Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Đánh giá việc vận dụng nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước ở nước tahiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.64 KB, 11 trang )

MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU

1

I.

Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đơng đảo vào
quản
lý hành chính nhà nước
1. Cơ sở của nguyên tắc

1

2. Nội dung của nguyên tắc

2

3. Ý nghĩa của nguyên tắc

4

II.
Đánh giá việc vận dụng nguyên tắc nhân dân lao động
tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước ở nước ta
hiện nay

5


1. Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc trong quản lý hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay

5

2. Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc nhân
dân lao động tham gia vào quản lí hành chính nhà nước:

7

III. Một số biện pháp nhằm đảm bảo việc vận dụng hiệu quả
nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý
hành chính nhà nước hiện nay

8

1

C. KẾT LUẬN

9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

10

1


LỜI MỞ ĐẦU:

Nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước là một trong
những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại
Điều3 Hiến pháp 1992 “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm
chủ về mọi mặt của nhân dân”, điều này có nghĩa là quyền được tham gia vào quản
lý các công việc của Nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được Hiến
pháp ghi nhận. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành
chính nhà nước được xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước nói chung, đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động
quản lí hành chính.
I.

NGUN TẮC NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA ĐƠNG ĐẢO
VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC:
1. Cơ Sở Của Nguyên Tắc
a. Cơ sở thực tiễn:
Dân là gốc của nước, chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, đó là
chân lí của mọi thời đại. Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả của cuộc cách
mạng do nhân dân tiến hành, sự tồn tại của nhà nước xã hội chủ nghĩa là để phục vụ
nhân dân. Vì vậy, với đặc trưng khơng thể thiếu thuộc bản chất của nhà nước ta là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,
nhân dân phải được tham gia vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói
chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng. Chỉ khi nào người dân thực sự
đóng vai trị quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước thì việc xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới thực sự thành cơng. Chính vì vậy, việc bảo
đảm sự tham gia của nhân dân lao động vào quản lí hành chính nhà nước khơng chỉ
phát huy trí tuệ, sức lực của nhân dân mà còn là phương pháp hữu hiệu để ngăn
chặn tình trạng quan liêu, lạm quyền, độc đốn, thiếu trách nhiệm... từ đó xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Không những vậy, việc mở rộng hình thức tham gia của nhân dân vào hoạt

động quản lí nhà nước khơng chỉ địi hỏi từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ
chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời
sống xã hội và của bản thân Nhà nước. Mở rộng sự tham gia mạnh mẽ của người
dân vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước sẽ đóng góp
quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, ổn định chính trị,
phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay.
b. Cơ sở pháp lý:
Nhận thức được nguyên tắc trên là cần thiết, ngay từ đầu khi Nhà nước mới ra
đời, nguyên tắc đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp cũng như các văn bản
pháp luật khác.
2


Trước hết, nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001): “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Nhân dân thực hiện quyền lực của
mình dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp như: bầu các đại diện của mình vào
hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, trực tiếp làm việc tại các cơ quan nhà nước,
thảo luận, đóng góp ý kiến cho các dự án luật, các văn kiện nhà nước, tham gia
giám sát hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và đặc
biệt là thơng qua hình thức trưng cầu ý dân, nhân dân trực tiếp quyết định các công
việc quan trọng nhất của nhà nước.
Ngoài quy định tại Điều 2, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) còn quy định
nguyên tắc này tại các điều: Điều 3, Điều 6, Điều 11, Điều 53. Ví dụ như Điều 53
ghi nhận: “Cơng dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo
luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà
nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân”.
Bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước nói chung

và quản lý hành chính nhà nước nói riêng, ngồi những quy định tại Hiến Pháp
1992 cịn được ghi nhận tại những bộ luật: Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân
dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và ủy ban nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phịng, chống tham nhũng,
trong đó quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham
gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước như việc các đại biểu, các cơ quan nhà
nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân,
tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành,
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội...
Qua đó ta thấy, Nhà nước đã quy định khá cụ thể các hình thức, phương thức
tham gia của nhân dân trong việc quản lý hành chính nhà nước, đây chính là một cơ
sở pháp lí quan trọng để nhân dân lao động tham gia vào quản lí hành chính nhà
nước thực hiện quyền làm chủ của mình.
2. Nội Dung Của Nguyên Tắc
Nguyên tắc nhân dân tham gia đơng đảo vào hoạt động quản lí hành chính nhà
nước khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong quản lí hành chính nhà
nước, mặt khác cũng xác định những nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện trong
việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động tham gia vào quản lí
hành chính nhà nước.
Trong quản lí hành chính nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở những hình thức
nhân dân lao động tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đây là
những hình thức được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện bằng các phương
3


tiện của Nhà nước. Các hình thức tham gia vào quản lí hành chính nhà nước của
nhân dân lao động bao gồm:
a. Tham gia vào các hoạt động của các cơ quan nhà nước:
Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà
nước. Do đó, việc nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà

nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu quả trong quản lý hành
chính nhà nước. Người lao động nếu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật đều có thể
tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước, từ đó trực tiếp hay gián tiếp tham gia
vào cơng việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Nhân dân lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước
với tư cách là thành viên của cơ quan này, là những đại biểu được lựa chọn thông
qua bầu cử. Khi ở cương vị là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước, người
lao động trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của
từng địa phương trong đó có các vấn đề quản lý hành chính nhà nước. Bên cạnh đó,
nhân dân lao động có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác
(cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử) với tư cách là
những cán bộ, công chức. Khi ở cương vị là cán bộ công chức nhà nước thì nhân
dân sẽ sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp quyền lực nhà nước để tiến
hành những cơng việc khác nhau của quản lí hành chính nhà nước, thực hiện vai trò
người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, có điều kiện biến những ý chí, nguyện
vọng của mình thành hiện thực nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh.
- Ngồi ra, nhân dân lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các
cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng
đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương.
Ðây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý hành
chính nhà nước.
b. Tham gia vào các hoạt động của các tổ chức xã hội:
Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động có thể tham gia
tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước ban hành nhiều quy định
liên quan tới vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong quản lí
hành chính nhà nước, tạo những điều kiện về vật chất, tinh thần để các tổ chức xã
hội trở thành công cụ đắc lực của nhân dân lao động trong việc thực hiện quyền
tham gia vào quản lý hành chính nhà nước.
Thơng qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của
nhân dân lao động được phát huy. Ðây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối

với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
c. Tham gia vào các hoạt động tự quản ở cơ sở:
4


Ðây là hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện và chúng có mối
liên hệ chặt chẽ với các cơng việc khác nhau của quản lí nhà nước. Các hoạt động
tự quản này rất gần gũi và thiết thực đối với cuộc sống của người dân như hoạt
động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,...Những hoạt động này xảy ra ở nơi
cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang tính chất tự quản của nhân dân.
Thơng qua những hoạt động mang tính chất tự quản mà người dân lao động là
những chủ thể tham gia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội của người dân mà pháp luật đã quy định thực sự được tôn trọng và bảo đảm
thực hiện.
d. Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cơng dân trong quản lý
hành chính nhà nước:
Như đã trình bày ở trên, Ðiều 53 – Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001) quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia
thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực hiện. Để thực hiện
quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân
trong các lĩnh vực khác nhau của quản lí hành chính nhà nước. Những quyền, nghĩa
vụ này của cơng dân có thể thực hiện thơng qua hoạt động của các cơ quan nhà
nước, các tổ chức xã hội hoặc cũng có thể được chính người dân trực tiếp thực hiện.
Ví dụ như:
- Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước.
- Tham gia trực tiếp với tư cách là thành viên không chuyên trách trong hoạt
động cơ quan quản lý, các cơ quan xã hội.
- Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết
những vấn đề quan trọng của cơ quan...

Việc trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cơng dân trong quản lý
hành chính nhà nước là một hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao động
phát huy vai trò làm chủ của mình.
3. Ý Nghĩa Của Nguyên Tắc
Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đơng đảo vào quản lí hành chính nhà
nước được nhà nước ta thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Nguyên tắc này thể hiện
bản chất dân chủ sâu sắc giữ vai trò quan trọng và thiết yếu trong quản lý hành
chính nhà nước, là biện pháp thiết thực và cụ thể nhất nhằm đảm bảo bản chất của
nhà nước ta. Bằng hình thức trực tiếp hay gián tiếp, nhân dân lao động đều có
quyền tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước và được bảo đảm
quyền Hiến định đó. Nhân dân khơng chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của
cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện khiếu nại tố cáo nếu cho rằng cán bộ hành
chính nhà nước vi phạm quyền lợi của họ hoặc thực hiện không đúng đắn, mà cịn
có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trực tiếp thể hiện
5


quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Ðiều này này khẳng định vai trò hết sức
đặc biệt của nhân dân lao động trong quản lý hành chính nhà nước, đồng thời xác
định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều
kiện cơ bản để nhân dân lao động được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước.
Và quan trọng hơn cả đó chính là ngun tắc này chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó
được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Có thể mở rộng, tăng cường quyền của cơng
dân trong hoạt động quản lý, nhưng không được phép hạn chế, thu hẹp những gì mà
Hiến pháp đã quy định.
II. ĐÁNH GIÁ VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN LAO
ĐỘNG THAM GIA ĐƠNG ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà
nước ở nước ta hiện nay:

Thơng qua các chủ chương, chính sách cũng như các quy định của pháp luật
hiện hành, ta thấy rằng các phương thức, hình thức để người dân tham gia vào q
trình xây dựng luật pháp, chính sách, vào các cơng việc quản lý hành chính Nhà
nước đã được quy định rất đa dạng, phong phú. Nó cho phép người dân có thể biểu
đạt được ý chí, nguyện vọng của mình với các cơ quan nhà nước trong việc hình
thành nên các chính sách, pháp luật cũng như việc quyết định và thi hành pháp luật.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được từ sự thừa nhận, tôn trọng và thu hút
nhân dân lao động tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì sự tham
gia của người dân vào quá trình này vẫn cịn nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể như
sau:
a. Những mặt tích cực:
* Với các hình thức tham gia gián tiếp, nhân dân lao động sẽ không trực tiếp
thực hiện quyền làm chủ của mình mà thơng qua các cơ quan nhà nước hoặc các tổ
chức chính trị - xã hội. Như vậy, nhân dân có thể tham gia vào hoạt động quản lý
hành chính rộng rãi và hiệu quả hơn; trong hình thức nhân dân tham gia vào hoạt
động quản lý hành chính nhà nước thơng qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ
chức xã hội, xã hội nghề nghiệp mà họ là thành viên. Theo hình thức này, những
nguyện vọng, ý kiến của người dân được các tổ chức đó tập hợp lại để chuyển tới
các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét, giải quyết.
Hiện nay, trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội đã có những thay đổi trong tổ
chức và phương thức hoạt động, gắn chặt hơn với quần chúng, với các đoàn viên,
hội viên. Đồng thời, trong xã hội, những tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp cũng
được phát triển mạnh. Điều này đã tạo khả năng để nhân dân tham gia nhiều hơn
trong hoạt động quản lý hành chính, từ việc phản biện các chính sách, pháp luật của
Nhà nước, giám sát sự thực hiện của các cơ quan nhà nước và của công chức, cũng
6


như đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình cho các cơ quan nhà nước xem xét, thực

hiện. Với hình thức này, vai trò của nhân dân lao động được tăng cao và có ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.
* Với các hình thức tham gia trực tiếp, nhân dân lao động sẽ trực tiếp tham gia
vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trực tiếp biểu đạt nguyện vọng, mong
muốn của mình cũng như trực tiếp thực hiện nó trong phạm vi quyền hạn theo quy
định của pháp luật. Như vậy, đối với hình thức này, nguyện vọng của nhân dân
được thể hiện chính xác nhất, trực tiếp nhất, thơng qua đó nâng cao hiệu quả vận
dụng nguyên tắc này vào thực tiễn đời sống xã hội, phát huy được vai trò làm chủ
của nhân dân rõ ràng nhất. Hình thức này thể hiện rõ nhất vai trò làm chủ của nhân
dân lao động đối với Nhà nước, xã hội, bảo đảm được bản chất của nhà nước ta là
nhà nước của dân, do dân và vì dân.
b. Những mặt hạn chế:
* Với các hình thức tham gia gián tiếp, như đã trình bày ở trên, những người
lao động có thể gián tiếp tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông
qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ
quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay mối quan hệ giữa nhân dân lao động
và đại biểu mà họ bầu ra cịn có khoảng cách khá xa và chưa thật sự gắn bó, khiến
cho việc quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động chưa thực sự sự hiệu
quả.
Ngoài ra, việc thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện sự tham gia quản lý
của nhân dân bằng và thơng qua các cơ quan đại biểu vẫn cịn nhiều hạn chế. Ngoài
sự hạn chế kể trên, bản thân người dân, do trình độ nhận thức, nhất là trình độ pháp
lý, cũng chưa thấy hết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với việc tham gia
quản lý hành chính nhà nước, chưa làm hết sức mình khi tham gia quản lý nhà nước
ở hình thức này. Nó thể hiện ở sự bỏ phiếu lấy lệ, cho xong của nhiều người trong
các lần bầu cử...
* Với các hình thức tham gia trực tiếp, theo Hiến pháp quy định, nhân dân có
quyền quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước thông qua trưng cầu dân ý và
trực tiếp quyết định nhiều vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ sở. Tuy nhiên, đến
nay vấn đề trưng cầu dân ý vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả như mong đợi,

vẫn cịn mang nhiều tính hình thức. Nhiều địa phương, cán bộ chính quyền cơ sở
tập trung vào hoạt động xây dựng các hương ước, quy ước của dân, bắt dân chịu
nhiều quy định hơn là việc thực hiện công khai, xin ý kiến nhân dân về các việc làm
của chính quyền. Về phía người dân, do trình độ, do những mối quan hệ thân thiết
và do sự chưa nghiêm minh trong việc xử lý vi phạm của cán bộ nên họ cũng ít bày
tỏ chính kiến của mình, trừ khi các vấn đề đã trở nên q bức xúc. Chính điều này
đã khơng chỉ hạn chế quyền tham gia quản lý nhà nước của người dân, không huy
động được sức mạnh của nhân dân trong việc quản lý, phát triển kinh tế - xã hội của
7


địa phương mà còn là căn nguyên của sự xuất hiện các vụ khiếu kiện kéo dài,
những điểm nóng tại một số cơ sở.
Ngồi những hình thức nêu trên, người dân có thể tham gia ý kiến vào các văn
bản pháp luật khi được công bố hỏi ý kiến qua các phương tiện thơng tin đại chúng.
Tuy nhiên, hình thức này cũng gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Người dân ít có những
ý kiến đóng góp với chính quyền và các cơ quan nhà nước trừ khi có những vấn đề
bức xúc của bản thân. Khi có các văn bản xin ý kiến tham gia đóng góp đăng trên
các cơ quan báo chí cũng chỉ có số ít những người có ý kiến. Việc kiểm tra, giám
sát hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan và công chức nhà nước; thực hiện
khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà
nước của người dân cũng còn hạn chế.
2. Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc nhân dân lao
động tham gia vào quản lí hành chính nhà nước:
Thứ nhất, là từ nhận thức của xã hội, của những người quản lý hành chính.
Mặc dù hiện nay tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân đã được phổ biến trong xã hội, nhưng việc nhận thức đúng về
tư tưởng này vẫn còn khoảng cách. Những người quản lý vẫn còn thiếu tin tưởng ở
người dân, vẫn coi việc quản lý hành chính nhà nước là cơng việc riêng vốn có của
Nhà nước mà khơng phải là nhiệm vụ của chính nhân dân trong việc quản lý xã hội.

Ngược lại, chính người dân cũng coi đó chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước,
mà không phải là của mình. Vì lẽ đó, đã làm hạn chế sự tham gia rộng rãi của nhân
dân vào hoạt động quản lý nhà nước.
Thứ hai, những quy định pháp lý chưa đủ mạnh và rõ để các cơ quan nhà
nước, nhất là các cơ quan đại biểu phải thực hiện các nhiệm vụ mà nhân dân ủy
quyền và để nhân dân kiểm sốt sự ủy quyền của mình, cũng như để nhân dân tham
gia trực tiếp nhiều hơn vào các công việc của Nhà nước....
Thứ ba, ảnh hưởng của văn hóa hành chính cũ cịn khá nặng. Đã có một thời
gian dài ở Việt Nam, bộ máy nhà nước được xây dựng và hoạt động theo cơ chế tập
trung, bao cấp. Các cơ quan nhà nước được xây dựng theo một mô hình thống nhất
chung, đứng ra làm tất cả mọi việc cho nhân dân theo sự chỉ huy tập trung từ bên
trên và đã mang lại nhiều kết quả cho người dân, vì thế nhân dân tin tưởng vào Nhà
nước. Nhưng cũng từ thực tế đó, lâu dần đã hình thành nên tâm lý và văn hóa hành
chính mà theo đó, các cơ quan, công chức coi việc xây dựng luật pháp, chính sách,
quản lý hành chính nhà nước như là đặc quyền riêng của mình và vì thế các cơng
việc của Nhà nước ln khép kín, cịn nhân dân ỷ lại, coi đó là cơng việc của Nhà
nước, ít có quan tâm chung tới hoạt động của Nhà nước và các chính sách, nếu
khơng có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích cá nhân.
Thứ tư, trình độ dân trí, nhất là trình độ về pháp luật, của người dân cịn rất
hạn chế. Hiện nay không chỉ kiến thức pháp luật của người dân còn thấp mà sự
8


chấp hành, ý thức, tinh thần pháp luật của người dân khơng cao. Chính vì vậy, khi
tham gia vào các cơng việc quản lý hành chính nhà nước, người dân rất lúng túng.
Thứ năm, việc tổ chức các hình thức, phương thức tham gia của người dân
được các cơ quan nhà nước thực hiện cũng chưa thật sự khoa học. Nhiều văn bản
quy phạm pháp luật được tổ chức xin ý kiến của người dân chưa thật sự hướng vào
các đối tượng bị điều chỉnh. Việc tiếp thu giải quyết các vấn đề mà nhân dân nêu ra
chậm và luôn bị tránh, né làm giảm lịng tin và nhiệt tình của người dân.

Ngồi ra, cũng cịn một số ngun nhân khác ảnh hưởng đến sự tham gia của
nhân dân lao động vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước như: trình độ cơng
nghệ thơng tin, ...
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM ĐẢO BẢO VÀ CỦNG CỐ VIỆC VẬN
DỤNG HIỆU QUẢ NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA
ĐÔNG ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC HIỆN NAY:
Từ những nguyên nhân cụ thể nêu trên, chúng ta cần đề ra những biện pháp
nhằm đảm bảo vận dụng hiệu quả của nguyên tắc này vào quản lý hành chính nhà
nước. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, có cơ chế huy động người dân
tham gia vào q trình quản lý hành chính Nhà nước. Cần sửa đổi cơ chế bầu cử đại
biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sao cho những người được bầu phải gắn bó
với người dân, phản ánh được ý chí nguyện vọng của người dân, khơng cịn đại
diện chung chung, hình thức. Họ phải chịu sự giám sát của nhân dân, gắn trách
nhiệm, lợi ích với sự tín nhiệm của nhân dân, khi khơng hồn thành được vai trị đại
diện quyền lợi và nguyện vọng của cử tri bầu cho thì họ phải bị bãi miễn. Nói một
cách ngắn gọn, để sự tham gia quản lý hành chính nhà nước qua các cơ quan đại
diện của dân có hiệu quả, cần chuyển các đại biểu được bầu của dân sang chế độ
hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Tách bạch, khơng để vai trị lập pháp, đại biểu
nhân dân và vai trị hành chính do cùng một cá nhân thực hiện. Mở rộng hình thức
quyết định trực tiếp – trưng cầu dân ý, để tồn dân có quyền tham gia vào các công
việc trọng đại của đất nước, của địa phương, học tập các mơ hình trưng cầu dân ý
của một số quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả tham gia vào các hoạt động tham gia
vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cơng cuộc cải cách nền hành chính nhà nước. Đổi
mới cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước, mở rộng sự
công khai, minh bạch, tạo cơ hội để người dân nắm được các công việc của Nhà
nước để tham gia một cách chủ động, thiết thực, có hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước và của công chức trong việc tiếp thu các ý kiến và
nguyện vọng của nhân dân trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Thứ ba, tiếp tục mở rộng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở rộng
sự hình thành và tham gia của các hội, tổ chức phi chính phủ trong việc giải quyết
các nhu cầu của nhân dân và tích cực tham gia vào cơng tác quản lý nhà nước. Có
9


các cơ chế và phương thức để phát huy và tiếp nhận được các ý kiến phản biện của
nhân dân và của các tổ chức quần chúng.
Thứ tư, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền,
giáo dục và tổ chức tham gia của người dân đối với việc xây dựng chính sách, pháp
luật.
Thứ năm, tiếp tục có biện pháp giáo dục nâng cao kiến thức, trình độ, nhất là
ý thức chính trị, tinh thần pháp luật của người dân, làm cho người dân tự giác và có
ý thức hơn nữa trong việc tham gia vào các công việc xã hội và các hoạt động quản
lý nhà nước. Ngoài ra cần phải giáo dục người dân để sử dụng tốt hơn các phương
tiện thông tin đại chúng. Mở rộng việc sử dụng các báo điện tử trong việc tuyên
truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước và thu thập, phản ánh các ý kiến
đóng góp, tham gia của nhân dân.
KẾT LUẬN:
Nhân dân lao động tham gia đơng đảo vào quản lý hành chính nhà nước là
một nguyên tắc quản lí hành chính nhà nước khoa học, nhưng việc thực hiện đúng
đắn nội dung của nguyên tắc này là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và vô cùng
quan trọng. Ngày nay, nhân dân lao động tham gia vào QLHCNN càng ngày càng
đông đảo. Biểu hiện cụ thể của sự tham gia này là trong hoạt động của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội, các hoạt động tự quản ở cơ sở và thông qua việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Dù trực tiếp hay gián tiếp, dù dưới hình thức này
hay hình thức khác, có thể nói rằng việc vận dụng nguyên tắc nhân dân lao động
tham gia đông đảo vào QLHCNN trong QLHCNN ở nước ta hiện nay đang theo
chiều hướng tích cực. Chỉ có như vậy, bản chất ưu việt của chế độ mới được phát
huy, sức mạnh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới được thực thi và sức

sáng tạo của người dân mới được tơn trọng và giải phóng.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb.
Cơng an nhân dân, Hà Nội, 2008.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
4. Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam,
Nxb. ĐHQG, Hà Nội, 2005.
5. Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình luật hành chính và tài phán hành
chính, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2005.
6. Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006.
7. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
8. Hà Quang Ngọc, Hà Quang Trường, “Tăng cường sự tham gia của nhân dân
trong hoạt động quản lý nhà nước”, Tạp chí cộng sản, số 15/2007.

11



×