
dựng môi trường thẩm mỹ cho xã hội.
- Phát triển khả năng tư duy hình tượng sáng tạo góp phần hình thành phẩm
chất con người trong thời kỳ đổi mới đất nước.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3. 1. Khách thể nghiên cứu: sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở
trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa.
3. 2. Đối tượng nghiên cứu: thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng
Trung – Hoằng Hóa.
Đối tượng giảng dạy của chúng ta chính là học sinh THCS. Đây là lứa
tuổi học sinh chuyển tiếp từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập, khả
năng tri giác của các em rất tốt, hứng thú ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt.
Đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các
em thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết. Tuy nhiên sự phát triển hứng thú học


3


tập của kocj sinh phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức học tập cho học sinh
của giáo viên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về môn Mỹ thuật và sử dụng đồ dùng dạy
học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa.
Đánh giá thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở trường
THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy
học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa.
- Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
- Hướng dẫn học quan sát nhận ra vẻ đẹp của đối tượng về đường nét, hình
dáng đậm nhạt cấu trúc và màu sắc...để các em cảm nhận đối tượng trước khi
vẽ.
- Chỉ ra cho hoch sinh cách bố cục ( sắp xếp hình vẽ trong trang giấy sao cho
cân đối, hài hòa và đẹp mắt)
- Dạy học sinh cách suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo để có nhiều cách làm bài và có
nhiều khách quan khác nhau, biết lựa chọn phương án tối ưu sao cho bài vẽ
đẹp, mang tính tổng thể.
- Cung cấp cho học sinh THCS kiến thức cơ bản phổ thông về mỹ thuật.
- Áp dụng để giải quyết các bài tập hàng ngày có thể nhận biết và tạo ra cái
đẹp.
- Hiểu về cái đẹp, giá trị nền mỹ thuật dân tộc. Giáo dục truyền thống.
- Bổ trợ cho các môn học.
- Mỹ thuật là sự tích hợp các môn học liên quan đến các môn học và bổ trợ
lẫn nhau.
- Tạo nếp suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo làm việc khoa học.


4


- Phát hiện và bồi dưỡng kịp thời những mầm non Mỹ thuật.
5 . Phương pháp nghiên cứu:
Trong qua trình nghiên cứu vận dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc sách và tìm tài liệu.
+ Phân tích và tổng hợp lý thuyết.
+ Phân loại, hệ thống hoá lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
+ Phương pháp phỏng vấn.
+ Phương pháp quan sát sư phạm.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp phân tích và tổng kết.
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động, xử lý số liệu.
+ Dự học các chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương
pháp giảng dạy môn Mỹ thuật.
+ Thực hành giảng dạy theo phương pháp đổi mới.
+ Tìm giải pháp rút kinh nghiệm.
+ Cho học sinh hoạt động tham quan ngoài trời, tổ chức ngoại khóa.
6 . Những đóng góp mới của đề tài:
Qua thực tế giảng dạy trong những năm qua tôi luôn xác định được
mục tiêu trong nhà trường THCS, đồng thời cũng hiểu sâu sắc được vai trò
của môn mỹ thuật trong việc giáo dục học sinh phát hiện ra những mặt hạn
chế và có một giải pháp nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn mỹ thuật.
Tôi thấy việc nắm vững phương pháp và cách tổ chức cơ bản về môn mỹ
thuật cũng như việc xây dựng cho mình một cách tổ chức dạy học vững chắc
còn có tìm ra những giải pháp dạy học phù hợp của môn mỹ thuật sẽ có tác
dụng và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động dạy và học, giúp cho giáo


5


viên có một định hướng đúng đắn, phù hợp. Cách thức tổ chức giờ hợp lý
giúp cho học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá thế giới thẩm mỹ một cách
say mê, hấp dẫn góp phần giáo dục nên những con người toàn diện hơn theo
đúng mục đích; Đức, Trí, Thể, Mỹ. Nó giúp học sinh hoàn thiện nhân cách có
ý thức tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng mọi người, biết hướng tới những
tình cảm cao đẹp hơn. Từ đó điều chỉnh nên những con người mới với những
nhân cách tốt.
- Muốn giảng dạy tốt môn học trước hết giáo viên phải hiểu được mục đích
yêu cầu của môn học từ đó tìm ra cho mình một định hướng giảng dạy đúng
đắn.
- Luôn luôn tôn trọng gần gũi học sinh.
- Phải có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời
đối với các em.
- Trong tiết học luôn tạo không khí vui vẻ thoải mái nhẹ nhàng, thu hút lòng
say mê đối với các em đối với tiết học, môn học.
- Sử dụng linh hoạt trong phối hợp các phương pháp dạy học tích hợp.
7 . Cấu trúc của đề tài :
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, được cấu
trúc thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng sử dụng trực quan ở THCS
Chương 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng giáo cụ
trực quan trong dạy học môn mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng
Hóa.


6

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1. KHÁI QUÁT CHƯƠNG TRÌNH:

Chương trình môn Mỹ thuật ở THCS được chia thành 4 phân môn: vẽ
theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh và thường thức Mỹ thuật. Trong đó có các
dạng bài lý thuyết và bài thực hành. Các bài lý thuyết viết dưới dạng giới
thiệu theo trình tự nội dung và cuối bài là câu hỏi hướng dẫn. Các bài thực
hành viết dưới dạng: quan sát, nhận xét; tìm và chọn nội dung đề tài; cách vẽ;
bài tập.
Về nội dung: giải thích các khái niệm, nêu lên đặc điểm của từng phân
môn để các em tìm ra cách học, cách vẽ, cung cấp những kiến thứ cơ bản
nhất cho từng phân môn, bài tập ứng dụng.
Chương trình môn Mỹ thuật ở THCS được phân phối như sau:
Stt
1
2
3
4

Phân môn
Vẽ theo mẫu
Vẽ trang trí
vẽ tranh
Thường thức mỹ thuật
Số tiết học / lớp

6
8
9
9

8
34

Lớp/Số tiết
7
8
9
8
8
9
11
10
6
6
34
33

9
3
6
5
4
18

1.1.1 .Mục tiêu, nhiệm vụ của môn mỹ thuật ở THCS:
Môn Mỹ thuật ở THCS góp phần hình thành ở học sinh những phẩm
chất tốt đẹp của con người lao động mới, biết thưởng thức cái hay cái đẹp
trong cuộc sống. Chính vì thế môn Mỹ thuật ở THCS có mục tiêu, nhiệm vụ
sau:
Môn Mỹ thuật ở THCS không nhằm đào tạo hoạ sĩ sáng tác hay những

người chuyên làm về mỹ thuật. Môn Mỹ thuật ở THCS nhằm giáo dục thẩm


7

mỹ cho học sinh là chủ yếu: tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen,
thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt học tập
hằng ngày và những công việc cụ thể sau này.
Môn Mỹ thuật ở THCS nhằm nâng cao hơn nữa về năng lực quan sát,
khả năng tư duy hình tượng, sáng tạo, phương pháp làm việc khoa học, nhằm
hình thành ở các em phẩm chất con người lao động mới đáp ứng đòi hỏi của
xã hội ngày càng cao.
Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thông qua ngôn ngữ tạo hình.
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức phổ thông về Mỹ thuật.
Giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn về nền Mỹ thuật của dân tộc và
thế giới.
Tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu tốt hơn tri thức các môn học khác.
Định hướng cho một bộ phận học sinh học tiếp ngành Mỹ thuật, hay
tạo điều kiện cho các em thi vào các trường chuyên nghiệp có liên quan đến
Mỹ thuật sau này dễ dàng hơn ( kiến trúc, mỹ thuật ứng dụng, …)
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của giáo cụ trực quan trong dạy học môn Mỹ
thuật:
Bất kỳ một môn học nào trông công tác giảng dạy trực quan đều có vị
trí quan trọng. Sử dụng giáo cụ trực quan trong giảng dạy Mỹ thuật được xem
là một biện pháp tốt nhất để các em dễ dàng năm bắt nội dung bài học, giáo
cụ trực quan là cơ sở để giáo dục thẩm mỹ.
Mỹ thuật là môn học phải có giáo cụ trực quan vì Mỹ thuật là môn rèn
luyện bồi dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ thị giác nên Mỹ thuật thông
qua trực quan dạy cho học sinh quan sát, so sánh đối chiếu, phân tích nhằm
lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Giáo cụ trực quan nhằm mục đích

cụ thể hoá bài giảng , tăng thêm hiểu biết cho học sinh, giúp học sinh thu
nhận thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ và chính xác.


8

Giáo cụ trực quan nhằm kích thích tò mò và chăm chú, theo dõi bài
giảng, gợi ý cho học sinh hoặc để giải thích chứng minh cho một luận cứ, quy
tắc nào đó. Mặc dù giáo cụ trực quan hết sức quan trọng nhưng cũng hết sức
nguy hiểm vì tâm lý chung của học sinh là hay bắt chước. Nhờ giáo cụ trực
quan để thấy được cái hay, cái đẹp, tránh được cái chưa đạt, thấy rõ mục tiêu
bài học, khắc sâu kiến thức hơn nữa, thế nhưng phải biết sử dụng hợp lý, đúng
lúc.
Giáo cụ trực quan là phương tiện giúp trẻ tiếp thu nhận thức tốt lý
thuyết cũng như hướng dẫn thực hành, từ đố gây cho các em niềm say mê
hứng thú trong cái hay, cái đẹp, hình thành thị hiếu tốt, đồng thời giúp các em
học tốt các môn khác.
1.1.3. Nội dung:
- Chương trình Mỹ Thuật THCS gồm có 4 phân môn:
+ Vẽ theo mẫu
+ Vẽ trang trí
+ Vẽ tranh đề tài
+ Thường thức Mỹ Thuật
- Thời lượng cho môn Mỹ Thuật:35 tiết/năm ( 1 tiết/tuần, mỗi tiết 45 phút)
* Lưu ý:
- Mỹ thuật là môn học có kết cấu đồng tâm: kiến thức cơ bản được lặp đi lặp
lại nhưng nâng cao dần qua các bài tập, vì thế vừa có tính kế thừa vừa có tính
nâng cao.
- Các phân môn được sắp xếp đan xen, theo trình tự từ dễ đến khó để có thể
bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau.

Nội dung cơ bản của môn Mỹ Thuật
- Nội dung môn Mỹ Thuật từ lớp 6 đến lớp 9 được trình bày cụ thể trong
từng khối lớp, nhìn chung có những nội dung chính sau:


9

+ Vẽ theo mẫu: Hướng dẫn học sinh vẽ những hình khối đơn giản đến
những mẫu có cấu trúc phức tạp như vẽ mẫu có hai đồ vật trở lên.
+ Vẽ trang trí: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về khái niệm trang trí, cách
chọn họa tiết trang trí cho phù hợp với nội dung bài vẽ, từ đó học sinh có thể
tự làm được bài trang trí theo sở thích.
+ Vẽ tranh: Hướng dẫn học sinh thể hiện cảm nhận của mình qua bài vẽ về
những đề tài có trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
+ Thường thức mỹ thuật: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cảm nhận một số
tác phẩm nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa trong nước và ngoài nước.
1.2.TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT:

Mỹ thuật là môn học trực quan. Đối tượng của môn Mỹ thuật thường là
những gì ta có thể nhìn thấy, sờ được - có hình, khối, có đậm nhạt, có màu
sắc, ở xung quanh ta, gần gũi và quen thuộc.
Dạy học nói chuung và dạy học Mỹ thuật nói riêng bao giờ cũng mang
lại hiệu quả cao. Riêng với Mỹ thuật, tất cả các loại bài học đều phải sử dụng
đồ dùng dạy học. Dạy Mỹ thuật dạy trên đồ dùng dạy học. Do vậy đồ dùng
dạy học là nội dung, kiến thức của bài học. Đồ dùng dạy học còn phản ánh
mức độ kiến thức của bài học , trình độ của học sinh.
1.2.1. Khái niệm về trực quan:
Nói đến phương pháp trực quan tức là đề cập đến sao cho học sinh thấy
được ngay, thấy một cách rõ ràng, cụ thể và hiểu nhanh, nhớ lâu, đồng thời
có hứng thú học tập, dù là những khái niệm như cân đối, hài hoà hay những gì

ẩn chứa trong bố cục,nét vẽ, màu sắc…mà nghệ sĩ muốn nói. Như vậy,
phương pháp trực quan yêu cầu, giáo viên dạy Mỹ thuật ở góc độ nhận thức
cụ thể như sau:


10

* Về nhận thức: giáo viên phải coi trực quan và phương pháp trực quan
là cần thiết, là nội dung bài dạy.
* Về chuẩn bị: chủ động nghiên cứu bài dạy, tự tìm và thiết kế đồ dùng
dạy học sát với nội dung.
* Về phương pháp: sử dụng trực quan giáo viên cần lưu ý:
- Phân loại đồ dùng sao cho hợp với nội dung, thích hợp với từng thời
kỳ, từng giai đoạn của học tập và ý đồ của giáo viên.
- Hình thức đồ dùng dạy học cần có kích thước vừa phải, dễ quan sát,
có trọng tâm, đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh.
- Trình bày đồ dùng dạy học cần rõ ràng, khoa học.
- Kết hợp giữa trình bày lý thuyết với giới thiệu trực quan đúng lúc, sao
cho lời nói hấp dẫn và minh hoạ đẹp hoà quyện làm một, tạo điều kiện cho
học sinh nhận thức nhanh, nhớ lâu.
1.2.2. Vai tròvà ý nghĩa :
Bất kỳ một môn học nào trông công tác giảng dạy trực quan đều có vị
trí quan trọng. Sử dụng giáo cụ trực quan trong giảng dạy Mỹ thuật được xem
là một biện pháp tốt nhất để các em dễ dàng năm bắt nội dung bài học, giáo
cụ trực quan là cơ sở để giáo dục thẩm mỹ.
Mỹ thuật là môn học phải có giáo cụ trực quan vì Mỹ thuật là môn rèn
luyện bồi dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ thị giác nên Mỹ thuật thông
qua trực quan dạy cho học sinh quan sát, so sánh đối chiếu, phân tích nhằm
lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Giáo cụ trực quan nhằm mục đích
cụ thể hoá bài giảng , tăng thêm hiểu biết cho học sinh, giúp học sinh thu

nhận thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ và chính xác.
Giáo cụ trực quan nhằm kích thích tò mò và chăm chú, theo dõi bài
giảng, gợi ý cho học sinh hoặc để giải thích chứng minh cho một luận cứ, quy
tắc nào đó. Mặc dù giáo cụ trực quan hết sức quan trọng nhưng cũng hết sức


11

nguy hiểm vì tâm lý chung của học sinh là hay bắt chước. Nhờ giáo cụ trực
quan để thấy được cái hay, cái đẹp, tránh được cái chưa đạt, thấy rõ mục tiêu
bài học, khắc sâu kiến thức hơn nữa, thế nhưng phải biết sử dụng hợp lý, đúng
lúc.
Giáo cụ trực quan là phương tiện giúp trẻ tiếp thu nhận thức tốt lý
thuyết cũng như hướng dẫn thực hành, từ đố gây cho các em niềm say mê
hứng thú trong cái hay, cái đẹp, hình thành thị hiếu tốt, đồng thời giúp các em
học tốt các môn khác.
1.3. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT:

Dạy Mỹ thuật cũng là dạy học, vì Mỹ thuật cũng là một môn học ở
trường phổ thông. Do vậy, dạy Mỹ thuật cũng phải tuân theo những phương
pháp chung và có phương pháp riêng. Đối với môn học Mỹ thuật có thể kể
đến một số phương pháp thường vận dụng sau:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp gợi mở.
- Phương pháp luyện tập.
- Phương pháp liên hệ thực tiễn với cuộc sống.
Đối với môn học Mỹ thuật đó là môn học trực quan, do vậy dạy Mỹ
thuật ở trường THCS dạy trên đồ dùng dạy học là chủ yếu. Đề tài này nhằm

nghiên cứu về sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Mỹ thuật nên phương
pháp trực quan sẽ được phân tích sâu hơn.
1.3.1. Các loại giáo cụ trực quan:


12

Giáo cụ trực quan môn Mỹ thuật là tất cả những phương tiện sử dụng
trong tiết dạy môn Mỹ thuật. Có thể kể đến các loại đồ dùng ( phương tiện )
đó là:
- Vật mẫu: nhiều chất liệu, hình dáng phong phú ( có thể tự làm ) như:
hoa quả, các khối hộp, cái phích, ấm tích, khối cầu, tượng…
- Hình mẫu: dưới dạng vật thật hoặc tự vẽ như: chén đĩa, khăn, gạch
hoa…
- Mô hình: kích thước vừa phải, tiện lợi như: mô hình trại…
- Tranh ảnh:
+ Tranh nguyên bản, phiên bản: tranh thiếu nhi, tranh hoạ sĩ, tranh dân
gian…
+Ảnh chụp theo đề tài, hoặc sưu tầm qua sách báo…
- Sơ đồ: sơ đồ có minh hoạ các bước vẽ.
- Sách giáo khoa, học sinh có thể tham khảo thêm sách thực hành Mỹ
thuật.
- Bài vẽ của học sinh năm trước.
- Minh hoạ bảng.
- Đồ dùng dạy học: phấn, thước kẽ, bút chì, giấy vẽ…
- Phương tiện hiện đại: máy chiếu.
- Ngoài ra đối với các bài như: Tập vẽ dáng người, Giới thiệu tỉ lệ cơ
thể người ( lớp 8 ),…có thể phải chuẩn bị thêm người mẫu là học sinh hoặc
người lớn…
1.3.2. Sử dụng trực quan ở các phân môn:

Môn Mỹ thuật ở THCS được chia thành 4 phân môn với những đặc
điểm sau:
* Phân môn “ Vẽ theo mẫu ”:


13

Đây là phân môn “ khô ” nhất trong các phân môn, tương đối khó dạy
do đó giáo viên ít quan tâm đến bài dạy để tìm ra những nét khác nhau giữa
các bài. Về phía học sinh , đây cũng là phân môn khó nhất không “ thích
”bằng vẽ trang trí hay vẽ tranh đề tài. Trên thực tế, kết quả bài vẽ theo mẫu
bao giờ cũng thua các phân môn khác.
Vẽ theo mẫu phải quan sát từ đầu đến kết thúc bài vẽ. Quan sát để tìm
ra “ kiến thức ”, vì vậy kết quả của bài vẽ phụ thuộc vào phương pháp quan
sát.
Vẽ theo mẫu là vẽ từ mẫu thực. Từ mẫu thực đến bài vẽ do người vẽ
quyết định. Song trên thực tế, các khái niệm vẽ - theo - mẫu chưa được hiểu
đúng ở học sinh và ngay cả ở một bộ phận giáo viên.
Không vẽ tiếp khi không có mẫu ở trước mặt. Trong quá trình vẽ không
thay đổi vị trí của mẫu và vị trí của người vẽ, hướng ánh sáng…để đảm bảo
cho bài vẽ khồng thay đổi, không bị sửa chữa, điều chỉnh…Do vậy mẫu vẽ
đối với bài vẽ theo mẫu là rất quan trọng.
Với những đặc điểm đó, cần vận dụng những phương pháp sau đây khi
dạy vẽ theo mẫu: quan sát, trực quan, gợi mở.
* Phân môn “ Vẽ trang trí ”:
Vẽ trang trí cũng từ những mẫu, từ kiến thức chung nhưng người vẽ có
thể suy nghĩ, tìm tòi để tạo ra bài vẽ, sản phẩm khác một phần hoặc khác hoàn
toàn về hình dáng, bố cục, màu sắc…Vì thế đặc điểm của trang trí là suy
ngẫm - tìm tòi - sáng tạo thường xuyên liên tục để luôn có cái mới, cái đẹp
không lặp lại chính mình, không giống với người khác. Trang trí tạo cho học

sinh nếp nghĩ, phương pháp làm việc khoa học, tư duy sáng tạo, góp phần
hình thành phẩm chất con người lao động.
Trang trí gần gũi, gắn bó với cuộc sống vì nó tạo tra những sản phẩm
phục vụ sinh hoạt hàng ngày cho tất cả mọi người trong xã hội.


14

Trang trí mang màu sắc dân tộc rõ nét nhất, bởi nó xuất phát từ nhu cầu
cuộc sống của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và như vậy nó mang
tính giáo dục sâu sắc.
Trong dạy học phân môn này cần sử dụng các phương pháp sau: trực
quan, gợi mở, luyện tập.
* Phân môn “ Vẽ tranh ”:
Khai thác đề tài: từ đề tài chung mỗi người tìm ra cách thể hiện sâu
sắc, độc đáo, tìm ra những hình tượng điển hình để có thể diễn tả được tư
tưởng chủ đề, ý đồ của người vẽ, khêu gợi được sự tìm tòi và cảm nhận của
người xem.
Phản ánh một cách sinh động bằng sự quan sát và hiểu biết cuả người
vẽ; vì thế, vẽ tranh đề tài là thể hiện sự hiểu biết nhiều mặt về cuộc sống, tự
do tạo điều kiện cho người vẽ có ý thức tìm hiểu thế giới xung quanh.
Khi dạy vẽ tranh cần vận dụng các phượng pháp sau: quan sát, liên hệ
thực tiễn với cuộc sống. Bên cạnh sử dụng các trực quan là bài vẽ của học
sinh và họa sĩ để các em nắm bắt được nội dung.
* Phân môn “ Thường thức mỹ thuật ”:
Đây là phân môn mà học sinh không làm bài thực hành, là phân môn
lịch sử mỹ thuật tóm lược.
Lịch sử mỹ thuật gắn liền với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá
của một đất nước, một vùng hay một mốc thời gian. Do đó dạy và học phân
môn này cần có kiến thức về các môn khoa học xã hội và có cách nhìn tổng

quát, nhận xét sâu sắc, phân tích có cơ sở.
Thường thức mỹ thuật nâng cao trình độ văn hoá chung cho học sinh,
bồi dưỡng thẩm mỹ thị giác, giáo dục tình yêu quê hương đất nước và tạo
điều kiện cho các em học tập các phân môn khác có hiệu quả hơn.


15

Phương pháp dạy thích hợp của phân môn này là: quan sát, vấn đáp,
đàm thoại, liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Giáo viên cần sưu tầm, tìm hiểu
nhiều tranh ảnh liên quan đến bài học.

Tiểu kết chương I:
Từ mục tiêu, nhiệm vụ của môn mĩ thuật ở trường THCS cho thấy đối
tượng nghiên cứu của môn học là rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác


16

nhau: Kiến trúc, hội họa, điêu khắc ... Là một giáo viên mĩ thuật phải nắm
vững nguyên tắc đồ dùng trực quan và đổi mới phương pháp dạy học, cách
thức hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp học tập, coi trọng tự học và
biết xây dựng các tài liệu chuyên môn phục vụ đổi mới phương pháp dạy học,
bớt cách tiếp nhận thông tin phản hồi từ sự đánh giá nhận xét của học sinh và
phương pháp dạy học của mình, kiên trì phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu,
tự tin, không tự ti hoặc chủ quan thoả mãn, hướng dẫn học sinh về phương
pháp học tập và biết cách tự học, tiếp nhận kiến thức và rèn luyện kỹ năng, tự
đánh giá kết quả học tập để các em học mĩ thuật có hiệu quả và đạt được
những lợi ích từ việc học mĩ thuật đem lại bản thân người giáo viên cần phải
có sự đầu tư bài bản về chương trình và quan trọng là nội dung giảng dạy phù

hợp với sự phát triển của từng lứa tuổi. Các em được học từ những thứ đơn
giản nhất, rồi nâng cao dần cấp độ theo khả năng, nhận thức của từng học
sinh. Như vậy khả năng và trình độ của các em sẽ được nâng dần đồng thời về
nhận thức về cái đẹp muôn màu của cuộc sống cũng phát triển theo. Quá trình
học tập giúp các em phát triển rèn luyện nhiều kỹ năng như quan sát, phân
tích, tính kiên trì, tính biểu cảm và sự khéo léo của đôi tay, về phần giáo viên
củng cố và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên thay đổi các
phương pháp dạy học mỗi giờ lên lớp theo hướng tích cực, mặt khác thế kỷ
XXI là thế kỷ có nhiều biến đổi về khoa học kỹ thuật như công nghệ thông tin
phát triển mạnh, kinh tế xã hội có nhiều thay đổi đòi hỏi giáo dục cần thay đổi
để đáp ứng yêu cầu xã hội cần tạo ra những người lao động mới, lao động trí
tuệ, biết làm chủ bản thân, làm chủ đất nước.

Chương 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRỰC QUAN Ở THCS.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG THCS HOẰNG TRUNG, HOẰNG HÓA:

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển :


17

Thành lập năm 1940, thuộc địa bàn xã Hoằng Trung , diện tích 5076 m
Trường tuyển sinh vào lớp 6 từ học sinh giỏi tiểu học trên địa bàn xã và
các xã lân cận. Do đó trường là đơn vị giáo dục có uy tín và chất lượng của
ngành giáo dục của huyện. Nhiều học sinh của trường đã trở thành cán bộ
hay các nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học…
Năm 1999 đã học tin học, năm 1993 học ngoại ngữ Anh. Từ năm 2002,
trường được Phòng GD và ĐT đánh giá cao về ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học.
Một số thành tích đạt được :

+ Từ năm học 1989 – 1990 đến nay là đơn vị dẫn đầu của tỉnh về thành
tích tổ chức quản lý và bồi dưỡng học sinh giỏi khối THCS.
+ Từ năm 2000 đến năm 2006, học sinh trường đạt 11 giải học sinh giỏi
cấp khu vực môn giải toán bằng máy tính bỏ túi.
+ Từ 1999 đến nay, đạt 56 giải học sinh giỏi cấp tỉnh .
+ Tại hội khoẻ Phù Đổng cấp huyện năm 2004 đạt nhiều giải cao.
+ Nhiều năm liền trương đạt trường tiên tiến xuất sắc của tỉnh. Năm
2001, vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
+ Năm 2013 được Chủ Tịch Nước tặng Huân chương Lao động hạng
Nhì.
+ Có 1 cán bộ giáo viên được tặng danh hiệu “ Chiến Sĩ thi đua cấp
Tỉnh ”.
+ Có 2 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh.
+ Qua 3 lần thi tuyển chọn giáo án điện tử do Phòng GD và ĐT tổ chức
nhà trường luôn là đơn vị dẫn đầu khối THCS , có 4 giáo án điện tử được cho
nhân bản trên toàn tỉnh.
2.1.2. Cơ sở vật chất :


18

Trường có 19 phòng học, 1 phòng thực hành Lý, 1 phòng thực hành
Hoá - Sinh, 1 phòng thực hành Công nghệ, 1 phòng vi tính gồm 23 máy, 1
phòng thư viện, 1 phòng Đoàn Đội, 2 phòng học Tiếng Anh, 2 phòng nghe
nhìn.
* Thuận lợi :
+ Quan điểm nhận thức về môn Mĩ thuật :
- Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh, nhất
là học sinh tiểu học, trước kia không có giáo viên chuyên, môn học này là
môn học phụ, không được đầu tư, không được quan tâm. Vì vậy dẫn đến học

sinh thờ ơ không có hiệu quả.
- Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy mĩ thuật, phong trào học
Mĩ thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn
học và môn học đã được chú ý. Bởi vì đặc thù của môn học đã được nhận
thức khác so với những năm trước. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một
môn học nghệ thuật, môn học có đóng góp rất lớn đến việc giáo dục trẻ, môn
học bổ ích góp phần không nhỏ vào việc hình thành nhân cách và phát triển
toàn diện cho học sinh. Vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ
huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Trong mỗi giờ học, học sinh có
thể tự do suy nghĩ, tự nói lên những tình cảm của mình, dựa trên sự hướng
dẫn của giáo viên bộ môn. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ
ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học
bổ trợ tích cực cho các môn học khác. Vì thế các em đón nhận tiết học một
cách nhiệt tình và hào hứng.
+ Trang thiết bị dạy học :
- Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành
công, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện,
đồ dùng trực quan, ...


19

- Có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy Mĩ thuật cho học
sinh như : bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 1 đến lớp 5, sách tham
khảo, một số tranh ảnh về tượng, phù điêu, ...
Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môn Mĩ thuật vẫn
còn gặp phải một số khó khăn
* Khó khăn:
- Do quan niệm của một số giáo viên, một số bậc phụ huynh về môn
học còn hạn chế cho rằng đó là môn học phụ, chưa coi trọng kết quả của giáo

viên chuyên môn, sự thiếu quan tâm mua sắm đồ dùng học tập cho học
sinh, ... Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của giáo viên và
học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tự tin làm bài. Trên thực
tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên giảng dạy bộ môn về phương pháp sư
phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trình bày bảng
còn vụng về, lúng túng,... dẫn đến học sinh không lắng nghe, không tập trung
tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học. Điều đó khiến
cho các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa,
đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày.
+ Trang thiết bị dạy học :
- Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực
tế đời sống dân trí còn nghèo, hầu hết là con em thuần nông nên điều kiện để
phụ huynh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn hạn chế, điều đó ảnh
hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em.
- Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : phòng học chức
năng, vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan, ...
vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập và giảng dạt của giáo viên và học
sinh.


20

Chính vì những thuận lợi và khó khăn trên nên việc dạy học ở trường THSC
còn chưa đạt chất lượng cao, vẫn còn những học sinh chưa ham học.
Hiện nay phòng học của nhà trường đang còn thiếu do vậy mặc dù là
trường chất lượng cao nhưng đến nay phòng học của môn Mỹ thuật đang còn
nhiều khó khăn ( vẫn chưa có phòng học riêng chop mô Mỹ thuật ) vẫn sử
dụng phòng học các môn chung; dụng cụ, tủ để bảo quản đồ dùng dạy học
môn Mỹ thuật chưa có.

Một số vật mẫu vẫn chưa đầy đủ giáo viên tự tìm kiếm hoặc phải chuẩn
bị để dạy học. Phần lớn giáo viên đều cho rằng: giáo cụ trực quan của môn
Mỹ thuật hiện nay là chưa đầy đủ, phần lớn đều do giáo viên tự thiết kế thêm,

Bên cạnh đó giáo viên đã ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn Mỹ thuật và mang lại hiệu quả cao, gây hứng thú cho học sinh đặc biệt là
trong các tiết học phân môn thường thức Mỹ thuật. Với cách dạy này giáo
viên có thể sử dụng nhiều trò chơi để tổng kết bài học và củng cố kiến thức;
giới thiệu nhiều trang web để học sinh tự tìm hiểu thêm .
Như vậy khó khăn lớn nhất của giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật ở trường
Hoằng Trung hiện nay là thiếu giáo cụ trực quan, nhưng nếu tự mua thêm thì
không đủ kinh phí. Bên cạnh đó chưa có phòng học đặc thù cho môn Mỹ
thuật cũng gây không ít khó khăn cho việc học phân môn Vẽ theo mẫu.
Một số đề nghị: bộ cần cung cấp thêm nhiều giáo cụ trực quan cho các
trường THCS, không chỉ là tranh ảnh mà còn các vật dụng khác. Nhà trường
và các ban nghành cần đầu tư kinh phí hơn để giáo viên có thể làm trực quan
cho tiết dạy bởi một số trực quan do giáo viên sáng tạo ra cũng tốn nhiều kinh
phí so với mức lương.
2.1.3. Đội ngũ giáo viên :


21

- Trường có 19 giáo viên có trình độ đại học, 1 giáo viên có trình độ
Cao Đẳng hiện đang học lên Đại Học tại Trường ĐHVH – TT và Du Lịch
Thanh Hóa.
- Tăng cường chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, nhân viên có phẩm chất chính trị và đạo
đức tốt, có năng lực chuyên môn.
- Đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp kỉ cương, củng cố môi

trường sư phạm.
- Thực hiện tốt việc đổi mới phưong pháp dạy học đồng bộ việc sử
dụng các thiết bị dạy học.
- Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin có chất lượng.
- Hoàn thiện đề án xây dựng trường mới.
- Quan tâm đến công tác đối ngoại.
- Coi trọng công tác xã hội hoá giáo dục.
- Triển khai có hiệu quả cuộc vận động “ Nói không với tiêu cực trong
thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục ”.
2.2. SỬ DỤNG GIÁO CỤ TRỰC QUAN MÔN MĨ THUẬT ƠT TRƯỜNG THCS
HOẰNG TRUNG:

Đề tài này chỉ giới hạn tìm hiểu việc sử dụng đồ dùng dạy học trong
môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa. Để đánh giá thực
trạng này tôi đã tiến hành phỏng vấn, điều tra, tìm hiểu qua Ban giám hiệu
nhà trường, giáo viên giảng dạy, qua học sinh và sản phẩm của các em.
* Đánh giá thực trạng qua phỏng vấn, tìm hiểu ở Ban giám hiệu nhà
trường và giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật:


22

Qua trao đổi với Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên giảng dạy môn
Mỹ thuật cho thấy 100% giáo viên đều cho rằng giáo cụ trực quan là rất cần
thiết đối với quá trình dạy học đặc biệt là môn Mỹ thuật. Giáo cụ trực quan
môn Mỹ thuật của trường hiện nay chưa đầy đủ, giáo viên giảng dạy bằng
những giáo cụ trực quan do bộ cấp và thỉnh thoảng có làm thêm ở một số tiết.
Nhà trường hiện nay có một giáo viên mỹ thuật giáo viên đã nhận định : hiệu
quả của giáo cụ trực quan là rất cao, học sinh thấy đam mê, thích thú hơn…và

nắm bài tốt hơn, kiến thức vững chắc hơn.
Hiện nay phòng học của nhà trường đang còn thiếu do vậy mặc dù là
trường chất lượng cao nhưng đến nay phòng học của môn Mỹ thuật đang còn
nhiều khó khăn ( vẫn chưa có phòng học riêng chop mô Mỹ thuật ) vẫn sử
dụng phòng học các môn chung; dụng cụ, tủ để bảo quản đồ dùng dạy học
môn Mỹ thuật chưa có.
Một số vật mẫu vẫn chưa đầy đủ giáo viên tự tìm kiếm hoặc phải chuẩn
bị để dạy học. Phần lớn giáo viên đều cho rằng: giáo cụ trực quan của môn
Mỹ thuật hiện nay là chưa đầy đủ, phần lớn đều do giáo viên tự thiết kế thêm,

Bên cạnh đó giáo viên đã ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn Mỹ thuật và mang lại hiệu quả cao, gây hứng thú cho học sinh đặc biệt là
trong các tiết học phân môn thường thức Mỹ thuật. Với cách dạy này giáo
viên có thể sử dụng nhiều trò chơi để tổng kết bài học và củng cố kiến thức;
giới thiệu nhiều trang web để học sinh tự tìm hiểu thêm .
Như vậy khó khăn lớn nhất của giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật ở trường
Hoằng Trung hiện nay là thiếu giáo cụ trực quan, nhưng nếu tự mua thêm thì
không đủ kinh phí. Bên cạnh đó chưa có phòng học đặc thù cho môn Mỹ
thuật cũng gây không ít khó khăn cho việc học phân môn Vẽ theo mẫu.


23

Một số đề nghị: bộ cần cung cấp thêm nhiều giáo cụ trực quan cho các
trường THCS, không chỉ là tranh ảnh mà còn các vật dụng khác. Nhà trường
và các ban nghành cần đầu tư kinh phí hơn để giáo viên có thể làm trực quan
cho tiết dạy bởi một số trực quan do giáo viên sáng tạo ra cũng tốn nhiều kinh
phí so với mức lương.
* Để thấy rõ hơn thực trạng của việc sử dụng giáo cụ trực quan trong
dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS Hoằng Trung – Hoằng Hóa tôi đã tiến

hành tìm hiểu qua học sinh bằng phiếu điều tra và kết quả như sau:
Tổng số phiếu phát ra : 155 phiếu cho các lớp 6 , 6 , 7 , 8
Trong đó:
Lớp 6
Lớp 7
Lớp 8
Lớp 6

42 phiếu
36 phiếu
40 phiếu
37 phiếu

+ Câu hỏi 1: Các em có thích học môn mỹ thuật mà giáo viên sử dụng
công nghệ thông tin không ?
Kết quả thu được:
Mức độ

Rất thích

Thích

Không thích

Số lượng
%

168
96,6


6
3,4

0
0

Hoàn toàn
không
0
0

Như vậy chúng ta nhận thấy 96,6 % học sinh nhận thấy được tầm quan
trọng của giáo cụ trực quan do giáo viên chuẩn bị đối với tiết học của mình.
Chứng tỏ các em thấy bản thân học tập thích thú hơn, hiệu quả hơn đối với
những tiết có giáo cụ trực quan.
+ Câu hỏi 2: “ Các em thấy giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan có liên
tục trong các tiết dạy không ?”


24

Tiết nào cũng đầy đủ
Thỉnh thoảng
Rất ít
Hầu như không sử dụng

17
98
40
0


10,9 %
63,2 %
25.9 %
0

Qua câu trả lời của các em chúng ta có thể thấy là : giáo viên chưa sử
dụng giáo cụ trực quan đầy đủ, chỉ sử dụng ở một só tiết trong một lớp.
+ Câu hỏi 3: “ Các em thấy giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan bài nào
hấp dẫn nhất ? ”.
Hầu hết các em đều cho rằng giáo viên đã sử dụng giáo cụ trực quan
trong các bài thuộc phân môn thường thức Mỹ thuật là hấp dẫn, đầy đủ và lôi
cuốn các em học tập. Ví dụ như : bài “ Giới thiệu một số tranh dân gian Việt
Nam ”, “ Tranh dân gian Việt Nam ”
+ Câu hỏi 4: “ Khi giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan các em thấy lớp
tham gia như thế nào ? ”
Thu hút cả lớp
97
Chỉ vài bạn hăng say theo dõi
35
Bình thường
23
Hầu hết các bạn không thích
0
Qua bảng tổng kết này chúng ta thấy các em khá hăng

62,5%
22.5%
15 %
0

say với những

tiết học có sử dụng giáo cụ trực quan. Nhưng có 22.5 % cho rằng chỉ vài hăng
say theo dõi như vậy là do học sinh không thích thú với môn học cũng có thể
giáo viên sử dụng trực quan chưa làm các em theo dõi.
+ Câu hỏi 5: “ Giáo viên có thường phân công các em về nhà tìm kiếm
tranh ảnh để lên trình bày trong tiết học hay không ?”
Qua câu trả lời của các em, tôi thấy trong một số tiết thường thức Mỹ
thuật giáo viên đã yêu cầu mỗi tổ sưu tầm tranh ảnh và sau đó lên giới thiệu
với lớp ( kể các khối 6, 7 hay 8.
+ Câu hỏi 6: “ Giáo viên có thường hay sử dụng các dụng cụ, mô hình,
tranh ảnh để tổ chức cho cả lớp thảo luận hay chơi trò chơi không ?”


25

Các em cho biết giáo viên rất ít khi sử dụng các dụng cụ hay đồ dùng
dạy học để tổ chức cho cả lớp thi theo nhóm hoặc chơi trò chơi.
+ Câu hỏi 7: “ Trong những tiết học môn Mỹ thuật bằng máy, các em
thấy có hiệu quả hơn không ? ”
Phần lớn các em đều cho rằng : học bằng cách dạy trên máy thì có
nhiều tranh ảnh để xem, được giáo viên giới thiệu qua các trang web để học
sinh tự tìm hiểu. Tuy nhiên, những hình ảnh đó các em không chứng kiến
được trực tiếp hoặc không được xem thầy vẽ hình trực tiếp lên bảng. Ngoài ra
ở một số bài giáo viên dã yêu cầu với học sinh khá cao như: phân cho mỗi
nhóm soạn một phần trong bài học trên phần mềm powerpoint sau đó trình
bày trên lớp.
+ “ Trong quá trình vẽ bài các em có thường hay vẽ theo những bức
tranh của giáo viên đưa ra không ? ”
Không

119
76,7 %
Thỉnh thoảng có.
31
20 %
Thường xuyên
5
3.3 %
Ý kiến khác:……………………………..
Qua thống kê này chúng ta nhận thấy, giáo cụ trực quan mà giáo viên
sử dụng có hiệu quả, không làm cho học sinh bắt chước vẽ theo. Chỉ một
phần nhỏ ( 20 % ) thỉnh thoảng có vẽ theo một vài bài, nhưng bên cạnh một
số ý kiến khác đã cho rằng các em đã biết cách dựa vào các bài vẽ, tranh ảnh
của giáo viên cho xem để từ đó làm cơ sở cho bài vẽ của mình.
+ Câu hỏi 8: Các em có thường xuyên được tham gia đánh giá bài vẽ của
mình và của bạn không ?
Mức độ
Số lượng
%

Thường xuyên
76
43,7

Thỉnh thoảng
98
56,3

Không
0

0


×