Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của Cóc Vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở xã Giao Lạc Giao Thủy Nam Định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.07 MB, 100 trang )

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Rừng ngập mặn (RNM) (Mangrove) là một hệ sinh thái phong phú và đa
dạng, có năng suất cao, ở vùng cửa sông ven biển. Ở các nước nhiệt đới, nơi có
khí hậu nóng ẩm, đất ngập nước thường xuyên, giàu mùn, phù sa và chịu ảnh
hưởng của thủy triều lên xuống hàng ngày, rừng phát triển mạnh mẽ vào có ý
nghĩa vô cùng quan trọng cả về môi trường lẫn kinh tế. RNM không chỉ là nguồn
cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi, dược liệu, tanin...mà còn là
nguồn thức ăn, là nơi sống, nơi sinh sản của nhiều loài động vật: tôm, cua, chim
nước, ong...RNM còn là nơi du lịch sinh thái có tiềm năng lớn, góp phần phát
triển kinh tế- xã hội.
Bản thân cây rừng ngập mặn đã là một trong các dạng tài nguyên thiên nhiên
có khả năng tái tạo, với sự quần tụ của bao loài sinh vật khác, từ những loài
động vật không xương sống kích thước nhỏ đến những loài động vật có xương
sống kích thước lớn, từ những loài sống trong nước biển đến những sinh vật sống
trên cạn. Điều đó nói lên rằng, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung
cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần
thể sinh vật ven cửa sông ven biển, nơi " ương ấp" những cơ thể non của nhiều
loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Mohamed & Rao, 1971;
Frusher, 1983) [38].
Rừng ngập mặn là " bức tường xanh" có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ
biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn
chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều, đồng ruộng nơi sống của người dân ven
biển trước sự tàn phá của gió bão, nước biển dâng.
Từ những năm 1960 người ta đã công nhận vai trò hết sức quan trọng của
RNM đóng góp vào năng suất vùng cửa sông, ven biển, một trong hệ sinh thái có
năng suất sinh học cao nhất. Những chỉ tiêu về sinh khối và năng suất sơ cấp


RNM nói lên vai trò quan trọng của sinh vật sản xuất trong lưới thức và chuỗi
thức ăn vùng cửa sông ven biển thông qua dòng năng lượng xác hữu cơ thực vật,
Khóa luận tốt nghiệp

1

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

đặc biệt là chức năng của RNM liên quan đến tài nguyên thủy sản (Sơ đồ chức
năng của RNM liên quan đến tài nguyên thủy sản, theo Kapetsky, theo Phan
Nguyên Hồng ( 1986) [11]).
Tuy nhiên ở nhiều nước nhiệt đới, hàng năm RNM bị chặt phá khoảng 1%, chủ
yếu do khai thác quá mức, đô thị hóa, công nghiệp hóa...( Nora, F.Y.T và cs,
2000) ,( theo Đ.V. Tấn, 2003) [24].
Cũng nằm trong tình trạng chung đó, một phần RNM Việt Nam đã bị chặt
phá làm đầm nuôi tôm và nguy cơ mất rừng là rất lớn, vào khoảng gần 20% mỗi
năm ( Trần Văn Ba, 2003), ( theo Đào Văn Tấn, 2003) [24]. Theo số liệu của Bộ
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cho thấy, năm 1943 diện tích RNM của Việt
Nam là trên 400.000 ha, đến năm 1996 còn 290.000 ha và 270.000 ha vào năm
2006 [39]. Những năm gần đây các địa phương đã có nhiều cố gắng trồng và
khôi phục lại RNM và đã đạt được một diện tích đáng kể. Rừng ngập mặn được
khôi phục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và cân bằng sinh
thái. Tuy nhiên RNM ở miền Bắc nước ta vẫn còn kém đa dạng về tổ thành. Các
loài cây được trồng chủ yếu là trang ( Kandelia candel (L) Druce, đâng
(Rhizophora stylosa BL.), vẹt dù ( Bruguiera gymnorrhiza (L) Lam), bần chua (

Sonneratia caseolaris(L) Engl ).. trong đó có trang là loài được trồng chủ yếu. Vì
vậy có những nghiên cứu không chỉ nâng cao chất lượng rừng mà còn tăng đa
dạng rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam. Từ lâu người ta đã thấy rằng RNM ở
miền Bắc nghèo nàn và cằn cỗi hơn ở niềm Nam Việt Nam là vì miền Bắc mùa
đông lạnh nhiều ( Phan Nguyên Hồng (1997) [5] . Những nghiên cứu về đặc
điểm sinh thái, phân bố của hệ thực vật và thảm thực vật ven biển miền Bắc Việt
Nam cho thấy khí hậu chỉ là một nhân tố có tác động đến tích chất và sự phân bố
của cây ở đây. Vì vậy để làm tăng đa dạng rừng ngập mặn miền Bắc cần phải
nghiên cứu sự thích nghi của cây ngập mặn với điều kiện sinh thái nơi đây, đặc
biệt là thích hợp với yếu tố đất.
Trong điều kiện hiện nay, Trái Đất ấm dần lên, hiện tượng nước biển dâng
cao làm cho diện tích đất nhiễm mặn gia tăng thì cây ngập mặn, loài cây thích
nghi với môi trường đất lầy mặn được xem như nguồn gen chịu mặn quý, giúp
Khóa luận tốt nghiệp

2

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cải tạo đất lầy. Trong đó, Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa Willd.) được xem là
một trong các loài cây ngập mặn như vậy. Cóc Vàng

( Lumnitzare racemosa

Willd.) phân bố chủ yếu ở các cây rừng ngập mặn trong miền Nam, Phan Nguyên

Hồng (1990) cho rằng loài Cóc Vàng là loài chịu được độ mặn cao trung bình từ
15-30‰. Về tần suất ngập triều và độ thành thục đất thì loài

Lumnitzare

racemosa Willd. phân bố ở mức ngập triều từ 3,5m ( Phan Nguyên Hồng " Vai
trò của rừng ngập mặn Việt Nam- Kỹ thuật trồng rừng" (1997) [4] , trên vùng đất
bán thuần thục đến gần thuần thục. ( Quần xã Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa
Willd.), Dà vôi ( C.tagal) thường xuyên mọc trên bãi bồi cao, đất tương đối chặt,
và ngập nước triều không thường xuyên).
Có nghĩa là loài này có thể sinh trưởng trên cả vùng đất mới bị hoang hóa,
thành phần dinh dưỡng nghèo, cấp hạt đất chủ yếu là hạt cát (thể nền bùn cát).
Cho đến nay những nghiên cứu về loài cây này còn rất ít, miền Bắc hầu như chưa
có. Để góp phần nghiên cứu khả năng sinh trưởng của loài này khi đưa từ miền
Nam ra trồng ở Giao Thủy-Nam Định và nhằm nâng cao hiệu quả rừng trồng
đóng góp vào đa dạng quần xã của RNM của miền Bắc, chúng tôi chọn đề tài
"Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của Cóc Vàng (Lumnitzera racemosa
Willd.) ở xã Giao Lạc- Giao Thủy- Nam Định"
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của cây Cóc Vàng ở các độ
tuổi1,5,8,12 tuổi đóng góp sự hiểu biết thêm về đặc điểm sinh học, sinh thái của
cây. Phục vụ cho việc trồng và khôi phục RNM có hiệu quả, nâng cao đa dạng
sinh học của hệ sinh thái vùng ven biển.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thể nền đến cây Cóc Vàng....qua đó xác định điều
kiện thể nền thích hợp cho sự tái sinh của cây ở giai đoạn còn non.
Nghiên cứu sự biến động sinh khối cá thể và quần thể qua các độ tuổi của cây
làm cơ sở khoa học cho việc khai thác, sử rụng hợp lí nguồn tài nguyên RNM
một cách bền vững

Khóa luận tốt nghiệp


3

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

3. Nội dung nghiên cứu
3.1: Nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi
3.2: Nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng ở 2 môi trường
3.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng ở môi trường ngập ít
3.2.1.1: Sinh trưởng của cóc vàng ở môi trường ngập ít mọc dày
3.2.1.1.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.1.1.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.1.1.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.2.1.2: Sinh trưởng của cóc vàng ở khu vực ngập ít và mọc thưa
3.2.1.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.1.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.1.2.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng ở khu vực trên cạn
3.2.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.2.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.3: Nghiên cứu sinh khối tổng số và sinh khối bộ phận của quần thể cóc vàng
3.4. Nghiên cứu diệp lục trên lá ở các khu vực khác nhau
3.4.1. Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực trên cạn
3.4.1.1: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực trên cạn trong bóng

3.4.1.2: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực trên cạn ngoài sáng

Khóa luận tốt nghiệp

4

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

3.4.2. Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực ngập ít và mọc dày
3.4.2.1: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực ngập ít và mọc dày trong bóng
3.4.2.2: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực ngập ít và mọc dày ngoài sáng
3.4.3.Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực mọc thưa
3.4.3.1: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực mọc thưa trong bóng
3.4.3.2: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực mọc thưa ngoài sáng

Khóa luận tốt nghiệp

5

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học


CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về sinh trƣởng của cây RNM
1.1.1. Trên thế giới
Là một lĩnh vực khá rộng được đề cập tương đối nhiều trong các công trình
nghiên cứu của tác giả trên thế giới.
Công trình nghiên cứu về cây ngập mặn có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh
của Gollay, Odum và Wilson tiến hành tại Puerto Rico từ năm 1958 (theo Hoàng
Thị Hà (2000) [2] . Khi nghiên cứu tăng trưởng, hầu hết các tác giả đều đặt trong
mối liên quan với các nhân tố sinh thái như: độ mặn, nhiệt độ, chất nền,...
Walter và Steiner (1936) (theo Phan Nguyên Hồng, 1999 ) [10]. Khi nghiên
cứu sự phát triển của cây con trong họ đước ( Rhizophoraceae) cho rằng chúng
duy trì nồng độ muối thấp hơn cây mẹ, đặc biệt là lá. Điều này được giải thích
như một cơ chế bảo vệ phôi.
Năm 1959, Steru và Voigh , (theo Hoàng Thị Hà, 2000) [2] tiến hành nghiên
cứu độ mặn của môi trường đến sinh trưởng của cây đâng đã kết luận cây sinh
trưởng tốt ở độ mặn tương đối với độ mặn nước biển.
Schorlander (1962-1966) , (theo L.T.V. Lan, 1998 ) [14] cũng công bố về
công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây đâng ( Rhizophora stylosa BL) ở độ
mặn trung bình (½ độ mặn nước biển) và ở độ mặn này cây sinh trưởng tốt nhất.
Macne (1986) khi nghiên cứu ở Queensland thuộc Australia cho rằng trên bãi
lầy có lầy có lượng phù sa ít, nghèo chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ đá vôi,
quặng thì rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi (theo L.V. Lan, 1998) [14].
Năm 1969, Connor [36] công bố công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây
mắm biển trong dung dịch có độ mặn khác nhau và đưa ra nhận xét: cây mắm có
khả năng sống ở độ mănk cao nhưng không sinh trưởng tốt ở ½ độ mặn nước
biển (theo Hoàng Thị Hà, 2000 ) [2].

Khóa luận tốt nghiệp


6

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

1.1.2. Ở Việt Nam
Sau năm 1975, nhiều nghiên cứu cây ngập mặn ở Việt Nam được tiến hành
ngoài thực địa
Đỗ Hữu Ất (1984) [1] đã nghiên cứu tăng trưởng chiều cao đường kính đếm
số cây trong ô thí nghiệm ở những vị trí khác nhau, tác giả còn nghiên cứu tăng
trưởng của chồi và rễ chống.
Phạm Thanh Phương 1985 [21] , tiến hành theo dõi tăng trưởng của đước đôi
(Rhizophora apiculata (L.), Druce) trồng trên nhiều loại địa hình khác nhau và
cho thấy: trong cùng một độ tuổi của, cây mọc ở dạng địa hình ngập triều trung
bình có chiều cao và đường kính trung bình, độ tăng trưởng cao hơn cây mọc ở
độ ngập triều cao. Cùng năm tuổi, cùng chế độ ngập triều, cùng dạng địa hình
nhưng thành phần đất khác nhau, độ lún khác nhau thì tốc độ tăng trưởng chiều
cao và đường kính cũng khác nhau.
Nguyễn Hoàng Trí, (1986) [25], nghiên cứu tốc độ tăng trưởng của cây đước
(Rhizophraapiculata) ở rạch Bà Bường- Cà Mau cho thấy tốc độ tăng trưởng
trung bình của gỗ thân là 0,85m/ năm (chiều cao); 0,75cm/năm (đường kính).
Tốc độ tăng trưởng mùa mưa cao hơn mùa khô do mùa mưa hoạt động sinh lý
của cây thuận lợi hơn.
Phan Nguyên Hồng (1991) [7] về sinh thái thảm thực vật ngập mặn Việt
Nam, phần nghiên cứu tăng trưởng của cây ngập mặn, tác giả đã sử dụng phương
pháp của Lugo và Snedker (1975) để tăng trưởng gỗ, thân, rễ chống và chồi

ngọn, còn cho thấy khả năng tăng trưởng về chiều cao và đường kính phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như chất đất, địa hình, thủy triều, mật độ cây,...
Mai Sỹ Tuấn (1992) [29] trong công trình nghiên cứu về phản ứng sinh lý,
sinh thái của cây mắm con lấy giống từ Hà Tĩnh về trồng trong môi trường có độ
mặn khác nhau cho thấy sinh trưởng được ở các độ mặn khác nhau kể cả độ mặn
rất cao (150‰ độ mặn nước biển) nhưng tăng trưởng chiều cao đường kính giảm
dần khi độ mặn nước biến tăng.
Khóa luận tốt nghiệp

7

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31] nghiên cứu tăng trưởng của cây đâng trồng ở
Hà Tĩnh thấy điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng thuận lợi
cho quá trình sinh trưởng nên chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao nhanh.
1.2. Nghiên cứu sinh khối cây RNM
Sinh khối là tổng lượng chất hữu cơ có được trên một đơn vị diện tích tại một
thời điểm theo trọng lượng khô, được tính bằng tấn trên ha. Sinh khối gồm tổng
lượng trọng lượng khô của thân, cành, lá, hoa, quả, rễ trên và dưới mặt đất.
Nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá năng
suất, chất lượng, quản lí và sử dụng rừng ngập mặn. Đã có rất nhiều công trình
của các tác giả khác nhau nghiên cứu về sinh khối tại nhiều vùng trên thế giới.
1.2.1. Trên thế giới
Golley.F.B và cộng sự (1962) đã nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn tự

nhiên ở Peuto Pico với đối tượng cây đước đỏ (Rhizophra mangle (L.), Druce) và
đến năm 1975 Ong và cộng sự nghiên cứu sinh khối (Rhizophora brevistyla L.) ở
Panama.
Ở châu Á, Aksornkoae.S. và cộng sự [41] nghiên cứu sinh khối rừng đước
(Rhizophora apiculata(L.), Druce) cao nhất với 710.9 tấn/ha, vẹt dù ( Bruguiera
gymnorrhiza(L) Lam) là 243.575 tấn/ha thấp nhất là Xylocarpus chỉ có 20,1
tấn/ha.
Với đối tượng rừng trồng, Akasornkoae. S, (1982) [22] đã nghiên cứu rừng
đước (Rhizophora apiculata BL) ở giai đoạn 6 tuổi cho 50 tấn/ha ở 10 tuổi là
103,13 tấn/ha, ở 15 tuổi là 206.25 tấn/ha nghiên cứu tiến hành tại Chanthaburi.
Hiroyuki. T và cs (2000) [41] đã nghiên cứu sinh khối trên mặt đất của rừng
ngập mặn ở Matang, Malaysia có kết quả là 316 tấn/ha cao nhất là 558 tấn/ha ở
ven sông thấp nhất là 144 tấn/ha ở nơi gần đất liền.
Hầu hết các tác giả đều tập trung nghiên cứu sinh khối trên mặt đất và cho
thấy sinh khối trên mặt đất phụ thuộc vào lập địa, loài cây, chịu ảnh hưởng của
tuổi rừng, lịch sử và hình thái (Lugo.A.E và Snedaker và cs, 1974, thành phần
Khóa luận tốt nghiệp

8

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

loài địa phương, khí hậu, cấu trúc rừng, trầm tích và các tính chất như chất dinh
dưỡng, độ mặn và nhiệt độ (Clough.B.F và cs, (1992) . (theo Hoàng Thị Hà,
2000) [2]

1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về sinh khối cây rừng ngập
mặn. Phần lớn các nghiên cứu tập trung ở rừng đước và một số rừng hỗn hợp.
Nguyễn Hoàng Trí (1986) [25], nghiên cứu sinh khối rừng đước đôi
(Rhizophora apoculata BL) ở Cà Mau, đã sử dụng phương pháp chọn ô tiêu
chuẩn 10m2 cho mỗi loại hình rừng, đo đường kính và chiều cao thân cây ở 1,3m
cách mặt đất, các tác giả sử dụng mô hình toán:
Logey= A+B loge(DH) + C loge2 (DH)
y: sinh khối
D: đường kính thân ở độ cao 1,3m
H: chiều cao của thân cây
A, B, C: hệ số
Tính được sinh khối rừng trưởng thành là 267839.29kg/ha, rừng tái sinh tự
nhiên: 14.004,48kg/ha, rừng tái sinh nhân tạo: 33846.80kg/ha.
P.N. Hồng (1991) [5] , sử dụng phương pháp nghiên cứu sinh khổi của
NewBould (1967), trên các ổ tiêu chuẩn 2500m2 để tính sinh khối của
Rhizophora apiculata trong một số loại rừng nguyên sinh ( phần trên và phần
dưới mặt đất) là 263.069,88 kg/ha, rừng tái sinh tự nhiên là 35143.76 kg/ha, rừng
trồng là 34858.62 kg/ha, sinh khối các phần trên mặt đất của rừng đước trồng
được 10 năm là 91421.03- 98773.10 kg/ha.
Năm 1992 [29] , khi nghiên cứu sinh trưởng cây mắm (Avicennia marina
L.), tác giả Mai Sỹ Tuấn đã dựa vào mới quan hệ giữa bình phương đường kính
nhân chiều cao ( D2H) và trọng lượng khô của thân (Ws), cành (WB), lá (WL), rễ
Khóa luận tốt nghiệp

9

Trần Thị Quỳnh Trang



Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

(WR) đã cho thấy, mặc dù cây trồng trong các điều kiện độ mặn khác nhau, cây
còn nhỏ dưới 1 tuổi nhưng quá trình sinh trưởng của tất cả các cây đều thỏa mãn
phương trình hồi quy dạng:
WS=

XB

1/WL= A/D2H + B
Các phương trình dùng để tính trọng lượng khô của cây, cho thấy mối liên hệ
giữa sinh khối với chiều cao và đường kính của cây trong rừng tự nhiên.
Năm 1996 [23], Viên Ngọc Nam tiến hành nghiên cứu sinh khối của rừng
đước đôi (Rhizophora apiculata L.) ở Cần Giờ, tác giả dựa theo phương pháp của
Ong và cs (1985) đo chu vi cây ở độ cao 1,3m, trong các ô tiêu chuẩn 400m2
phương trình toán học được sử dụng có dạng:
Log y= log a + blog x chuyển về dạng đường thẳng y=axb
Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31], nghiên cứu ảnh hưởng của thể nền đến sinh
khối rừng đước (Rhizophora apiculata (L.), Druce) ở Cần Giờ và đâng
(Rhizophora stylosa Griff) ở Hà Tĩnh cho thấy, trên thể nền bùn sét mềm, ở cùng
một độ tuổi thì đước có sinh khối tổng số cao hơn đâng hai lần.
Hầu hết các nghiên cứu sinh khối đều sử dụng phương trình toán học dạng:
y=axb để tính sinh khối khô và tập trung trên đối tượng cây đước, cây đâng...mà
rất ít ở trên các đối tượng khác biệt là chưa thấy ở cây cóc vàng (Lumnitzera
racemosa Willd.)

Khóa luận tốt nghiệp


10

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, KHU VỰC VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Cóc Vàng là một trong ba cây thuộc chi Cóc ( Lumnitzera)
Tên khoa học: Lumnitzera racemosa Willd
Họ bàng: Combretaceae
Họ sim: Myrtales
Lớp Ngọc Lan: Magnoliopsida
Cây gỗ nhỡ, cao 3-12m với đường kính khoảng 0,3m, không lông, thân nhiều
mấu, nhánh thấp, vỏ ngoài màu nâu, gỗ màu vàng
Lá đơn, mọc cách, phiến hình muỗng, chân hình nêm, đầu tròn, bìa có răng
nhỏ, gân không rõ, dày cứng.
Hoa đơn tính, trắng nhỏ, ở nách và ngọn, có 5 cánh hoa, 5 đài hoa, 10 tiểu
nhị dài bằng nhau, lá bắc rụng sớm. Hoa có đĩa mật, thụ phấn nhờ sâu bọ. Quả
tròn, dài, cây ra hoa vào đầu hè
Là cây ưa sáng, kém chịu nước mặn và kém chịu ngập nước, mọc trên bùn
cát chặt. Hệ rễ khỏe, có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày, có tác dụng bảo vệ
đất. Phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, nhiều nhất ở Sóc Trăng, Bạc Liêu.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo dõi từ tháng 8/2013 đến tháng
1/2014. Thời gian thu thập số liệu hàng tháng vào các ngày từ 21 đến 28.

Các ô thí nghiệm đặt ở vườn thực nghiệm trung tâm nghiên cứu rừng ngập
mặn xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Khóa luận tốt nghiệp

11

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

2.3. Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.3.1. Vị trí địa lí
Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh
Nam Định.
Giao Thủy là một trong ba huyện ven biển của tỉnh Nam Định cách thành phố
Nam Định khoảng 45km về phía Nam. Huyện Giao Thủy gồm có 22 xã và thị
trấn, trong đó có 9 xã giáp biển là Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân,
Giao Hải, Giao Long, Bạch Long, Giao Phòng và Giao Lâm. Phía đông giáp
biển, có 32km bờ biển. Phía Tây giáp huyện Xuân Trường, phía Nam giáp huyện
Hải Hậu bằng con sông Sò ( Bà Lạt). Phía Bắc giáp huyện Tiền Hải, Thái Bình
bởi sông Hồng. Giao Thủy nằm giữa hai cửa sông Bà Lạt thuộc sông Hồng và
cửa sông Ninh Cơ thuộc sông Ninh Cơ. Diện tích ngập mặn nước ven biển là
70000 ha.
Xã Giao Lạc có diện tích 840,7 ha, nằm giữa 200 13’-20015’ vĩ độ bắc, 106015’
đến 106033’ độ kinh đông, phía bắc giáp xã Giao An, phía nam giáp xã Giao
Xuân, phía đông giáp biển. Diện tích RNM ở xã Giao Lạc chiếm gần 400ha. Do

nằm giữa cửa sông Hồng và cửa sông Ninh cơ, hệ thống rừng ngập mặn ở đây
hàng năm tiếp nhận một lượng lớn phù sa do hai con sông mang tới (114 triệu
tấn/ năm) nên địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, ít cồn cát lớp trầm tích phù
sa dày
2.3.2. Khí hậu
Xã Giao Lạc nói riêng và huyện Giao Thủy nói riêng nằm trong khu vực
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, khô hơn, mùa hè nóng và mưa nhiều.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4-11
Chế độ gió vùng Giao Thủy chịu ảnh hưởng của 2 loại gió là gió mùa và gió
biển, đồng thời do nằm ở vùng cửa sông ven biển nên khu vực này thường chịu
ảnh hưởng của gió bão và áp thấp nhiệt đới

Khóa luận tốt nghiệp

12

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Nhiệt độ: Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của các loài cây
ngập mặn. Ở những vùng có nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt
giữa ngày và đêm, giữa các mùa thấp (đồng thời có độ ẩm cao) thì RNM phát
triển về kích thước cũng như về số loài. Số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt
độ xuống quá thấp. Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 350 C) cũng ảnh
hưởng đến các hoạt động sinh lý của cây vì đốt nóng lá, khiến cho cây thoát lơi
nước nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm và năng suất sơ cấp giảm (Phan

Nguyên Hồng, 1991) [10].
Nhiệt độ trung bình năm 240 C; nhiệt độ cao nhất trong mùa hè 40,3oC;
nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,80C; độ ẩm trung bình 84%; Lượng bốc hơi
hàng năm 1000 – 1200 mm.
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 1700 – 1800 mm; số ngày mưa
trong năm trung bình 133 ngày. Chế độ mưa phân bố theo hai nền mùa hè và mùa
đông, có những giao thời Đông Xuân – Hè Thu. Tháng mưa lớn nhất vào tháng 8
tới 400 mm và trong tháng này có tới 15 đến 18 ngày mưa. Mùa thu đông có
lượng mưa thấp nhất, biến động từ 25 – 50 mm/tháng.

Bảng 2.3.1. Một số đặc trưng khí hậu của khu vực nghiên cứu (số liệu trung
bình của 10 năm)

1
Nhiệt

2

3

16.5 16.7 19

4

5

22.8 27.1

6


7

8

9

10

28.8

29.4

28.7

27.6 25

11

12

TB

21.8 18.5 23.5

độ
Lượng 25.8 34

37.6 70.1 131.5 185.4 211.3 339.5 226

226 80.6 22.1 1750


92

82

mưa
Độ

85

89

91

86

83

82

84

84

81

82

ẩm
(Nguồn: Trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn)

Khóa luận tốt nghiệp

13

Trần Thị Quỳnh Trang

85


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Bảng 2.3.2. Đặc trưng các yếu tố khí tượng ( từ 8/2013 đến 1/2014)
Chỉ tiêu Nhiệt độ trung
bình ( oC)
Tháng

Tổng lƣợng

Số giờ nắng

Độ ẩm không

mƣa trung

(giờ)

khí (%)


bình (mm)

8

29.0

308.6

179.4

85

9

27.6

257.1

157.2

84

10

26.0

153.1

171.9


87

11

21.5

124.4

153.1

79

12

18.3

12.2

99.8

80

1

15.8

6

117.9


80

Hình 2.3. Các đặc trưng yếu tố khí tượng ( từ 8/2013 đến 1/2014)

Các đặc trƣng yếu tố khí tƣợng
350
300
250
200
150
100
50
0

Nhiệt độ trung bình
Lượng mưa TB
Số giờ nắng
8

9

10

11

12

Độ ẩm không khí

1


Tháng
(Nguồn: Trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn)
2.3.3. Thủy văn
Chế độ thủy triều ở cùng biển Giao Thủy là chế độ nhật triều, chu kì trên
dưới 23 giờ, vì vậy thời gian ngập nước của cây ngập mặn ở đây khá dài.
Biên độ triều khá lớn, trung bình khoảng 150 đến 180 cm, lớn nhất là 3.3m,
nhỏ nhất 0,25m. Biến thiên của thủy triều trong vùng nửa tháng có một lần triều
Khóa luận tốt nghiệp

14

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cường, một lần triều kém, đôi khi cũng có xảy ra 1 đến 3 lần triều kém, 2 lần
triều cường, hoặc ngược lại.
Chế độ thủy văn của cùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của lương mưa và lưu
lượng nước sông Hồng vào mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10). Hướng của dòng
triều là hướng Tây Bắc- Đông Nam. Dòng triều mạnh gây xói lở các bãi lầy ven
biển và hạn chế sự định cư của cây con.
2.3.4. Thổ nhƣỡng
Do vị trí địa lí, lại chịu ảnh hưởng của thủy triều và lưu lượng nước sông
Hồng nên thổ nhưỡng ở vùng Giao Thủy nói chung có đặc điểm: là vùng đất mới
hình thành do phù sa bồi đắp, đất chưa phân hóa rõ rệt, còn giữ nguyên tính chất
của vùng đất mới bồi tụ. Đất có nhiều lớp xen kẽ nhau, càng xuống sâu thành

phần cơ giới càng nhẹ, pH, nồng độ các khí hòa tan và muối dinh dưỡng trong
đất luôn biến đổi. Nền đáy bao gồm bùn lẫn sét và cát mịn. Phía trong rừng được
phủ một lớp xác thực vật hữu cơ. ( Theo Hoàng Ngọc Khắc, 2001) [16]
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
Các ô thí nghiệm ( ÔTN) có diện tích 4m x 4m được bố trí ở các vị trí khác
nhau tại khu vực nghiên cứu: Khu vực ngập ít, khu vực trên cạn không hoặc hầu
như không ngập của thủy triều.
- Mỗi khu vực nghiên cứu chúng tôi bố trí 5 ô có diện tích như trên đối với
2 mật độ 15cây/ ÔTN , và 10 cây/ÔTN. Chúng tôi gọi nơi cóc vàng mọc nhiều
hơn trên 1 ÔTN là mọc dày, nơi mọc ít hơn là mọc thưa. Khu vực trên cạn khi
chúng tôi nghiên cứu thì có mật độ 10cây/ÔTN.
Để nghiên cứu sinh trưởng chúng tôi tiến hành đo đạt các chỉ tiêu trên các ô
tiêu chuẩn ở các khu vực khác nhau, mỗi độ tuổi đo 10 cây.
Nghiên cứu sinh khối chúng tôi tiến hành phân cấp đường kính cho các tuổi ở
trong các ô tiêu chuẩn, sau đó mỗi cấp đường kính tiến hành chặt phần trên mặt
Khóa luận tốt nghiệp

15

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

đất của 3 cây. Mỗi độ tuổi đều được phân thành các phần thân, cành, lá cân tổng
số, cân theo từng độ cao, cân lấy mẫu mang về. Mẫu lấy về được sấy tại bộ môn
Thực Vật của khoa Sinh, sấy ở 105oC ngày đầu tiên, sau đó sấy tiếp ở 80oC đến

khi trọng lượng không đổi. Mẫu sau khi sấp xong được dùng để tính toán sinh
khối của quần thể
2.4.2: Phƣơng pháp đo sinh trƣởng chiều cao và đƣờng kính
- Đường kính của cây được đo bằng thước kẹp (độ chính xác 0,01mm).
- Chiều cao của thân cây được đo bằng thước dây
Đường kính và chiều cao của cây được đo hàng tháng
- Tăng trưởng đường kính và chiều cao của cây được tính theo công thức:
+ Tăng trưởng chiều cao trong một tháng (∆H): ∆H=Hn+1-Hn
Hn: chiều cao cây đo được lần thứ n
Hn+1: chiều cao đo được ở lần thứ n+1
+ Tăng trưởng đường kính trong 1 tháng (∆D): ∆D= Dn+1-Dn
Dn: đường kính đo được ở lần thứ n
Dn+1: đường kính đo được ở lần thứ n+1
2.4.3: Đo đƣờng kính tán lá
Dùng thước mét đo đường hai đường kính tán cây sao cho vuông góc với
nhau. Đường kính tán lá bằng trung bình hai đường kính tán đó.
Tăng trưởng đường kính tán lá trong một tháng (∆Dtl): ∆Dtl= Dtln+1-Dtln
Dtln: đường kính tán lá đo ở lần thứ n
Dtln+1: đường kính tán lá đo ở lần thứ n+1

Khóa luận tốt nghiệp

16

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học


2.4.4. Tính sinh khối
Để tiến hành tính sinh khối của cây, tiến hành lập các ô tiêu chuẩn (khoảng
5 ô tiêu chuẩn) mỗi ô với kích thước 4m x 4m và vuông góc với mực nước biển.
Sau đó tiến hành phân cấp đường kính, thống kê số lượng cây theo cấp đường
kính, mỗi cấp đường kính chọn 3 cây, đo đường kính và chiều cao sau đó tiến
hành chặt hạ phần trên mặt đất và phân loại.
- Trọng lượng tươi của từng cây được cân tổng số và phân thành 3 bộ
phận: Thân, cành, lá
- Số gam lấy mẫu tùy thuộc vào cây, mẫu lấy về được sấy khô tại bộ môn
Thực vật khoa Sinh. Thân, cành, lá được sấy ở 105oC ngày đầu tiên, sau đó sấy ở
80oC cho đến khi trọng lượng khô không đổi.
- Từ các số liệu về trọng lượng khô của cây kết hợp với các số liệu về đường
kính (D) và chiều cao (H) của các cây đã chặt, phân tích và tính các hàm hồi quy
biểu thị mối quan hệ giữa trọng lượng khô của cây và bình phương đường kính

nhân chiều cao ( D2H) theo công thức: W= (D2H) . (Theo Kvet và cs, 1971)
W: Trọng lượng khô của cây
D2H: Bình phương đường kính nhân chiều cao
, : Các chỉ số của hàm số mũ được xử lí bằng máy vi tính
Từ công thức trên và dựa vào chiều cao và đường kính của cây ta sẽ tính
được sinh khối của cây mà không cần chặt và cân đo sinh khối.
- Sinh khối tổng số được tính theo phương trinh: W= WL+ WS+ WB
WL: Trọng lượng khô của lá
WS: Trọng lượng khô của thân
WB: Trọng lượng khô của cành

Khóa luận tốt nghiệp

17


Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

2.4.5: Phƣơng pháp đo diệp lục
Mẫu lá được bẻ trên cây, bảo quản trong đá, được mang vể tổ bộ môn và đo
diệp lục tổng số bằng máy đo Chlorophyl meter SPAD- 502Plus A1RT- 207
2.4.6:Phƣơng pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lí theo thống kê toán học, sử dụng phần mềm EXCEL
7.0 để tính toán và xử lí số liệu.

Khóa luận tốt nghiệp

18

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Sinh trƣởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) 1 tuổi
Cóc vàng 1 tuổi được tái sinh chủ yếu từ quả của cây cóc vàng khi rơi rụng
xuống, qua theo dõi sinh trưởng của cóc vàng qua các tháng chúng tôi thu được

kết quả sau.
Bảng3.1. Sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi
Tháng

∆H

H(cm)

∆D

D(cm)

(cm/tháng)

∆Sl

Số lá

(cm/tháng)

8

21.39±1.12

0.37±0.01

16.65±2.01

9


23.54±1.15

2.15

0.47±0.02

0.1

16.8±2.12

0.15

10

25.4±1.23

1.86

0.5±0.04

0.03

16.9±2.16

0.1

11

25.8±1.32


0.4

0.53±0.04

0.03

14.6±2.23

-2.3

12

26.17±1.11

0.37

0.55±0.06

0.02

14.4±2.02

-0.2

1

26.42±1.13

0.25


0.56±0.05

0.01

14±1.67

-0.4

( H, D: chiều cao và đường kính trung bình qua các tháng theo dõi (cm)
∆H,∆D: tăng trưởng chiều cao và đường kính qua các tháng theo dõi (cm/tháng))
Hình 3.1.1. Sinh trưởng của chiều cao

30

2.3

25

1.8

cm

20

1.3

15
0.8

10

5

0.3

0

-0.2
8

9

10

11

12

cm/tháng

Sinh trƣởng của chiều cao

H
∆H

1

Tháng

Khóa luận tốt nghiệp


19

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Hình 3.1.2. Sinh trưởng về đường kính

0.6
0.5
0.4
0.3
0.2
0.1
0

0.12
0.1
0.08
0.06
0.04
0.02
0
8

9


10

11

12

cm/tháng

cm

Sinh trƣởng của chiều cao

D
∆D

1

Tháng

Hình 3.1.3. Tăng trưởng về số lá

Qua bảng số liệu 3.1 và các hình vẽ thể hiện 3.1.1; 3.1.2; 3.1.3 chúng tôi
nhận thấy một đặc điểm chung là cả chiều cao, đường kính và số lá của cóc vàng
1 tuổi đều tăng mạnh vào các tháng mùa mưa là tháng 9 và tháng 10, sau đó giảm
dần vào các tháng mùa khô có điều kiện khí hậu khắc nghiệt là tháng 12, tháng 1.
Chiều cao cóc vàng 1 tăng trưởng cao nhất vào tháng 9 với ∆H= 2.15
cm/tháng, tháng 9 có lượng mưa là 257.1mm, sau đó đến tháng 10 với ∆H= 1.86
Khóa luận tốt nghiệp

20


Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cm/tháng. Các tháng mùa khô tốc độ tăng trưởng giảm nhất là tháng 1 tốc độ tăng
trưởng còn ∆H= 0.25 cm/tháng, với chỉ số kém thuận lợi hơn như nhiệt độ
15.8oC, lượng mưa 6 mm, độ ẩm không khí 80%.
Tương tự sự tăng trưởng của chiều cao, đường kính cóc vàng 1 tuổi cũng
tăng vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi, cao nhất là tháng 9 với ∆D=
0.108 cm/ tháng, tháng 10 ∆D= 0.03, sau đó giảm dần vào các tháng mùa đông,
tháng 1 tốc độ tăng trưởng còn 0.01 cm/tháng.
Sự ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đối với cóc vàng 1 tuổi, được thể hiện
rõ rệt nhất qua sự tăng trưởng của lá cây. Qua các tháng theo dõi, chúng tôi thấy
vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi như tháng 9, tháng 10 số lá cây tăng
lên, còn vào các tháng mùa đông, khí hậu khô hanh, độ ẩm không khí giảm, lá
cây rụng bớt để giảm sự thoát hơi nước, đảm bảo sự sinh trưởng của cây, điều
này thể hiện ở sự sinh trưởng kém hơn của lá ở các tháng mùa khô.
Đặc biệt khi nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi, chúng tôi nhận
thấy ở các cây cóc vàng độ tuổi này đã có sự phân cành cấp 1, điều này chưa
từng thấy ở các cây đước 1 tuổi, cây trang 1 tuổi hay cây đâng 1 tuổi (Nguyễn
Đức Tuấn, 1995 [31])

Khóa luận tốt nghiệp

21


Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

3.2. Sinh trƣởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở 2 khu vực
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 2 khu vực là khu vực ngập triều ít và khu
vực khô không ngập triều. với 3 độ tuổi và thu được kết quả như sau:
3.2.1. Sinh trƣởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực
ngập ít
3.2.1.1 Sinh trƣởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực
ngập ít và mọc dày
3.2.1.1.1. Sinh trưởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực
mọc dày 5 tuổi
3.2.1.1.1.1. Sinh trưởng chiều cao và đường kính
Bảng 3.2.1.1.1.1: Sinh trưởng chiều cao và đường kính
Tháng

H (cm)

∆H

Tỉ lệ tăng

D (cm)

∆D


(%/tháng)

Tỉ lệ tăng
(%/tháng)

8

110.5 ±3.13

1.70 ± 0.01

9

121.5 ± 3.43

11

9.95

1.73 ± 0.02

0.03

1.59

10

137.4 ± 3.5

15.9


13.08

1.75 ± 0.01

0.02

1.56

11

141 ±3.67

3.6

2.62

1.76± 0.01

0.01

0.34

12

144.7 ±4.2

3.7

2.62


1.76 ± 0.02

0.0

0.17

1

145.5 ± 4.23

0.8

0.55

1.76± 0.03

0.00

0.17

( H,D: chiều cao và đường kính trung bình qua các tháng theo dõi (cm)
∆H, ∆D: Tăng trưởng chiều cao và đường kính (cm/tháng))

Khóa luận tốt nghiệp

22

Trần Thị Quỳnh Trang



Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Hình 3.2.1.1.1.1.1: Sinh trưởng chiều cao và đường kính

Sinh trƣởng chiều cao
160
140
120

cm

100

80
60

H

40
20

0
8

9

10


11

12

1

Tháng

Sinh trƣởng đƣờng kính
1.78
1.76

cm

1.74
1.72
1.7

D

1.68
1.66
8

9

10

11


12

1

tháng

Khóa luận tốt nghiệp

23

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Tăng trƣởng về chiều cao và đƣờng kính
20

0.04

15

0.03

10

0.02


5

0.01

0

0
9

10

11

12

đƣờng kính
(cm/tháng)

chiều cao (cm/tháng)

Hình 3.2.1.1.1.1.2: Tăng trưởng chiều cao và đường kính (cm/tháng)

∆H
∆D

1

Tháng


Qua bảng số liệu 3.2.1.1.1.1 và hình 3.2.1.1.1.1.1; 3.2.1.1.1.1.2 chúng tôi
thấy được.
Cóc vàng 5 tuổi ở khu vực mọc dày tăng trưởng nhanh và tương đối đồng
đều về cả chiều cao và đường kính qua các tháng nghiên cứu, nhưng với tốc độ
không giống nhau giữa các tháng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Chiều cao tăng trưởng vào các tháng 9,10/2013, trong đó tháng 10 tăng
nhanh nhất ∆H= 15.9 cm/tháng, tăng trưởng chậm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng
1/2014. Nếu đối chiếu sự thay đổi về chiều cao của cây cóc vàng với biến thiên
về khí hậu năm 2013- 2014 thì chúng tôi thấy tương quan với nhau. Tháng 9, 10
nhiệt độ trung bình là 27.6oC và 26.0oC, độ ẩm trung bình 87%, lượng mưa trung
bình cao 257.1 mm và 153.1 mm, số giờ nắng 157.2 giờ và 171.9 giờ, là những
điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cóc vàng. Tháng
11,12 có các đợt rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ có ngày xuống thấp dưới 10oC,
nhiệt độ trung bình thấp nhất vào 1/2014 (15.8oC), lượng mưa giảm mạnh còn
12.2mm vào tháng 12, 6mm vào tháng 1. Như vậy, sự thay đổi của nhiệt độ,
lượng mưa có ảnh hưởng tiên quyết đến tăng trưởng của cây. Theo Phạm Đình
Thái (1978 [29]) " lúc nhiệt độ thấp hệ thống trung gian trong keo nguyên sinh
chất truyền năng lượng tới bị phá hủy, khiến hô hấp mất ý nghĩa". Mặt khác
Khóa luận tốt nghiệp

24

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

lượng mưa liên quan đến lượng phù sa bồi đắp và độ mặn nước, đất. Lượng mưa

lớn vào các tháng mùa hè làm tăng lượng phù sa, giảm độ mặn là điều kiện thuận
lợi cho cây tăng trưởng, lượng mưa ít vào các tháng mùa đông làm tăng độ mặn
làm ức chế hoạt động sinh lí của cây, làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây.
Đường kính tăng trưởng cùng chung xu hướng với chiều cao, tăng nhanh vào
các tháng 9, 10 với ∆D9= 0.03 cm/tháng, ∆D10= 0.02 cm/tháng, tăng lần lượt
1.59%, 1,56% và thấp dần trong các tháng tiếp theo, đặc biệt là các tháng mùa
đông. Như vậy sự sinh trưởng về đường kính có mối liên hệ với các yếu tố khí hậu.
Chúng tôi nhận thấy được các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến sinh trưởng
chiều cao và đường kính của cóc vàng 5 tuổi. Các tháng mùa đông có nhiệt độ
xuống thấp, lượng mưa giảm, cùng với lượng bức xạ giảm làm tốc độ sinh trưởng
của cóc vàng giảm hẳn. Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31], nhiệt độ xuống thấp và
kéo dài dường như đã gây ra những tổn thương sâu sắc trong cấu trúc và hoạt
động sinh lí của tế bào. Tất cả đều ảnh hưởng không thuận lợi đến quá trình sinh
trưởng, phát triển của cây.
Hình 3.2.1.1.1.1.3. Tương quan chiều cao, đường kính cóc vàng 5 tuổi

Chiều cao (cm)

Tƣơng quan chiều cao, đƣờng kính
200

y= 538.36x - 806.64

150
100
50
0
1.7

1.73


1.75

1.76

1.76

1.76

Đƣờng kính (cm)

Qua hình 3.2.1.1.1.1.3 ta thấy mối tương quan giữa sự tăng trưởng đường
kính và chiều cao. Xu thế tăng trưởng của chiều cao và đường kính gần như

Khóa luận tốt nghiệp

25

Trần Thị Quỳnh Trang


×