Tải bản đầy đủ (.docx) (68 trang)

Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện chợ mới tỉnh bắc kạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (324.64 KB, 68 trang )

Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề thực tập này, em nhận
được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, các anh chị và các
bạn.
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu trường
Đại học Kinh tế quốc dân, các thầy cô các khoa các bộ môn và đặc biệt là các thầy cô
trong khoa kế hoạch và phát triển đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình
hoàn thành chuyên đề thực tập.
Em cũng xin lời cảm ơn đến thầy giáo Th.S Bùi Trung Hải là giáo viên hướng
dẫn thực tập của em trong thời gian qua. Thầy đã tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ em
trong ba tháng vừa qua, nhưng chỉ bảo của thầy đã giúp em rất nhiều trong việc
hoàn thiện chuyên đề thực tập này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo của sở kế hoạch đầu tư tỉnh
Bắc Kạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơ hội thực tập tại đây. Cảm ơn các
anh chị, cô chú nhân viên tại cơ quan đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thu thập
tài liệu và chỉ bảo em trong thời gian qua.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã giúp đỡ, động viên
em rất nhiều trong thời gian hoàn thành chuyên đề thực tập.
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Đồng Diệu Linh

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

MSV: 11124831



Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Đồng Diệu Linh, sinh viên lớp Kinh tế phát triển 54A, khoa
kế hoạch và phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân.
Tôi xin cam đoan chuyên đề thực tập này là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, do tôi thực hiện dưới sự hương dẫn trực tiếp của thầy giáo Bùi Trung Hải. Mọi
số liệu, tài liệu tham khảo trong chuyên đề đều có trích dẫn nguồn cụ thể, đầy đủ.
Nếu phát hiện sự sao chép, vi phạm quy chế, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Đồng Diệu Linh

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

MỤC LỤC

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh


MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
được Đảng và nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát
khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.
Ở nước ta nông thôn chiếm gần 80% dân số, nếu chỉ tập trung công nghiệp
hóa ở đô thị, thì khó có thể đảm bảo công bằng xã hội. Hơn nữa cần quan niệm nông
thôn như một nguồn lực quan trọng và chính nông thôn là thị trường chủ yếu của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là môi trường bền vững cho cả nền kinh tế, khi đời
sống của bộ phận dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện và hơn nữa không
bị chênh lệch quá mức so với thành thị. Do vậy, cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

thôn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp để xóa dần khoảng cách thành thị và nông thôn,
miền xuôi và miền núi.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn phải chuyển dịch như thế nào cho phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay là một vấn đề đáng quan tâm. Nhà
nước ta đối với từng thời kỳ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn đồng thời
đưa ra những định hướng cho nông nghiệp Việt Nam phát triển trong tương lai –
tất cả những việc đó là nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu
nghiêm túc.
Cùng với xu hướng phát triển chung của toàn xã hội vấn đề đặt ra cho ngành
nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn là trong những năm tới là phải nghiên cứu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho thị trường. Việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo tiền đề cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của
tỉnh trong thời gian tới, xuất phát từ yêu cầu đổi mới em quyết định lựa chọn đề tài
thu hoạch thực tập tốt nghiệp:
“ Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện
Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn”
2. Mục tiêu của đề tài

Qua nghiên cứu các số liệu và thực tế của huyện Chợ Mới để đưa ra những
giải pháp khắc phục những khó khan đồng thời đưa ra những hành động cụ thể
nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý hơn. Rút ra những mặt đã đạt được, những
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

5

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập


GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

mặt chưa đạt được, những vấn đề cần giải quyết khắc phục. Trên cơ sở đó, đưa ra
những quan điểm, phương hướng, phương pháp, mục tiêu và các giải pháp quan
trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện theo hướng tích cực.
Từ đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân trong huyện nói riêng và
toàn tỉnh nói chung.
3. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợp trong đề tài: điều tra,
phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, duy vật biện chứng,… để có được bức tranh
toàn cảnh trong cơ cấu kinh tế huyện Chợ Mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tập trung nghiên cứu các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện
Chợ Mới trên 3 nội dung chủ yếu và xu hướng chuyển dịch của các nội dung này
trong quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên cơ
cấu kinh tế để làm rõ những tác động qua lại giữa các yếu tố.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu them về quá trình chuyển dịch cơ cấu, thực
trạng cũng như giải pháp của các tỉnh khác để rút ra bài học kinh nghiệm và vận
dụng tại huyện Chợ Mới.
5.

Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần: Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết
tắt, Phụ lục, bài viết bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở huyện Chợ Mới.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp nhằm chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Chợ Mới.

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

6

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẦU KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò, nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành với vị trí, tỷ trọng tương
ứng của mỗi bộ phận và quan hệ tương tác của mỗi bộ phận ấy trong quá trình
phát triển của nền sản xuất xã hội.
Theo C.Mác, cơ cấu kinh tế của toàn xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật
chất. Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu cần chú ý đến cả hai khía cạnh
chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của
những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh
vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ
tương đối ổn định hợp thành.
Cơ cấu kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Một cơ cấu hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối, hài hòa của nền kinh tế để sử
dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên,… Xem xét cơ cấu kinh tế là
xem xét cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất và mở rộng nền kinh tế thông
qua các mối quan hệ kinh tế. Đó là quan hệ về lượng và chất. Còn quá trình sản xuất
xã hội bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất tồn tại thích ứng với trình độ phát triển
nhất định của lực lượng sản xuất. Mối quan hệ kinh tế đó không riêng lẻ, tách rời
mà là những quan hệ của bộ phận kinh tế như: Quan hệ giữa các ngành kinh tế
(nông nghiệp – lâm nghiệp – dịch vụ), giữa các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
Cơ cấu kinh tế bao giừo cũng được biểu hiện trong những điều kiện về thời gian và
không gian nhất định, trong những điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội nhất định.
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

7

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Thích hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa phương hay mỗi
doanh nghiệp. Đồng thời cơ cấu kinh tế không tồn tại một cách cố định lâu dài mà
luôn có sự biến động và phải có những chuyển dịch cần thiết thích hợp với sự thay
đổi của những điều kiện trên. Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng
về cơ cấu kinh tế mà không dựa vào những biến đổi của điều kiện tự nhiên kinh tế
xã hội gây nên những thiệt hại lớn về kinh tế. Vì vậy, có nên biến đổi chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hay không và chuyển dịch nhanh hay chậm không thể dựa vào mong
muốn chủ quan, mà phải dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế như thế nào.
Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra những khái niệm về cơ cấu kinh tế

như sau:
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng tương
đối ổn định của các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong điều kiện thời gian và
không gian nhất định của nền kinh tế.”
1.1.1.2. Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng trong chiến lược sản phẩm hàng
hoá. Có thể nói quan niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ
gắn bó với nhau theo tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với mặt
chất. Chúng có tác động qua lại với nhau trong điều kiện không gian và thời gian
nhất định tạo thành một tổng thể kinh tế nông thôn, một bộ phận cấu thành không
thể thiếu của hệ thống kinh tế quốc dân.
“Cơ cấu kinh tế nông thôn là cấu trúc bên trong của kinh tế nông thôn. Nó
bao gồm các bộ phận cấu thành lên cơ cấu kinh tế nông thôn, các bộ phận đó có mối
quan hệ hữu cơ với nhau theo tỷ lệ nhất định về mặt số lượng, liên quan chặt chẽ về
mặt chất lượng, chúng tắc động qua lại lẫn nhau trong điều kiện thời gian và không
gian nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế nông thôn” (Theo: GT KTNNĐHKTQD-Nhà xuất bản TK)
Trong giai đoạn hiện nay việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngày
càng được quan tâm vì nó đem lại hiệu quả thiết thực cho nông dân. Nâng cao đời
sống của nông dân thông qua các chính sách chuyển dịch hiệu quả. Xu thế hiện nay
khi nước ta xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và thay vào đó là xây dựng cơ
chế kinh tế theo thị trường có sự định hướng của nhà nước thì vấn đề đáp ứng nhu
cầu của thị trường được đặt lên hàng đầu khi chuyển dịch có cấu kinh tế nông
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

8

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập


GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

nghiệp. Việc đáp ứng nhu cầu thị trường chính là đem lại thu nhập và nâng cao đời
sống nông dân đồng thời bảo đảm được an ninh lương thực, thực phẩm cho đất
nước cho giai đoạn tiếp theo.

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

9

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

1.1.2. Đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.2.1. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể hình thành trong một sáng, một chiều
mà mà trải qua một quá trình hình thành dài theo năm tháng. Ở mỗi giai đoạn khác
nhau, cơ cấu kinh tế lại có những đặc điểm khác nhau. Các đặc điểm này thể hiện rõ
qua phân tích cấu trúc bên trong của cơ cấu kinh tế.
Xã hội loài người càng phát triển thì phân công lao động càng cao, nhu cầu
của con người về sản phẩm để tiêu dùng ngày càng nhiều cả về số lượng, chủng loại,
mẫu mã và chất lượng tốt hơn. Chính sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi phải xác lập
cơ cấu kinh tế phù hợp hơn.
Ở mỗi vùng khác nhau có cơ cấu kinh tế mang đặc điểm khác nhau trong
cùng một thời gian nhất định. Sự khác nhau giữa các vùng này nhằm phát huy tối

đa các lợi thế của từng vùng trên cơ sở đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường. Các
khu vực có điều kiện tự nhiên khác nhau thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng khác
nhau vì nó cần phải thay đổi để phù hợp với khu vực đó. Vì vậy, không thể xây dựng
cơ cấu kinh tế nông nghiệp mẫu, chuẩn mực cho mọi vùng nông thôn.
1.1.2.2. Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, được hình thành do sự phát triển của
sản xuất.
Yếu tố khách quan trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp thể hiện ở chỗ nó được
hình thành trên các quy luật khách quan mà con người không thể biến đổi yếu tố
khách quan đó được. Nó được hình thành trong mối quan hệ giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất đều
được đánh dấu thông qua các đặc điểm bên trong cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế
mang tính khách quan nên con người khi tác động đến nó không được làm mất đi
tính khách quan vốn có của nó. Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia,
mỗi vùng mà xác lập được một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp trong từng giai
đoạn phát triển nhất định, không nên đưa ra một cơ cấu kinh tế bất biến cho mọi
vùng nông thôn.
1.1.2.3. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn vận động, biến đổi, phát triển theo hướng
ngày càng hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả.
Cơ cấu kinh tế không cứng nhắc mà luôn vận động, thay đổi theo xu thế của
thời đại và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế bao gồm tổng thể
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

10

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải


các quan hệ kinh tế các quan hệ này không ngừng vận động biến đổi theo hướng
tích cực để đạt hiệu quả như mục đích người quản lý. Cơ cấu kinh tế phản ánh trực
tiếp mối quan hệ của các yếu tố luôn vận động của lực lượng sản xuất dưới tác động
chi phối của các quy luật tự nhiên và sự vận động xã hội. Trong quản lý kinh tế
người ta không thể cứng nhắc rập khuân các cơ chế quản lý cũ, khi mà xu thế thay
đổi thì phương thức quản lý cũng phải thay đổi sao cho phù hợp với từng giai đoạn
nhất định. Không có một cơ cấu nào là bất di, bất dịch mà nó luôn vận động theo xu
hướng khách quan. Chúng ta cần phải tìm hiểu rõ cấu trúc bên trong và các tác
động qua lại giữa các nhân tố để xây dựng cách thức quản lý sao cho phù hợp và
hiệu quả.
1.1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tê nông nghiệp là một quá trình và cũng không thể
có một cơ cấu hoàn thiện, bất biến.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cơ cấu
kinh tế cũng không ngừng phát triển theo xu thế hợp lý hơn, hoàn thiện hơn để đáp
ứng nhu cầu của thị trường. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu
kinh tế mới nhanh hay chậm còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cả
nhân tố chủ quan lẫn khách quan. Để cơ cấu kinh tế phát huy hiệu quả thì cần phải
có một quá trình, một thời gian nhất định. Thời gian ấy dài hay ngắn còn phải tùy
thuộc vào đặc thù riêng của từng loại cơ cấu kinh tế.
Con người luôn mong muốn có một có cơ cấu kinh tế hoàn thiện nhưng mức
độ hoàn thiện sẽ khó có thể đạt được ở mức độ hoàn mỹ vì ngoài yếu tố chủ quan cơ
cấu kinh tế còn chịu tác động khách quan. Con người chỉ có thể nhận thức và nắm
bắt được các quy luật vận động khách quan để xây dựng một biện pháp đúng đắn
tác động để làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra đúng mục tiêu và
định hướng đã vạch ra.
1.1.3. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.3.1. Cơ cấu ngành và nội bộ ngành.
Cơ cấu ngành nông nghiệp biểu hiện mối quan hệ giữa trồng trọt và chăn
nuôi. Trong ngành trồng trọt có: cây lương thực và cây công nghiệp, cây thực phẩm

và cây ăn quả, cây lúa cây màu. Trong chăn nuôi như gia súc, gia cầm, giống vật
nuôi. Trong nuôi trồng thủy sản như: gia súc, gia cầm, giống vật nuôi. Trong nuôi
trồng thủy sản như: tôm, ba ba, cá. Trong lâm nghiệp trồng và bảo vệ rừng khai
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

11

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

thác nguyên liệu cho cây công nghiệp, dược liệu cho y học, đặc sản lâm nghiệp.
Xây dựng cơ cấu ngành hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển sẽ đem
lại hiệu quả cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nếu chúng ta
biết kết hợp hài hoà các yếu tố trong một nền kinh tế sẽ phát huy tối đa các lợi thế
sẵn có. Để giải quyết vấn đề đó cần phải thực hiện công tác phân công lao động giữa
các ngành cho phù hợp với yêu cầu khách quan.
Việc chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ ngành trong cơ cấu kinh tế nông
thôn là hướng tới một cơ cấu kinh tế hợp lý, hoàn thiện. Trong đó, cần quan tâm đến
các ngành chủ lực có lợi thế để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Qua đó
cần phân biệt sự khác nhau giữa nội bộ ngành nông nghiệp và phân biệt theo đặc
trưng kỹ thuật, kinh tế của chúng để tạo ra hệ thống phân công lao động phù hợp
với tiểu ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.3.2. Cơ cấu vùng lãnh thổ.
Nước ta có địa hình phức tạp với chiều dài dọc đất nước từ bắc vào nam hơn
2000 km điều đó đem lại cho đất nước ta có những đặc trưng khác hẳn so với các
nước khác do điều kiện tự nhiên giữa các vùng là không giống nhau. Xu thế chuyển

dịch cơ cấu vùng lãnh thổ chính là việc đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá
hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung có hiệu quả cao mở với các
vùng chuyên môn hoá khác, gắn cơ cấu của từng vùng, từng khu vực với kinh tế cả
nước.
Cơ cấu vùng lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất
trong vùng kinh tế. Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần phải xây
dựng các ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý để khai thác đầy đủ tiềm năng của mỗi
vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên những lợi thế so
sánh của vùng, đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, có đường giao
thông và công trình đô thị,…
Thông thường cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị và nông
thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng điểm, khu vực kinh tế đồng bằng và
miền núi,…
1.1.3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và
cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

12

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh
tế và cơ cấu vùng – lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ
giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ

giữa con người trong quá trình sản xuất trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ
sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Mô hình chung về số lượng thành phần kinh tế
trong nền kinh tế các nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế này thường không giống
nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.
Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu sản xuất là việc hoàn thiện cả ba loại cơ cấu
nói trên theo xu hướng chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm,
xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế hiện nay, các ngành kinh tế nói chung và
các ngành nông nghiệp nói riêng cũng có nhiều thay đổi về mặt: quản lý mô hình
sản xuất, tổ chức. Sự thay đổi đó chính là hoàn thiện dần cơ cấu các thành phần
kinh tế. Trong nông nghiệp cũng có sự đan xen giữa các thành phần kinh tế, giữa
các hợp tác xã và hộ xã viên. Với chủ trương phát triển mạnh kinh tế hộ và tập hợp
đa dạng của kinh tế hộ nông dân, tạo đà phát triển cho kinh tế nông nghiệp nói
riêng và kinh tế nông thôn nói chung.
1.1.4. Ý nghĩa cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển các ngành và thành
phần kinh tế trên vùng và lãnh thổ kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp lý là biểu hiện của nội
dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Các thành phần
kinh tế luôn đan xen hỗ trợ hoặc triệt tiêu nhau. Do vây, khi hoạch định các chính
sách các nhà quản lý cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh để có thể xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý phát huy được thế mạnh của vùng. Vì vậy, một cơ cấu kinh tế hợp
lý sẽ đáp ứng được những yêu cầu sau đây:
Một là: Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy
luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội nhất là quy luật kinh tế như : Quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất… Quy luật
của thị trường như : Quy luật cung cầu, quy luật giá trị,…
Hai là: Cơ cấu kinh tế hợp lý tạo điều kiện cho phát triển một nền sản xuất
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh


13

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

hàng hoá đa dạng, sức cạnh tranh cao phát huy được lợi thế so sánh, đồng thời áp
dụng khoa học tiến bộ vào sản xuất tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao, tạo
công ăn việc làm, ổn định kinh tế xã hội,…
Việc xây dựng được một có cấu kinh tế hợp lý chính là góp phần tăng trưởng
và phát triển kinh tế của từng địa phương. Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện
tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo. Trong xây dựng cơ cấu kinh tế cần nghiên cứu
kết hợp các nhân tố tích cực, tiêu cực để từ đó xây dựng cơ cấu hoàn chỉnh, điều
chỉnh hợp lý các mâu thuẫn đồng thời phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa
phương.
1.1.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.5.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng không phải
là bất biến mà sẽ luôn vận động phát triển và chuyển hoá cơ cấu kinh tế cũ sang cơ
cấu kinh tế mới ưu việt hơn. Mục đích của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
tạo ra một hệ thống các tiểu ngành mới trong ngành nông nghiệp phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vũng. Quá trình chuyển dịch từ cơ cấu kinh tế
cữ sang cơ cấu kinh tế mới nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có tác động của con người. Sự chuyển dịch này phải trải qua một thời gian và các
bước nhất định. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn vận động và thích ứng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động trong từng thời kỳ.

Như vậy: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm thay đổi
cấu trúc và mối quan hệ của hệ thống nông nghiệp theo một chủ định và định
hướng nhất định nghiã là đưa hệ thống kinh tế nông nghiệp đến trạng thái phát
triển tối ưu đạt hiệu quả như mong muốn, thông qua tác động điều khiển có ý thức,
định hướng của con người, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng các quy luật
khách quan”(Theo: GT KTPTNN – ĐHKTQD- NXBTHỐNG KÊ)
1.1.5.2. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Trong nếp sống của người dân vẫn còn tồn tại cách làm việc theo cơ chế bao
cấp từ xưa. Không thể thay đổi cách làm và cách nghĩ ngay được mà phải dần dần
từng bước thống qua các chính sách cụ thể. Cơ cấu kinh tế cũng còn mang nặng tính
tự cung tự cấp sản xuất hàng hóa còn ít và thiếu nhạy bén với thị trường. Muốn đưa
đất nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu thì cần xây dựng và chuyển
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

14

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

đổi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Vì nước ta với đại đa số người lao động là ở
khu vực nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinh tế
ngày càng cao cho các hộ nông dân là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Với nhu cấu ngày càng cao của người tiêu dùng về nông sản
hàng hoá, thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế cải
thiện đời sống nhân và ổn định về kinh tế xã hội

Chính vì vậy, cần coi trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
một vấn đề sống còn của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhất là thời kỳ đổi
mới khi đất nước ta bước vào sân chơi của WTO. Tham gia vào sân chơi bình đẳng
này thì cần phải đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp để phát huy được lợi thế cạnh
tranh, muốn cạnh tranh được ta phải có chính sách đồng bộ, hiệu quả. Từ đó khuyến
khích được người dân bỏ vốn ra đầu tư sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích của mình.
Cần đầu tư về cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường trạm,... để tạo điều kiện thu
hút các nhà đầu tư với nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
1.1.5.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Với thực tế là cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn lạc hậu cả
về đất đai, kỹ thuật canh tác, trình độ của người lao động,... Hơn nữa cơ sở hạ tầng,
vốn và thị trường cũng còn là những cản trở rất lớn vì vậy trong những năm tới
mục tiêu của tỉnh là đưa sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tích cực. Do đó chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp phải lấy thị trường làm gốc để điều tiết quá trình sản xuất của
mình. Quá trình sản xuất càng đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường bao nhiêu thì
càng có nhiều cơ hội để các mặt hàng nông sản của mình tiêu thụ bấy nhiêu. Bên
cạnh đó vấn đề đáp ứng được nhu cầu của thị trường chính là tạo điều kiện để nâng
cao giá trị kinh tế. Ngày nay thay vì tập trung vào lợi nhuận thì người sản xuất phải
tập trung làm sao thoả mãn nhu cầu của thị trường trên cơ sở sản xuất nhiều hàng
hoá. Càng thoả mãn được nhu cầu của thị trường thì càng thu được nhiều lợi
nhuận, đó là vấn đề xuyên suốt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của tỉnh sao cho phù hợp.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

15

MSV: 11124831



Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

1.2.1. Nhóm các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Cả hai ngành trên đều phải
có quá trình sinh trưởng và phát triển. Một trong những nhân tốc tác động mạnh
đến quá trình trên là điều kiện tự nhiên.
Nhóm nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu sản xuất ngành trồng trọt bao gồm: Vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ, điều kiện
đất đai, điều kiện khí hậu (thời tiết, nhiệt độ,…), nguồn tài nguyên của vùng lãnh thổ
(nguồn nước, rừng, khoáng sản,…). Vì đây là một trong những nhân tố có ảnh
hưởng lớn đến cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Do đó các
nhân tố tự nhiên tác động trực tiếp tới sự hình thành, vận động biến đổi của cơ cấu
kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên sự tác động và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới
nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp là không giống nhau.
Ở các vùng khác nhau, cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự khác nhau do tính đa
dạng và phong phú của điều kiện tự nhiên và sự phát triển không đồng đều của các
nguồn lực. Các vùng sẽ phát triển theo hướng tận dụng tối đa lợi thế so sánh của
vùng mình. Từ đó hình thành nên các vùng kinh tế trong đó có vùng kinh tế nông
thôn. Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cho đến thời điểm hiện nay đều xuất phát từ
sự khác biệt về điều kiện tự nhiên đó. Bởi vậy phải tích cực khai thác những lợi thế
trong tự nhiên và khắc phục những mặt hạn chế, có như thế mới hình thành một cơ
cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý trong các vùng, các quốc gia trên thế giới.
1.2.2. Nhóm nhân tố thuộc điều kiện kinh tế - xã hội
Có rất nhiều yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội có ảnh hưởng
tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong đó
phải kể đến các nhân tố cơ bản sau: thị trường, hệ thống chính sách, cơ sở hạ tầng,

nguồn lao động.
Thị trường (luôn là nhân tố quan trọng và tác động chủ yếu đến sự hình
thành và biến đổi cơ cấu): Là lĩnh vực trao đổi sản phẩm hàng hoá, dịch vụ theo một
giá cả nhất định và tại thời điểm nhất định thực hiện giá trị của sản phẩm. Thông
qua thị trường, người sản xuất sẽ trả lời câu hỏi: Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai?
Và sản xuất như thề nào? Nghĩa là chỉ sản xuất những gì thị trường cần. Thị trường
điều tiết sản xuất, người sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng phải
lựa chọn bố trí những cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

16

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Hệ thống chính sách: Nếu chỉ dưới tác động của thị trường thì cơ cấu kinh tế
nông nghiệp hình thành và vận động một cách tự phát, không tránh khỏi những rủi
ro lãng phí của các nguồn lực. Với chức năng của mình nhà nước phải ban hành các
chính sách kinh tế đồng bộ cùng với các công cụ quản lý để thúc đẩy việc hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo hướng có lợi nhất phù hợp với mục
tiêu và phương hướng đã đề ra.
Chức năng chủ yếu của kinh tế vĩ mô là tạo động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi
ích kinh tế cá nhân từ đó tiến hành hoạt động kinh tế phù hợp với định hướng của
nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở bản đảm các yếu tố thị trường phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm mục đích tạo điều kiện cho nền kinh tế
thị trường tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định.

Cơ sở hạ tầng : Là nhân tố quan trọng trong sự hình thành cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Khu vực nào có cơ sở hạ
tầng tốt thì sự chuyển dịch diễn ra nhanh chóng, hệ thống đường giao thông thuận
lợi cho công việc sản xuất, vận chuyển tiêu thụ sản phẩm, hệ thống tưới tiêu được
chủ động không gây ảnh hưởng đến sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc kịp thời,
thường xuyên sẽ giúp nông dân nắm bắt các yêu cầu của thị trường.
Nguồn lao động: Mọi quá trình sản xuất chung quy lại bao gồm ba thành
phần cơ bản: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động của con người trong
đó con người bằng hoạt động của mình sáng chế và sử dụng tư liệu lao động tác
động đối tượng lao động nhằm tạo ra nhiều sản phẩm tiêu dùng cho mình và cho xã
hội.
Lao động và trình độ của người lao động, người quản lý cũng là nhân tố ảnh
hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Với những vùng có mật độ
dân số đông, lao động dư thừa, song lại có trình độ khác nhau thì mục tiêu của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiêp phải gắn liền với giải quyết công ăn việc
làm, sử dụng hợp lý nguồn lao động thông qua việc khuyến khích người dân vay vốn
để mở rộng sản xuất, khôi phục các ngành nghề truyển thống có giá trị kinh tế cao.
1.2.3. Nhóm nhân tố về tổ chức và kỹ thuật
Nhóm nhân tố tổ chức kỹ thuật bao gồm: Các hình thức tổ chức sản xuất, sự
phát triển khoa học công nghệ và việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất…
Sự vận động, tồn tại và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông thôn được quyết
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

17

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập


GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông thôn là cơ sở
của sự hình thành và phát triển của ngành kinh tế. Các vùng kinh tế tồn tại và hoạt
động thông qua các hình thức tổ chức sản xuất trong nông thôn với các quy mô
tương ứng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành và
biến đổi kinh tế. Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, thì
việc ứng dụng các thành tựu của nó vào đời sống và sản xuất ngày càng nhiều và
hiệu quả, nhất là công nghệ sinh học đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng
tốt vào sản xuất. Thay thế dần lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc,
giải phóng sức lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Tiến bộ khoa
học công nghệ và ứng dụng của nó vào sản xuất một mặt xuất hiện nhiều nhu cầu
mới, tác động đến thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu của ngành này hay ngành
khác, làm thay đổi tốc độ phát triển và thay đổi mối tương quan tốc độ phát triển
giữa các ngành. Mặt khác, nó tạo khả năng mở rộng ngành nghề và tăng trưởng
các ngành sản xuất chuyên môn hoá cao và phát triển các ngành đòi hỏi có trình độ
công nghệ cao.
1.3. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở trong và ngoài nước
và kinh nghiệm đối với tỉnh Bắc Kạn
1.3.1. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở trong nước
+ Với huyện Từ Liêm – Hà Nội
Từ Liêm là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội với tổng diện tích
đất tự nhiên của huyện là 7.515 ha. Trong đó có 4.127 ha đất nông nghiệp, chất
lượng tốt thích hợp với nhiều loại cây trồng. Thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm nhiều mưa. Cơ cấu giá trị ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng
ngành trồng trọt giảm từ 76,5% ( năm 1990) xuống còn 72,25% ( năm 2000),
ngành chăn nuôi và thuỷ sản có xu hướng tăng lên.
Những năm qua nông nghiệp đã từng bước áp dụng khoa học công nghệ tiến
tiến, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất
trang trại. Giái trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất nông nghiệp ngày càng cao từ

48,5 triệu đồng ( năm 1990) lên 53,6 triệu đồng (năm 2000). Ngành trồng trọt phát
triển theo hướng xây dựng vành đai các loại cây thực phẩm, cây cảnh trở thành một
lĩnh vực sản xuất quan trọng của huyện. Tỷ trọng giá trị nhóm cây hoa tăng rất
mạnh, năm 1990 tỷ trọng chiếm 33%, năm 2000 đã là 44,2% đạt 26.875 triệu đồng
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

18

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

chiếm 48,43 giá trị hoa toàn thành phố.
1.3.2. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ngoài
+ Với Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước lớn có nhiều điểm tương đồng với nước ta, đang
dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm thông suốt của
Trung Quốc là coi trọng nông nghiệp trền cơ sở khai thác các lợi thế so sánh, coi sản
xuất lương thực là cơ sở của nông nghiệp. Hướng nền sản xuất đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Trung Quốc luôn đặt lương thực lên vị trí hàng đầu và tập trung bảo
đảm mọi mặt cho sản xuất nông nghiệp phát triển như: thuỷ lợi, giống, cơ sở hạ
tầng nông thôn… Đây là điểm cơ bản trong chính sách đối với sản xuất nông nghiệp
mà Trung Quốc đã thực hiện trong thời gian qua.
+ Với Thái Lan:
Thái Lan là một nước đất đai rộng màu mỡ, khí hậu nhiệt đới thích hợp với
sự phát triển các loại cây trồng. Thái Lan còn có cả đồng bằng châu thổ rộng lớn

thích hợp với trồng lúa và nuôi trồng thuỷ sản và cả cao nguyên, vùng núi phát triển
cây công nghiệp, cây ăn quả. Trước năm 1970 hệ canh tác hai vụ một năm ( 1 vụ lúa
nước, 1 vụ màu hoặc lúa cạn) là phổ biến. Đến năm 1971 vấn đề tăng vụ được nông
dân áp dụng một cách mạnh mẽ, tỷ lệ diện tích trồng 3 vụ trong năm tăng nhanh,
chiếm tới 68% và đến năm 1973 là 85%. Phát huy thế mạnh sẵn có, Thái Lan phát
triển mạnh sản xuất trồng trọt và xuất khẩu thuỷ sản theo hướng đa dạng hoá sản
phẩm, giảm bớt rủi ro trên thị trường. Hiện nay Thái Lan đang đứng đầu thế giới về
xuất khẩu gạo, đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu cao su, tôm sú, đứng thứ 3 về
xuất khẩu đường.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Chợ Mới
Ở mỗi nước hay mỗi địa phương đều có những đặc điểm và điều kiện riêng
vào những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Nhưng mỗi nước hay mỗi địa phương
đều coi trọng sản xuất nông nghiệp trong mỗi bước đi của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của mình. Trong quá trình đó mỗi nước, địa phương đã có bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy ở mỗi nơi có các phương thức tiến bộ và kết quả đạt được là khác nhau, song
việc vận dụng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

19

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Kạn phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm riêng của mình. Một số kinh
nghiệm có tính phổ biến, phù hợp với xu hướng chung của thời đại được vận dụng

là:
Huyện Từ Liêm đã chủ động đầu tư để hướng sản xuất mang tính hàng hoá
cao, tích cực khuyến khích để hình thành nhiều trang trại lớn, vừa và nhỏ. Mục đích
của việc hình thành trang trại này là khuyến khích người dân tập trung đầu tư sản
xuất để nâng cao tỷ suất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường thông qua các
cơ chế chính sách để hỗ trợ người dân về vốn, khoa học, các giống cây con mới,...
Bên cạnh đó huyện đã khuyến khích nhiều cách thức sản xuất mới có giá trị kinh tế
cao như việc chuyển đổi diện tích trồng hoa màu sang trồng hoa với giá trị kinh tế
cao hơn. Đó là những hướng đi đúng và bước đầu đã thu được nhiều kết quả đáng
khen ngợi.
Từ những thành công mà Trung Quốc và Thái Lan đạt được cho thấy Trung
Quốc và Thái Lan luôn coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm vừa giảm bớt rủi ro vừa tạo ra nhiều mặt
hàng nông sản cung cấp trên thị trường. Để quá trình sản xuất hàng hoá theo nhu
cầu của thị trường thì cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
nâng cao tỷ suất hàng hoá, hình thành nhiều vùng chuyên môn và chuyên canh trên
cơ sở phát huy tối đa lợi thế của từng vùng, từng khu vực. Cùng với nó là đầu tư về
cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, tích cực áp dụng và chuyển giao công nghệ mới,
giống mới có năng suất cao,… để tăng nhanh sản lượng nông nghiệp từ đó nâng cao
giá trị sản xuất nông nghiệp trên mỗi đơn vị diện tích. Hướng đi đó đã thu được rất
nhiều kết quả và là bài học lớn cho các nước như Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc
Kạn nói riêng.

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

20

MSV: 11124831



Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CHỢ MỚI
2.1. Tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện có
ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên 60.176,08ha, gồm 16 đơn vị hành
chính (15 xã và 01 thị trấn). Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc
Kạn 42km về phía nam và cách thủ đô Hà Nội 142km về phía Bắc.
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, là huyện cửa ngõ phía nam của
tỉnh Bắc Kạn:
-

Phía Đông giáp huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) và huyện Na Rì
Phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên)
Phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên)
Phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn
*Thuận lợi:
- Có vị trí địa lý tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên rất phát triển có nhiều lợi
thế trong việc trao đổi hàng hóa nông sản, thực phẩm sang tỉnh Thái Nguyên và
các tỉnh khác.
- Huyện có địa giới hành chính rộng, diện tích đất nông nghiệp lớn là điều
kiện để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
*Khó khăn:
- Là một huyện miền núi, có diện tích đất lớn nhưng trình độ thâm canh còn

thấp quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn vì người
dân canh tác vẫn theo thói quen là chính, chưa có ý thức được tầm quan trọng của
sản xuất hàng hóa
- Giao thông liên lạc vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, việc vận
chuyển hàng hóa sang các tỉnh, địa phương khác chi phí vẫn còn cao.
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Huyện Chợ Mới nằm trong khu vực thấp của tỉnh Bắc Kạn, độ cao trung bình
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

21

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

dưới 300m, có địa hình đồi xen kẽ núi thấp, nhiều thung lũng, sông suối. Độ dốc
trung bình từ 15 - 25˚, thuận lợi cho công tác lâm nghiệp kết hợp trồng cây ăn quả,
cây công nghiệp dài ngày.
Đường Quốc lộ 3 là con đường giao thông huyết mạch chạy dọc theo chiều
dài của huyện, đi qua 7 xã và thị trấn. Nhờ con đường này từ Chợ Mới có thể đi lại
dễ dàng về phía Nam xuống thủ đô Hà Nội, lên phía Bắc đến tận Cao Bằng. Ngoài ra
còn hệ thống đường liên xã tạo thành một mạng lưới giao thông của Chợ Mới luôn
gắn chặt với trục đường quan trọng ở Miền núi phía Bắc. Các tuyến giao thông đối
nội và đối ngoại quan trọng của huyện cũng là những trục giao thông chính của Bắc
Kạn và của nhiều tỉnh ở Trung Du, Miền núi phía Bắc. Đây là một thuận lợi lớn, góp
phần thúc đẩy giao lưu và phát triển kinh tế, khai thác các thế mạnh của huyện, đặc
biệt là nguồn lợi từ rừng và tài nguyên du lịch.

*Thuận lợi:
- Do có con song Cầu chảy quanh đồng thời là con sông lớn nhất tỉnh Bắc
Kạn nên thuận lợi cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, …
- Địa hình gồm 3 vùng rõ rệt là vùng đồi núi, vùng trũng, vùng đồng bằng là
điều kiện thuận lợi cho quá trình tập trung sản xuất hàng hóa theo từng vùng, từng
loại cây trồng khác nhau.
- Đất có thành phần cơ giới và kết cấu tốt là nhân tố quyết định đến đa dạng
hóa cây trồng, tạo điều kiện tăng năng suất cây trồng.
*Khó khăn
- Ruộng đất bậc thang dễ bị rửa trôi, khô hạn vào mùa đông, ngập úng vào
mùa mưa ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng.
- Ruộng đất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ khả năng áp dụng khoa học công nghệ
vào sản xuất là khó khăn.
- Người dân vẫn còn chậm trong việc dồn điền đổi thửa, thiếu tính quy hoạch,
chưa chú ý nghiên cứu thị trường nên việc sản xuất không theo định hướng không
có kế hoạch dẫn đến hiện tượng thừa hoặc thiếu sản phẩm cung cấp trên thị
trường.
2.1.1.3. Khí hậu
Huyện Chợ mới có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá theo
độ cao của địa hình và hướng núi. Nhiệt độ trung bình trong năm là 21˚C. Các tháng
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

22

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải


có nhiệt độ trung bình cao nhất là 3 tháng 6, 7 và 8 (27˚C – 27,5˚C), các tháng có
nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (14-14,5˚C). Tổng tích nhiệt bình quân năm
là 7.850˚C. Mặc dù nhiệt độ còn bị phân hóa theo độ cao và hướng núi nhưng không
đáng kể.
*Thuận lợi :
- Có lượng mưa nhiều là điều kiện để cây trồng có thể sinh trưởng và phát
triển tốt, nhất là vào những tháng như 6,7,8 trong năm.
- Có 4 mùa rõ rệt trong năm là điều kiện để người dân sản xuất các loại rau
phục vụ vào mùa đông, tạo điều kiện để sản xuất rau sạch cung cấp cho địa bàn
trong và ngoài tỉnh.
- Nhiệt độ trung bình từ 23- 24oc là điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu cây
trồng đạt kết quả cao vì ở nhiệt độ đó thì cây trồng có điều kiện sinh trưởng và phát
triển tốt.
*Khó khăn :
- Do lưu lượng nước lớn nên vào mùa mưa thường dễ xảy ra ngập úng cục
bộ gây mất mùa khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
- Trên địa bàn luôn luôn có 2 hướng gió thổi vào nên dễ tàn phá hoa màu của
nông nghiệp.
2.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
Đất: Huyện Chợ Mới có nhiều loại đất khác nhau. Đất nâu đỏ phát triển trên
đá phiến sét, diện tích tương đối lớn, thích hợp cho phát triển các cây công nghiệp
như chè, hồi, quế. Đất nâu vàng phát triển trên đá sa thạch, đá lẫn chiếm tỷ lệ cao,
mỏng có thể phục vụ cho phát triển lâm nghiệp. Đất bồi tụ độ mùn cao, giàu dinh
dưỡng, phân bổ dọc theo sông ngòi , khe suối thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.
Nhìn chung, phần lớn diện tích đất Chợ Mới có độ cao từ 40 – 300m, thích
hợp cho nhiều loại cây nông lâm nghiệp. Cây trồng rừng thích hợp là các loại cây
mỡ, keo tai tượng, bồ đề,… Trong diện tích đất chưa sử dụng có tới 20 – 25% là đất
trống đồi núi trọc, còn có thể sử dụng để trồng rừng. Những năm qua, đất chưa sử
dụng được khai thác đáng kể, bình quân 11% mỗi năm, trong khi đó đất nông

nghiệp tăng bình quân 4,4%/năm, phi nông nghiệp tăng 7,2%/năm. Cùng với khí
hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, đất đai trong huyện là điều kiện
thuận lợi để phát triển nông – lâm nghiệp, xây dựng các vùng chuyên canh nông sản
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

23

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

hàng hóa.
Rừng: Tổng diện tích đất rừng năm 2005 có 46.678,6ha chiếm 77% diện tích
đất tự nhiên của toàn huyện. Trong đó chủ yếu là đất rừng tự nhiên, rừng trồng có
14.700ha chiếm 24% diện tích lâm nghiệp của huyện. Năm 2005 độ che phủ đạt tới
60% diện tích rừng. Chợ Mới cũng là huyện có diện tích rừng trồng lớn nhất, chiếm
25% diện tích rừng trồng của toàn tỉnh. Các loại cây trồng chính gồm: mỡ, thông,
keo, bồ đề,…
Để phát triển quỹ rừng, được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh và các tổ chức Quốc
tế, huyện Chợ Mới đã triển khai nhiều dự án, chương trình. Trong đó, dự án 147, chương
trình 135, dự án 327, dự án PAM 5322,… được triển khai đã nâng độ che phủ lên đáng kể.
Đặc biệt, trong quy hoạch phát triển Khu công nghiệp Thanh Bình, huyện Chợ Mới có
điều kiện phát triển thế mạng nông lâm nghiệp cho công nghiệp chế biến gỗ.
Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng.
Trong long đất khá giàu các kim loại màu, kim loại đen, vật liệu xây dựng. Đây là
một trong những thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp
khai khoáng nói riêng.

*Thuận lợi:
Điều kiện tự nhiên là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh
Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng.
-

Huyện Chợ Mới có điều kiện khai thác khoáng sản tương đối thuận lợi, nguồn tìa
nguyên khoáng sản khá phong phú, đảm báo cho sản xuất ổn định với quy mô tương
đối lớn, trong một thời gian dài. Chi phí cho sản xuất nông nghiệp tương đối thấp

-

do có đất khá tốt và tưới tiêu tự chảy, cây trồng sinh trưởng nhanh.
Có điều kiện phát triển các vùng chuyên canh mía, cây ăn quả,… cung cấp nguyên
liệu ổn định cho công nghiệp chế biến tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

-

thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hiệu quả đầu tư cao, do đất đai còn rộng có thể xây dựng các khu, cụm công nghiệp
với chi phí đền bù thấp hoặc có thể phát triển công nghiệp chế biến lâm sản từ rừng
nguyên liệu hiện có, tiết kiệm được chi phí cho phát triển vùng nguyên liệu. Tương
tự có thể chế biến thịt trâu, bò sử dụng sản phẩm chăn nuôi hiện có, mà không cần

-

chi phí cho phát triển tổng đàn.
Có điều kiện thuận lợi để khai thác du lịch, kết hợp giữa du lịch sinh thái với du lịch
văn hóa lịch sử.
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh


24

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

*Khó khăn:
-

Huyện Chợ Mới nằm xa các cửa khẩu, bến cảng, xa các trung tâm kinh tế lớn của
nhà nước như Hà Nội, Hải Phòng,… nên việc cung cấp thông tin, công nghệ tiên tiến,

-

thu hút vốn gặp khó khan.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm khó ổn định, sức mua của dân cư thấp. Việc giao lưu,
trao đổi hàng hóa với bên ngoài phải bằng đường bộ hoặc đường sông với chi phí

-

vận chuyển lớn.
Việc hợp tác liên doanh kêu gọi vốn nước ngoài gặp phải những khó khan nhất định.
Những yếu tố bất lợi của thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt luôn là mối đe dọa cho sản

-

xuất và đời sống.

Kết cấu hạ tầng đường giao thông, điện, nước,… còn nhiều hạn chế là một trở ngại
lớn cho phát triển kinh tế.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Dân số và lao động.
Dân số và lao động đang là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện
nay. Đặc biệt do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và lạm phát đang ngày một tăng, do đó,
vấn đề giảm tỷ lệ sinh giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người dân đang là vấn
đề cấp bách hiện nay.
Bảng 1: Dân số và lao động của huyện chợ mới
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Chỉ tiêu
Tổng dân số
Tổng lao động
Lao động nông nghiệp
Tỷ lệ sinh
Tỷ lệ tăng tự nhiên
Mật độ dân số

ĐVT
2010
2011
2012
Người
219871

226839
230796
Người
212653
218896
222502
Người
147865
152654
167612
%
1,41
1,45
1,51
%
1,12
1,09
1,11
Người/km
649
671
683
2
Nguồn: Phòng tổng hợp sở kế hoạch đầu tư Bắc Kạn

Số liệu thống kê các năm cho thấy dân số nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng. Cụ
thể, năm 2010 có 212653 người tới năm 2011 tăng lên 222502 người. Do đó lao
động trong nông nghiệp cũng tăng từ 147865 người (năm 2010) đến 166712 người
(năm 2012). Đây là khó khăn của huyện trong thời gian tới vì sẽ dư thừa lao động
trong nông nghiệp. Mặt khác tỷ lệ sinh ngày càng cao với 1,41 (năm 2010) lên 1,51

(năm 2012) làm gia tăng dân số rất nhanh. Kéo theo đó là hiện tượng dư thừa lao
động trong nông nghiệp vì ở địa bàn huyện không có khu công nghiệp để lao động
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

25

MSV: 11124831


×