Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.94 KB, 19 trang )

MỤC LỤC
TRANG
LỜI NÓI ĐẦU

3

NỘI DUNG

3

I.
Tổng quan quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp

3

I.1.

Khái niệm cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp

3

I.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về cơ quan quyền
lực trong doanh nghiệp

3

II.
Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực
trong doanh nghiệp


4

II.1. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong
doanh nghiệp nhà nước

4

II.2. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong
Công ty TNHH 1 thành viên

5

II.3. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong
Công ty cổ phần

6

2.4. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong cơ
quan Công ty TNHH 2 thành viên

8

2.5. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong
Công ty hợp danh

10

2.6. Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong
doanh nghiệp tư nhân


11

III. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp ở Việt Nam

12

III.1. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Chủ sở hữu
trong doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH 1 thành viên

12

III.2. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội thành
viên trong Công ty TNHH 2 thành viên

14

III.3. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội đồng
cổ đông trong Công ty cổ phần

15

IV. Đánh giá về quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp và giải pháp tăng cường hiệu
quả thi hành

17

KẾT LUẬN


19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

20

1


LỜI NÓI ĐẦU
Mặc dù vấn đề quản trị doanh nghiệp là một vấn đề mới ở Việt Nam,
nhưng do nhận thức được ý nghĩa quan trọng của quản trị doanh nghiệp nên
trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã rất nỗ lực để ban hành được một khung
pháp lý cơ bản về quản trị công ty trên cơ sở vận dụng những thông lệ quốc tế
và đảm bảo phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Khuôn khổ pháp lý về quản trị
doanh nghiệp ở Việt Nam đã được quy định khá đầy đủ và trong Luật Doanh
nghiệp 2014. Tuy nhiên , trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang ngày càng
biến động cùng với sự phức tạp của môi trường kinh doanh, các quy định của
pháp luật về các cơ quan quản trị trong doanh nghiệp còn có nhiều hạn chế.
Chính vì vậy, nhóm xin chọn đề tài " Thực trạng thi hành các quy định pháp luật
về cơ quan quyền lực trong các doanh nghiệp ở Việt Nam" để có thể tìm hiểu rõ
hơn các quy định pháp luật về quản trị doanh nghiệp cũng như đưa ra các
phương hướng hoàn thiện.

NỘI DUNG
I. Tổng quan quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực
trong các doanh nghiệp
I.1. Khái niệm cơ quan quyền lực của doanh nghiệp:
Cơ quan quyền lực của doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc một
thiết chế do các thành viên của doanh nghiệp tham gia, bổ nhiệm (bầu ra) cơ

quan quản lý, cơ quan điều hành, cơ quan kiểm soát. Nó có những thẩm quyền
cao nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong doanh
nghiệp
Quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ,
quy tắc nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát doanh nghiệp. Quản trị doanh
nghiệp xử lý mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp
như các cổ đông, thành viên công ty, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều
hành, mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài doanh nghiệp: cơ quan
quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả cộng đồng, xã hội. Mối quan hệ
này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi
công ty đặt trụ sở. Sự sụp đổ của một số công ty lớn trên thế giới như Enron,
WorldCom… hay những vụ bê bối ở những doanh nghiệp nhà nước của Việt

2


Nam do hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ đều có nguyên nhân sâu xa từ
việc thực hiện quản trị doanh nghiệp không tốt.
Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường, việc tăng cường quản trị
doanh nghiệp có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan
trọng. Quản trị doanh nghiệp tốt giảm thiểu khả năng tổn thương trước các
khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí
vốn. Một khuôn khổ pháp lý về quản trị doanh nghiệp yếu kém sẽ làm giảm mức
độ tin tưởng của các nhà đầu tưvà không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài.
Ở nước ta ,hệ thống các quy định về quản trị doanh nghiệp được đề cập tại
nhiều văn bản quy phạm pháp luật; bao gồm các Luật và các văn bản hướng dẫn
thi hành. Trong đó, Luật Doanh nghiệp 2014 có vai trò trung tâm, chi phối hầu
hết vấn đề quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt
Nam.

Bên cạnh đó, các quy định quản trị doanh nghiệp đặc thù còn được quy
định căn cứ theolĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp (như: tín dụng, bảo hiểm,
chứng khoán, công chứng, luật sư…). Nhìn chung, các luật chuyên ngành
thường quy định dẫn chiếu để áp dụng khung pháp lývề quản trị theo quy định
của Luật Doanh nghiệp, đồng thời, có những quy định riêngvề vấn đề này.
Chẳng hạn, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định về tiêu chuẩn, điều
kiện đối với thành viên độc lậpcủa Hội đồng quản trị, hoặc Luật Kiểm toán độc
lập năm 2011 quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên kinh doanh dịch vụ
kiểm toán phải có ít nhất năm kiểm toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải
có hai thành viên góp vốn…
II. Các quy định của pháp luật về cơ quan quyền lực trong các doanh
nghiệp
2.1. Quy định của pháp luật về cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp
nhà nước
Với tư các cách chủ sở hữu, cổ đông hoặc thành viên, Nhà nước thường
trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành
viên) quyết định các vấn đề quan trọng sau của doanh nghiệp:
- Quyết định thành lập, tổ chức lại và định đoạt doanh nghiệp;
- Quyết định nội dung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ điều lệ công ty;
- Quyết định đầu tư vốn điều lệ; điều chỉnh, chuyển nhượng một phần hoặc
toàn bộ vốn điều lệ;
- Quyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư
phát triển;

3


- Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức các chức danh quản lý công ty;
- Phê duyệt chủ trương đầu tư, mua, bán tài sản và hợp đồng vay, cho vay;

- Quy định chế độ tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các
quỹ; phê duyệt báo cáo tài chính hàng năm;
- Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
- Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
Tuy nhiên, do DNNN được tổ chức dưới nhiều hình thức pháp lý, mối liên
kết và cấp quyết định thành lập khác nhau nên việc thực hiện chức năng của chủ
sở hữu nhà nước của cơ quan nhà nước trong thực tế hiện nay có sự khác biệt
theo loại hình DNNN. Điều 89 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về cơ cấu tổ
chức quản lý như sau : "Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý
doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn theo một
trong hai mô hình quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này"
2.2. Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong công ty TNHH 1
thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ
sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Chủ sở hữu công ty là tổ chức có các quyền sau đây:
a) Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
b) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của
công ty;
c) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi
nhiệm người quản lý công ty;
d) Quyết định dự án đầu tư phát triển;
đ) Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
e) Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công
ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong
báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty;
g) Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài

sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc
giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
h) Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc
toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
i) Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
k) Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty;

4


l) Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế
và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
m) Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
n) Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành
giải thể hoặc phá sản;
Chủ sở hữu công ty là cá nhân có các quyền sau đây:
a) Quyết định, nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
b) Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty,
c) Quyết định tăng vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn
điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
d) Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế
và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
đ) Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
e) Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành
giải thể hoặc phá sản;
Nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty
1. Góp đầy đủ và đúng hạn vốn điều lệ công ty.
2. Tuân thủ Điều lệ công ty.
3. Phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của
công ty. Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và

gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc.
4. Tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liên quan
trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khác giữa
công ty và chủ sở hữu công ty.
5. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng
một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp
rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức
khác thì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.
6. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh
toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
2.3.Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Công ty cổ phần
Công ty Cổ phần (CTCP) là một hình thức công ty hoàn thiện cả về mặt
vốn và tổ chức. CTCP có kết cấu chặt chẽ nhằm bảo vệ cao nhất quyền lợi các
cổ đông, tạo các điều kiện tốt nhất cho việc quản lý công ty dân chủ, có hiệu
quả. Các thiết chế trong công ty cổ phần bao gồm: đại hội đồng cổ đông, hội
đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc và các chức danh quản lý khác.
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền
biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP. CTCP có nhiều loại cổ
đông khác nhau, trong đó có cổ đông có quyền bầu cử và cổ đông không có

5


quyền bầu cử. Quyền bầu cử của cổ đông phụ thuộc vào số lượng cổ phần và
loại cổ phần họ sở hữu. CTCP có thể tự mình quy định trong điều lệ một tỷ lệ cổ
phần nhất định có một lá phiếu biểu quyết như 50 cổ phần được một lá phiếu
hoặc 100 cổ phần có một phiếu…Bên cạnh đó các cổ phần ưu đãi như ưu đãi cổ
tức, ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác mà cổ đông tự nguyện từ bỏ

quyền bầu cử để đổi lấy tỷ lệ lợi tức cao hơn thì cũng không có quyền bầu cử.
Là sự tập trung cao nhất ý chí, nguyện vọng của các cổ đông công ty-các
chủ sở hữu công ty, ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề quan trọng nhất
của công ty, các vấn đề mang tính cơ bản, lâu dài, định hướng. Điều 135 quy
định các quyền của ĐHĐCĐ bao gồm:
- Thông qua định hướng phát triển của công ty; Quyết định tổ chức
lại, giải thể công ty;
Đây là những vấn đề liên quan đến nền tảng của công ty, nên chỉ có
ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất mới có thẩm quyền này. Ở đây, có thể
thấy, việc Luật doanh nghiệp 2005 quy định ĐHĐCĐ có quyền quyết định định
hướng phát triển công ty mà không có một giới hạn cụ thể nào. Bởi định hướng
phát triển công ty có thể là chiến lược phát triển công ty, hoặc đơn giản chỉ là
định hướng thay đổi, thu hẹp, mở rộng ngành nghề kinh doanh, hay là thay đổi
mục tiêu kinh doanh…
Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được
quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;
Việc quyết định mức cổ tức hàng năm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
về vật chất của các cổ đông, do đó vấn đề này Luật doanh nghiệp 2014 trao thẩm
quyền cho ĐHĐCĐ với tư cách là cơ quan có quyền cao nhất trong công ty.
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát
viên; Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây
thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;
ĐHĐCĐ có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành
viên BKS; đồng thời có quyền xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, BKS
gây thiệt hại cho công ty và cổ đông.
- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn
35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công
ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;
Mặc dù đây là những vấn đề có tính chất quản lý (mang tính chất kinh
doanh đầu tư hoặc bán tài sản của công ty) nhưng với phạm vi đầu tư hoặc bán

này (hơn 35% tổng giá trị tài sản của công ty) có khả năng ảnh hưởng đến cơ
cấu tài chính và nền tảng chung của công ty, do đó quyết định này cần được
giành cho cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là ĐHĐCĐ.

6


- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Có thể nói trong toàn bộ văn kiện pháp lý (hồ sơ) thành lập công ty, thì bản
điều lệ với tư cách là “bộ luật riêng” của công ty đóng vai trò quan trọng nhất
trong toàn bộ quá trình tồn tại và hoạt động của công ty.
- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
Báo cáo tài chính hàng năm của công ty là văn bản phản ánh đầy đủ tình
trạng tài sản, tài chính cũng như kết quả kinh doanh của công ty và qua đó trở
thành cơ sở cho các quyết định của cổ đông, cũng như làm cơ sở để tính toán
thuế thu nhập của công ty.. Bên cạnh việc xem xét và thông qua báo cáo tài
chính, ĐHĐCĐ còn xem xét báo cáo đánh giá công tác quản lý và điều hành
công ty. Các báo cáo này là cơ sở để ĐHĐCĐ đánh giá hiệu quả quản lý điều
hành của HĐQT, GĐ/TGĐ công ty, quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm thành
viên HĐQT, GĐ/TGĐ, quyết định khen thưởng hay quy trách nhiệm vật chất
đối với các chức danh này.
- Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
ĐHĐCĐ có quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền
chào bán của từng loại, do đó khi công ty mua lại các cổ phần đã bán, dặc biệt là
khi mua lại với số lượng lớn (trên 10%) có khả năng ảnh hưởng đến cơ cấu vốn
điều lệ của công ty, do đó phải được chính ĐHĐCĐ quyết định việc mua lại.
Ngoài các quyền và nhiệm vụ kể trên, ĐHĐCĐ còn có các quyền và nhiệm
vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và điêu lệ công ty.
2.4.Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Công ty TNHH từ 2
Thành viên

Hội đồng thành viên gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất
của công ty. Thành viên là tổ chức chỉ định người đại diện theo uỷ quyền tham
gia Hội đồng thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể định kỳ họp Hội đồng
thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần.
Hội đồng thành viên có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của
công ty;
b) Quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương
thức huy động thêm vốn;
c) Quyết định dự án đầu tư phát triển của công ty;
d) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công
nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn
50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố
gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều
lệ công ty;

7


đ) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định
bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ
công ty;
e) Quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch Hội đồng
thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý
khác quy định tại Điều lệ công ty;
g) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sử dụng và phân chia
lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty;
h) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty;
i) Quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện;

k) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
l) Quyết định tổ chức lại công ty;
m) Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
n) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Trường hợp cá nhân là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn bị tạm
giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ
luật hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành
viên công ty.
Đứng đầu cơ quan quyết định cao nhất công ty TNHH hai thành viên, Chủ
tịch Hội đồng thành viên có những quyền và nghĩa vụ hết sức đặc trưng.
Cụ thể, Chủ tịch Hội đồng các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên;
b) Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên hoặc
để lấy ý kiến các thành viên;
c) Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy
ý kiến các thành viên;
d) Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội
đồng thành viên;
đ) Thay mặt Hội đồng thành viên ký các nghị quyết của Hội đồng thành
viên;
e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Nhiệm kỳ của Chủ tịch Hội đồng thành viên không quá 05 năm. Chủ tịch
Hội đồng thành viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
4. Trường hợp vắng mặt hoặc không đủ năng lực để thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình, thì Chủ tịch Hội đồng thành viên ủy quyền bằng văn bản cho
một thành viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng thành
viên theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp không có thành

8



viên được ủy quyền thì một trong số các thành viên Hội đồng thành viên triệu
tập họp các thành viên còn lại bầu một người trong số các thành viên tạm thời
thực hiện quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng thành viên theo nguyên tắc
đa số quá bán.
2.5. Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Công ty hợp danh
Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao
gồm tất cả các thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh
làm Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể triệu tập họp Hội đồng thành viên khi
xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp Chủ
tịch Hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp
danh thì thành viên đó triệu tập họp Hội đồng thành viên.
Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của
công ty theo nguyên tắc đa số (mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết
như nhau không phụ thuộc vào phần vốn góp). Nếu điều lệ công ty không quy
định thì khi quyết định những vấn đề quan trọng phải được ít nhất 3/4 tổng số
thành viên hợp danh chấp thuận như sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty, tiếp nhận
thành viên hợp danh mới, quyết định dự án đầu tư, quyết định thông qua báo cáo
tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng
thành viên, quyết định giải thể công ty, Quyết định việc vay và huy động vốn
dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của
công ty; Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ
của công ty,…. Khi quyết định những vấn đề khác không quan trọng thì chỉ cần
2/3 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Quyền tham gia biểu quyết của
thành viên góp vốn bị hạn chế hơn (chỉ là những vấn đề có liên quan trực tiếp
đến quyền và nghĩa vụ của họ).
Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều
hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành
viên hợp danh, trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ

có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.
Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh
phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.
Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công
việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.
Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh
doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp
hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận.

9


Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng
thành viên chỉ định thành viên được ủy quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó.
Chủ tịch Hội đồng thành viên các nhiệm vụ như:
a) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư
cách là thành viên hợp danh;
b) Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký các nghị quyết của Hội
đồng thành viên;
c) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh, giữa các thành viên hợp
danh;
d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn,
chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;
đ) Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho
công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp
thương mại hoặc các tranh chấp khác;
e) Các nghĩa vụ khác do Điều lệ công ty quy định.
2.6. Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Doanh nghiệp tư
nhân
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền

quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp
cũng như có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp.
Cụ thể như sau:
Nguốn vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp tư nhân xuất phát chủ yếu từ tài
sản của một cá nhân nên chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định các vấn đề
liên quan đến doanh nghiệp tư nhân như: Trong quá trình hoạt động, chủ doanh
nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp ( Khoản 3, Điều 184 LDN), Chủ doanh nghiệp tư
nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp (Khoản 1, Điều 185), cho thuê doanh nghiệp ( Điều 186), bán doanh
nghiệp ( Điều 187), Tạm ngừng kinh doanh giải thể doanh nghiệp tư nhân .; tự
mình tiến hành các hoạt động thương mại và thông qua những hành vi đó trực
tiếp làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa DNTN với các chủ thẻ khác cũng như
trước pháp luật. Đồng thời với tư cách là chủ sở hữu duy nhất của DNTN, Chủ
doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nên chủ doanh
nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh
nghiệp chủ doanh nghiệp ( Khoản 3 Điều 185) và chủ doanh nghiệp chịu toàn bộ
trách nhiệm vô hạn mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp tư nhân bằng tài sản của doanh nghiệp đó (khoản 1 Điều 183).

10


Về nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân, do nằm trong hệ thống các doanh
nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nên cũng phải tuyệt đối
tuân thủ các nghĩa vụ chung như: kinh doanh đúng ngành nghề đã ghi trong giấy
phép, bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn, bảo đảm nghĩa vụ thuế; ghi
chép sổ sách kế toán, quyết toán theo quy định, chịu sự kiểm tra của các cơ quan
tài chính là một nghĩa vụ thụ động của doanh nghiệp.

Khi thực hiện những quyền, nghĩa vụ của Doanh nghiệp thì cũng tức là
chủ doanh nghiệp tư nhân cũng đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với
tư cách là một chủ của doanh nghiệp mà không có sự tách bạch nào giữa chúng.
III.Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cơ quan quyền lực
trong doanh nghiệp ở Việt Nam
3.1. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về chủ sở hữu trong doanh
nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên
a. Doanh nghiệp tư nhân
* Thực trạng thi hành quyền cho thuê doanh nghiệp tư nhân
Cho thuê doanh nghiệp tức là chuyển giao quyền chiếm hữu và sử dụng
toàn bộ doanh nghiệp cho người khác trong một thời gian nhất định để thu một
khoản tiền nhất định gọi là tiền thuê. Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật chỉ qui
định việc cho thuê doanh nghiệp với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty nhà nước
mà thôi.
Vì thế, cần xác định chính xác phạm vi và ý nghĩa của thuật ngữ “toàn bộ
doanh nghiệp”. Có ý kiến cho rằng toàn bộ doanh nghiệp tức là mọi yếu tố gắn
liền với doanh nghiệp, bao gồm tài sản nợ, tài sản có, các mối quan hệ giao dịch
và cả uy tín, năng lực của chủ doanh nghiệp. Điều này không thể thực hiện được
trong thực tế. Do đó, nên hiểu cho thuê doanh nghiệp là cho thuê toàn bộ tài sản
trong doanh nghiệp, bao gồm tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy
móc, nguồn nhân lực, vốn, kể cả tư cách và những vấn đề liên quan đến thương
hiệu của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, việc thuê này vẫn chỉ dừng lại ở phần
“xác” của doanh nghiệp, chứ không thuê và sử dụng được “hồn” của doanh
nghiệp – tức khả năng, uy tín, trí tuệ của chủ doanh nghiệp.
Ví dụ khi ông A cho ông B thuê Doanh nghiệp tư nhân A, thì lúc này ông B
sẽ là người điều hành hoạt động của doanh nghiệp, chiếm hữu khai thác các tài
sản trong doanh nghiệp để hưởng lợi nhuận, chứ không thể thuê luôn cả ông A
chủ doanh nghiệp quản lý điều hành và toàn tâm toàn ý tuân thủ ý chí của ông B
để ông B hưởng lợi, còn chủ doanh nghiệp chỉ có một nguồn thu duy nhất từ
doanh nghiệp là tiền cho thuê doanh nghiệp.

* Thực trạng thi hành quyền bán doanh nghiệp tư nhân

11


Bán Doanh nghiệp tư nhân là chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp cho
người khác. Việc bán doanh nghiệp về thực chất là bán toàn bộ tài sản còn lại
trong doanh nghiệp, bởi vì về nguyên tắc, trước khi bán, Doanh nghiệp tư nhân
đã thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý hết các hợp đồng đã ký kết, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên có liên quan. Vì vậy, pháp luật qui
định sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ
trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận
khác.
Người mua doanh nghiệp có thể dùng khối tài sản này để mở rộng hoạt
động kinh doanh hiện có của mình, ví dụ như dùng cơ sở vật chất nhân lực đó
lập thành một chi nhánh mới của công ty, hoặc đăng ký kinh doanh dưới hình
thức công ty. Kể cả trong trường hợp người mua doanh nghiệp là một cá nhân
và tiến hành đăng ký kinh doanh lại dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân với
tên doanh nghiệp và toàn bộ cơ sở vật chất nhân lực giữ nguyên như cũ, thì
doanh nghiệp vừa được đăng ký kinh doanh này cũng là một Doanh nghiệp tư
nhân khác, vì các thuộc tính cơ bản của nó như cá nhân chủ sở hữu và khối tài
sản riêng của chủ để đảm bảo trách nhiệm cho doanh nghiệp là hoàn toàn khác.
b. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thứ nhất, hạn chế về quyền của chủ sở hữu công ty TNHHMTV: Điều 76
khoản 5 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định những hạn chế đối với chủ sỡ hữu
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên như sau:“Chủ sở hữu công ty chỉ
được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn
điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ
vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách

nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty”. Quy định này
nhằm ngăn chặn sự điều chuyển tài sản bằng quyết định hành chính trong các
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước. Đồng thời
làm thay đổi thói quen quản trị công ty theo mệnh lệnh hành chính trong các
công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn nhà nước.
Thứ hai, đối với mô hình công ty TNHHMTV do các nhân làm chủ sở hữu
thì: Chủ sở hữu công ty có thể đồng thời là Chủ tịch Công ty có quyền cao nhất
điều hành mọi hoạt động của Công t, bao gồm các quyền sau:
- Có thể thuê Giám đốc hoặc đồng thời là Giám đốc, người đại diện theo
pháp luật của Công ty. Quyền của chủ sở hữu:
- Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
- Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp, trừ trường
hợp Điều lệ công ty có quy định khác;

12


- Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ
chức, cá nhân khác;
- Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế
và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
- Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
- Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải
thể hoặc phá sản;
- Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Thứ ba, đối với mô hình công ty TNHHMTV do một tổ chức làm chủ sở
hữu thì: Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo uỷ
quyền với nhiệm kỳ không quá năm năm để thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Chủ
sở hữu công ty có quyền thay thế người đại diện theo uỷ quyền bất cứ khi nào.

- Trường hợp có ít nhất hai người được bổ nhiệm làm đại diện theo uỷ
quyền thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm Hội đồng thành viên,
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; trong trường hợp này, Hội
đồng thành viên gồm tất cả người đại diện theo uỷ quyền.
- Trường hợp một người được bổ nhiệm làm người đại diện theo uỷ quyền
thì người đó làm Chủ tịch công ty; trong trường hợp này cơ cấu tổ chức quản lý
của công ty bao gồm Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm
soát viên.
3.2. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội thành viên
(ĐHTV) của Công ty TNHH hai thành viên
Hiện nay thì đa số chủ tịch ĐHTV kiêm luôn giám đốc hoặc Tổng giám
đốc của công ty, như vậy thì làm cho cơ chế giữa cơ quan quyền lực và cơ quan
quản lý- điều hành bị lẫn lộn. Về lâu dài nên tách bạch giữa chủ tịch ĐHTV và
TGĐ với nhau, và TGĐ nên được thuê những người có chuyên môn về quản trị,
để thực thi nghị quyết của ĐHTV một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.
Hoạt động ra nghị quyết về huy động vốn của công ty TNHH 2 thành viên
trở lên khá hạn chế, do không được phát hành cổ phiếu như công ty cổ phần,
phát hành trái phiếu thì chỉ một số ít công ty làm được cho nên trên thực tế chủ
yếu là huy động từ các thành viên trong hội đồng. Nếu không tính những quy
định về cổ phần-cổ phiếu thì quy định về ĐHTV của công ty TNHH hai thành
viên trở lên và HĐQT công ty cổ phần là khá giống nhau, nên rất nhiều trường
hợp hoạt động quy mô lớn (lớn hơn 3 thành viên và vốn lớn) thì thường là họ
chọn hình thức công ty cổ phần, điều này dẫn tới các quy định về tổ chức công
ty TNHH trên thực tế không có sức hút đối với các DN lớn (do nằm giữa công
ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần).

13


Hoạt động ra quyết định về xác định chiến lược hàng năm, giải pháp thị

trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ, thông qua các hợp đồng có giá trị lớn
thực tế , dự án lớn nên quy định sẵn trong điều lệ công ty, ít khi triệu tập ĐHTV
để thông qua Hợp đồng, thực tế do công ty TNHH đăng ký vốn điều lệ thấp
nhưng nhận những hợp đồng có giá trị lớn hơn vốn điều lệ của công ty rất nhiều
lần với số lượng không nhỏ. Ngược lại cũng do vốn điều lệ thấp nên gần như
Hợp đồng nào về mua bán tài sản hay hoạt động thường ngày của công ty đa số
lớn hơn 50% vốn điều lệ nên không thể ĐHTV họp suốt ngày để thông qua được
Quy định về ĐHTV, chủ tịch ĐHTV với Giám đốc hay bị trùng và nhầm
lẫn lên nhau nhất là trong hoạt động điều hành hàng ngày, trong khi với công ty
vừa và nhỏ thì không có nhiều hoạt động đến mức như vậy.
Thủ tục phiên họp hiện nay quy định khá là rườm rà và phức tạp, song trên
thực tế thì họp thường gọi điện cho các thành viên đến địa điểm họp, có mẫu
biên bản họp thông qua điều khoản nào thì ghi vào biên bản mẫu rồi ký. Rất
nhiều trường hợp họp thông qua tin nhắn, email biên bản được thư ký-xe ôm
đưa đến nhà (hoặc gửi bưu điện) các thành viên ký vào là xong.
Không có quy định về ĐHTV bắt buộc phải tiêu chuẩn hóa các chức danh
tư TGD, hay kế toán trưởng..vv.. dẫn đến trên thực tế thì ai cũng có thể làm
chức danh TGĐ được, nhiều khi TGĐ là “nhờ đứng tên” nên DN lập ra cho
xong, để “buôn bán” hóa đơn, nhưng cuối cùng khi truy cứu trách nhiệm thì
không xử lý được ai. Hoặc một số ngành kinh doanh (không thuộc kinh doanh
có điều kiện) cũng không tiêu chuẩn hóa các chức danh trong công ty, dẫn tới
“hoạt động chuyên môn, chuyên ngành” rất nhiều thiết sót và sai.
3.3.Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội đồng cổ đông
trong Công ty cổ phần
Nhìn chung đa số các CTCP đều tuân thủ khá đầy đủ những quy định
của pháp luật về ĐHĐCĐ.
Theo đó, các ĐHĐCĐ tuân thủ khá tốt những quy định về quyền và nghĩa
vụ của mình, hạn chế tối đa sự lạm quyền sang các cơ quan khác; bên cạnh đó
việc tổ chức các cuộc họp ĐHĐCĐ được các CTCP tiến hành khá tốt.
Trên thực tế, ĐHĐCĐ của đại bộ phận (khoảng 96%) các CTCP thường

họp (thường niên) mỗi năm một lần. Một số khá lớn (khoảng từ 30 – 40%) tổ
chức họp ĐHĐCĐ mỗi quý một lần. Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ, đa số công
ty (khoảng 60%) nhìn chung tuân thủ đúng trình tự và thủ tục triệu tập họp
ĐHĐCĐ. Cuộc họp thường niên thường tập trung thảo luận và quyết định về ba
vấn đề sau: (1) Báo cáo hàng năm tổng kết tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh; (2) Báo cáo kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm tiếp theo; và (3) mức
cổ tức được chia. Ngoài ra, một số CTCP bầu HĐQT và Ban kiểm soát tại

14


ĐHĐCĐ thường niên. Như vậy, ĐHĐCĐ đã rất ít hoặc không bàn thảo và quyết
định về định hướng chiến lược phát triển công ty.
Trong phần lớn các CTCP (khoảng 85%), Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc
chuẩn bị chương trình, nội dung họp và tài liệu họp ĐHĐCĐ thường niên; và ở
số còn lại, Chủ tịch HĐQT, hoặc thành viên thường trực hoặc Giám đốc chuẩn
bị. Các cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ thường kéo dài nửa ngày (hơn 52%),
hoặc một ngày (khoảng 47%); số còn lại kéo dài hơn 1 ngày. Diễn biến cuộc họp
thường theo công thức định sẵn như sau: Thứ nhất, Chủ tịch HĐQT hoặc giám
đốc trình bày báo cáo đã chuẩn bị sẵn; Sau đó, Ban kiểm soát đọc báo cáo đánh
giá “thẩm tra” đã chuẩn bị sẵn từ trước; Cuối cùng là thảo luận và chất vấn. Tại
hầu hết các cuộc họp thường niên đều có chất vấn của cổ đông đối với HĐQT.
Tuy vậy, cũng tại các cuộc họp đó, chỉ có tại một số CTCP (gần 8%), quyết định
của ĐHĐCĐ có bổ sung thêm nội dung mới; còn lại, thông qua đúng những gì
do HĐQT và Ban kiểm soát báo cáo. Điều này chứng tỏ ảnh hưởng của các cổ
đông, nhất là cổ đông thiểu số, là không đáng kể đối với những quyết định đã
chuẩn bị trước của HĐQT.
Tuy nhiên, bên cạnh các CTCP tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp
luật về ĐHĐCĐ thì trên thực tế vẫn còn tồn tại các CTCP có sự vi phạm quy
định pháp luật về ĐHĐCĐ.

Những vi phạm chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau: Về họp ĐHĐCĐ,
vẫn còn những sai phạm về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hay về
nghị quyết của ĐHĐCĐ, không phải tất cả những nghị quyết của ĐHĐCĐ đều
tuân thủ quy định của pháp luật, do đó pháp luật doanh nghiệp 2014 đã có quy
định cụ thể về yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ và trên thực tế cũng có
nhiều nghị quyết đã bị hủy bỏ…Cụ thể:
Trong thực tiễn, TAND đã hủy nhiều quyết định của ĐHĐCĐ do CTCP
không thực hiện đầy đủ, triệt để các qui định về triệu tập và thể thức họp
ĐHĐCĐ. Chẳng hạn, trong vụ án về yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ tại
CTCP Vận tải hành khách Thanh Xuân, TAND TP. Hà Nội đã hủy quyết định
của ĐHĐCĐ vì cho rằng, trình tự họp và biểu quyết tại đại hội là sai Luật DN
2005 và Điều lệ công ty, trong đó có vi phạm về không phát thẻ biểu quyết và
thu thẻ theo qui định. Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội cũng đã sửa Bản
án sơ thẩm số 18/2007/KDTM-ST của TAND TP. Hải Phòng, hủy quyết định
của ĐHĐCĐ CTCP Sách Hải Phòng do không gửi tài liệu cuộc họp cho cổ đông
dự họp. Bản án số 04/2009/KDTM-ST của TAND tỉnh Quảng Bình cũng hủy
Quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Du lịch nước khoáng Cosevco do nhóm cổ đông
sở hữu 44,85% cổ phần lại đề cử năm ứng cử viên bầu HĐQT và cho giơ tay
biểu quyết thông qua quyết định. Bản án số 208/2008/KDTM-PT của Tòa Phúc
thẩm TAND tối cao tại Hà Nội hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Giống cây

15


trồng Hà Tây vì đã không bầu ban kiểm phiếu đúng theo Luật DN 2005, không
tiến hành biểu quyết từng vấn đề và thu từng thẻ biểu quyết theo Luật DN 2005,
sau khi bế mạc cuộc họp bảy ngày mới thông báo đính chính kết quả kiểm phiếu
cho cổ đông. Đây là những ví dụ thực tế về việc huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ.
IV. Đánh giá quy định pháp luật về cơ quan quyền lực của doanh
nghiệp ở nước ta và một số giải pháp tăng cường thi hành

Luật Doanh nghiệp 2014 mới có hiệu lực đã phát huy tốt vai trò trung tâm,
chi phối khung khổ pháp lý về quản trị doanh nghiệp nhưng việc trước đó có khá
nhiều văn bản quy định chuyên ngành đã gây khó khăn cho doanh nghiệp khi áp
dụng. Bên cạnh đó, một số quy định đặc thù về quản trị doanh nghiệp không phù
hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế (như:các loại hình doanh nghiệp theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, hay vấn đề
chuyển nhượng vốn của cổ đông sáng lập công ty chứng khoán theo quy định
của Luật Chứng khoán…). Do vậy, trong quá trình xây dựng Luật Doanh nghiệp
đã sửa đổi, nghiên cứu, đánh giá những đặc thù quản trị doanh nghiệp của các
luật chuyên ngành để có thể áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật đối với vấn
đề này.
Đối với những quy định hiện nay trong Luật Doanh nghiệp 2014, đã sửa
đổi hoặc bãi bỏ các nội dung không phù hợp (chẳng hạn: bãi bỏ quy định giám
đốc công ty cổ phần không được làm giám đốc công ty khác, bãi bỏ quy định
thành viên Ban kiểm soát phải trên 21 tuổi). Bên cạnh đó, hoàn thiện và bổ sung
các quy định mới về quản trị doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi hơn cho hoạt
động của doanh nghiệp như: giảm tỷ lệ tối thiểu để thông qua những quyết định
không thực sự quan trọng của doanh nghiệp theo nguyên tắc quá bán hoặc giảm
tỷ lệ tham dự họp tối thiểu đối với các công ty cổ phần có số lượng cổ đông
lớn…
Đối với vấn đề quản trị doanh nghiệp có sở hữu vốn của Nhà nước, Luật
Doanh nghiệp sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phân tách rõ chức
năng quản lý nhà nước và chức năng sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp,
thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả đối với những người đại diện phần vốn Nhà
nước, người quản lý doanh nghiệp nhằm hạn chế những giao dịch “tư lợi”, làm
thiệt hại đến “công lợi”.
Đối với công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2014 đã đưa ra một số quy
định cụ thể như sau: Giảm tỷ lệ dự họp Đại hội đồng cổ đông tối thiểu từ 65%
xuống 51%; giảm tỷ lệ biểu quyết tối thiểu của Đại hội đồng cổ đông tuỳ theo
vấn đề, từ 65% và 75% xuống 51% và 65%; bỏ quy định về nhiệm kỳ hội đồng

quản trị (5 năm), mà chỉ có nhiệm kỳ của thành viên hội đồng quản trị; bỏ việc
bắt buộc phải bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo phương

16


thức dồn phiếu (Điều 144, “Điều kiện để nghị quyết được thông qua”)… Với
những quy định của Luật doanh nghiệp 2014 mong rằng quyền lợi hợp pháp của
những cổ đông nhỏ sẽ được bảo vệ một cách tối đa trong thời gian tới khi áp
dụng trên thực tế.
Để cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp thi hành hiệu quả hơn, chúng tôi
đưa ra giải pháp như sau.
Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên, khung và
pháp luật cần quy định rõ hơn điều kiện chuẩn hóa năng lực, công cụ và bộ máy
thực hiện chức năng giám sát của chủ sở hữu DN. Cụ thể:
- Cách thức thực hiện giám sát, đánh giá của chủ sở hữu DN chủ yếu căn
cứ vào các báo cáo của DN mang tính thống kê hơn là báo cáo tình hình thực
hiện mục tiêu của chủ sở hữu, trong khi cơ chế xác định tính xác thực của các
báo cáo này còn bị bỏ ngỏ.
- Việc giám sát, đánh giá của chủ sở hữu DN chủ yếu căn cứ vào kết quả
thực hiện so với kế hoạch do các DN tự xây dựng và đăng ký nên chưa phản ánh
rõ được yêu cầu và đòi hỏi của chủ sở hữu DN đối với các DN, nhất là đối với
các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quy mô lơn và quan trọng. Hơn nữa, các chỉ
tiêu giám sát, đánh giá chủ yếu thiên về các chỉ tiêu tài chính mà chưa quan tâm
đúng mức đến đánh giá một số vấn đề quan trọng khác, như: Tình hình chấp
hành quyết định của chủ sở hữu DN, triển khai các dự án được phê duyệt,…
- Cơ chế giám sát hiện nay mới tập trung vào việc giám sát, đánh giá các
doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến giám sát quá trình thực thi chức năng chủ
sở hữu DN.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, do chưa có đủ căn cứ, tiêu chí để giám

sát, đánh giá những người giữ chức danh đại diện trực tiếp của cơ quan quyền
lực tại DNNN (gồm các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên,
kiểm soát viên,...) nên khó có thể đánh giá việc hoàn thành hay chưa hoàn thành
nhiệm vụ của từng thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, kiểm soát
viên, …để có những điều chỉnh kịp thời về công tác nhân sự.
Hiện nay việc thực thi trách nhiệm xây dựng, hình thành và quản lý hệ
thống cơ sở dữ liệu, thông tin về DN nói chung, tập đoàn kinh tế nói riêng để
phục vụ công tác giám sát, đánh giá còn hạn chế (thông tin thiếu và chưa cập
nhật, thiếu sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan gây lãng phí).

KẾT LUẬN
Cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp là cơ quan có thẩm quyền cao nhất
đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Chính vì vậy, việc hoàn thiện
quy định pháp luật về cơ quan này cần phải đảm bảo thể chế hóa được đường lối

17


của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới tổ chức và quản lý các loại hình
doanh nghiệp cũng như phải đảm bảo tính thống nhất và minh bạch của pháp
luật và cần phải được thực hiện đồng bộ với hoàn thiện pháp luật kinh tế nói
chung. Có như vậy mới có thể tạo ra được khung pháp lý thuận lợi giúp doanh
nghiệp có thể phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với việc thực
hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật doanh nghiệp năm 2014
2. Luật doanh nghiệp năm 2005
3. Các website:


18


/>/558/T%E1%BB%95ng-quan-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-v
%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-doanh
/> />px?ItemID=436

19



×