Tải bản đầy đủ (.doc) (140 trang)

Hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại tập đoàn bưu chính viễn thông việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (416.06 KB, 140 trang )

1

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo sự phát triển của
hoạt động đầu tư tài chính. Từ vài năm trở lại đây, thông tin về hoạt
động đầu tư tài chính đã không còn là mới lạ đối với Việt Nam,
chúng diễn ra thường xuyên như một tất yếu của nền kinh tế. Cả các
công ty thuộc sở hữu Nhà nước lẫn tư nhân, cả chính phủ lẫn các
loại hình tổ chức kinh doanh khác đều tham gia hoạt động đầu tư tài
chính cả trong nước lẫn ngoài nước.
Hoạt động đầu tư tài chính trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập
và kết nối ngày càng trở nên quan trọng. Trong xu thế này các tổ
chức kinh tế có xu hướng liên doanh, liên kết với nhau để cùng tiến
hành sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm với chi phí rẻ, tiết kiệm
hơn mà hiệu quả lại cao hơn. Lợi thế do toàn cầu hóa mang lại là rất
nhiều song cũng đầy những thách thức mà bản thân trong nó chứa
đựng, và hoạt động đầu tư tài chính cũng nằm trong xu thế chung
của thế giới.
Kế toán với chức năng, nhiệm vụ của mình là cung cấp thông
tin kinh tế tài chính quan trọng, đáng tin cậy cho các nhà quản lý
doanh nghiệp nói chung, tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
nói riêng và các đối tượng có liên quan. Để đáp ứng được yêu cầu
hạch một cách trung thực, đầy đủ, khách quan đòi hỏi kế toán cần
phải tuân thủ các yêu cầu, nguyên tắc, phương pháp kế toán hoạt
động đầu tư tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế và với chuẩn


2

mực và chế độ kế toán Việt, đảm bảo độ tin cậy cao nhất đối với


người sử dụng thông tin nhằm giúp họ đưa ra các quyết định đúng
đắn trong tương lai.
Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam là một trong những
tập đoàn lớn của Việt Nam kinh doanh về mảng bưu chính, viễn
thông. Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động đầu tư tài
chính nói riêng rất phức tạp, kế toán đầu tư tài chính tại Tập đoàn
tuy đã phản ánh được bản chất của nghiệp vụ nhưng vẫn còn tồn tại
các hạn chế trong quá trình hạch toán cần được hoàn thiện.
Xuất phát từ lý do trên mà trong quá trình khảo sát tại Tập
đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài nghiên
cứu là:
“Hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập
đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam”
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến kế
toán hoạt động đầu tư tài chính, đồng thời qua khảo sát thực trạng
về kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn
thông Việt Nam để tìm ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên
nhân trong kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn này, từ
đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài
chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
• Đối tượng nghiên cứu đề tài


3

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán
các khoản đầu tư tài chính của nhà đầu tư để cung cấp thông tin cho
việc trình bày báo cáo tài chính riêng của nhà đầu tư không đề cập

đến việc cung cấp thông tin cho việc trình bày bào cáo tài chính hợp
nhất. Đồng thời đề tài không nghiên cứu các hoạt động đầu tư tài
chính ngắn hạn.
Chỉ khảo sát kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn
Bưu chính viễn thông Việt Nam từ năm 2005 đến nay.
Thời gian ứng dụng các giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt
động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
từ năm 2008.
• Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu lý luận về kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo
quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo
Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng
Bộ tài chính, thực trạng kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập
đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện kế
toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông
Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: Phương pháp tổng
hợp, phân tích thống kê và phương pháp so sánh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hoá và hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản liên


4

quan đến kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo chuẩn mực và chế
độ kế toán Việt Nam.
Khảo sát thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính
viễn thông Việt Nam.

Đề tài hoàn thành hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích
cho các nhà nghiên cứu, những nhà quản trị và những người làm kế
toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông
Việt Nam.

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP


5

1.1. Các hình thức đầu tư tài chính trong doanh nghiệp và
nhiệm vụ kế toán.
1.1.1. Các hình thức đầu tư tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư được hiểu là quá trình bỏ tài sản, tiền vốn
vào hoạt động kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận. Hoạt động
đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm đầu tư bên trong và đầu tư ra
ngoài doanh nghiệp. Đầu tư bên trong là việc bỏ tài sản, tiền, vốn
nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như đổi mới công nghệ, đổi mới tăng cường cơ sở vật chất phục vụ
sản xuất kinh doanh làm tăng giá trị tài sản ở doanh nghiệp. Đầu tư
ra bên ngoài là việc doanh nghiệp đem tài sản, tiền vốn đầu tư vào
doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác nhằm thu lợi nhuận và được
gọi là hoạt động đầu tư tài chính.
Căn cứ thời gian thu hồi vốn đầu tư tài chính được phân thành:
đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn.
* Đầu tư tài chính ngắn hạn là hình thức đầu tư mà thời hạn
thu hồi các khoản đầu tư trong vòng một năm hay trong một chu kỳ
sản xuất kinh doanh.

* Đầu tư tài chính dài hạn là hình thức đầu tư mà thời hạn thu
hồi các khoản đầu tư lớn hơn một năm hay sau một chu kỳ sản xuất
kinh doanh.
Căn cứ theo mức độ đầu tư: Mức độ đầu tư của doanh nghiệp
được thể hiện qua việc nắm giữ quyền kiểm soát của doanh nghiệp


6

(nắm giữ quyền biểu quyết). Theo tiêu thức này, có thể chia các
khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp thành các loại sau:
* Đầu tư vào công ty liên kết: đầu tư vào công ty liên kết là
khoản đầu tư vào công ty mà trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng
đáng kể nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh
của nhà đầu tư.
Ảnh hưởng đáng kể được hiểu là quyền tham gia của nhà đầu
tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt
động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách
đó. Nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể là nhà đầu tư nắm giữ trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con ít nhất từ 20% đến
dưới 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư trừ khi có quy định
hoặc thỏa thuận khác. Ngược lại nếu nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp
hay gián tiếp thông qua các công ty con ít hơn 20% quyền biểu
quyết của bên nhận đầu tư thì không được gọi là nhà đầu tư có ảnh
hưởng đáng kể, trừ khi có quy định hoặc thỏa thuận khác.
Tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong vốn chủ sở hũu
của bên nhận đầu tư được xác định như sau:


Trường hợp tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong


công ty liên kết đúng bằng với tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư trong
công ty liên kết:


7

Tỷ lệ quyền biểu quyết
của nhà đầu tư trực
tiếp trong công ty liên
kết

Tỷ lệ quyền biểu quyết
của nhà đầu tư gián
tiếp trong công ty liên
kết



=

Tổng vốn góp của nhà đầu tư trong
công ty liên kết

x 100%

Tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết

=


Tổng vốn góp của công ty con của
nhà đầu tư trong công ty liên kết

x 100%

Tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết

Trường hợp tỷ lệ quyền biểu quyết khác với tỷ lệ vốn

góp do có thoả thuận khác giữa nhà đầu tư và công ty liên kết,
quyền biểu quyết của nhà đầu tư được xác định căn cứ vào biên bản
thoả thuận giữa nhà đầu tư và công ty liên kết.
Một nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể thường được thể hiện ở
một hoặc các biểu hiện sau: Có mặt của nhà đầu tư trong ban giám
đốc điều hành hoặc tương đương ban giám đốc, nhà đầu tư được
tham gia vào quá trình hạch định chính sách kinh doanh, có các giao
dịch quan trọng giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư hoặc có sự trao
đổi về cán bộ quản lý hoặc có sự cung cấp thông tin kỹ thuật cơ bản
và các bí quyết công nghệ.
Như vậy công ty liên kết là một pháp nhân độc lập trong đó
nhà đầu tư sở hữu công ty liên kết thông qua cổ phần sở hữu. Nhà
đầu tư được quyền tham gia vào các quyết định về chính sách hoạt
động, chính sách tài chính trong công ty liên kết và lợi ích của nhà


8

đầu tư trong công ty liên kết được xác định theo tỷ lệ sở hữu của

nhà đầu tư.
* Đầu tư góp vốn liên doanh là thỏa thuận bằng hợp đồng của
hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt
động này được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh.
Quyền đồng kiểm soát được hiểu là quyền cùng chi phối của
các bên góp vốn liên doanh, về các chính sách tài chính và hoạt
động đối với một hoạt động kinh tế trên cơ sở thỏa thuận bằng bằng
hợp đồng. Ở đây cần chú ý phân biệt bên góp vốn liên doanh là một
bên tham gia vào liên doanh và có quyền đồng kiểm soát đối với
liên doanh đó, còn nhà đầu tư trong liên doanh là một bên tham gia
vào liên doanh nhưng không có quyền đồng kiểm soát đối với liên
doanh đó.
Các hình thức liên doanh theo quy định bao gồm: Hợp đồng
hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh hoạt động đồng kiểm
soát, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh tài sản
đồng kiểm soát và hợp đồng liên doanh dưới hình thức thành lập cơ
sở kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh
(cơ sở được đồng kiểm soát). Cả ba hình thức liên doanh nêu trên có
hai đặc điểm chung là hai hoặc nhiều bên góp vốn liên doanh hợp
tác với nhau trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng và thỏa thuận
bằng hợp đồng thiết lập quyền đồng kiểm soát.
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh
hoạt động kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên


9

doanh là hoạt động của một số liên doanh được thực hiện bằng cách
sử dụng tài sản và nguồn lực khác của các bên góp vốn liên doanh
mà không thành lập một cơ sở kinh doanh mới. Như khi sản xuất

một chiếc máy bay, các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất
do mỗi bên góp vốn liên doanh đảm nhiệm, mỗi bên tự trang trải các
khoản chi phí phát sinh trong giai đoạn công nghệ của mình và nhận
được thu nhập từ việc bán máy bay theo thỏa thuận được phân chia
theo hợp đồng liên doanh.
Về mặt quản lý tài chính: Đối với từng thành viên tham gia bộ
phận liên doanh này không tách thành một cơ cấu tài chính riêng mà
thống nhất trong cơ cấu tài chính của thành viên. Mỗi bên liên
doanh sẽ sử dụng tài sản, vốn riêng để hoạt động kinh doanh được
phân chia. Điều đó có nghĩa là từng thành viên trong liên doanh có
quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh
được thực hiện do nhân viên các bên tham gia trực tiếp điều hành,
và có thể tiến hành song song với các hoạt động sản xuất kinh
doanh khác của từng thành viên.
Với đặc trưng cơ bản của hình thức này khi liên doanh được
thành lập các bên góp vốn không phải chuyển vốn, tài sản của mình
vào liên doanh, toàn bộ vốn góp là bộ phận tài chính của bên tham
gia nhưng phải được quản lý riêng biệt và phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của liên doanh. Vốn đầu tư không phải chuyển ra bên
ngoài doanh nghiệp, lượng vốn này doanh nghiệp vẫn phải điều
hành và kiểm soát để phục vụ các hoạt động kinh doanh được phân


10

chia trong hợp đồng liên doanh. Điều đó cho thấy liên doanh theo
hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh đồng kiểm soát không thỏa
mãn điều kiện của một tài sản đầu tư tài chính.
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh tài
sản được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh là việc một

số liên doanh thực hiện việc đồng kiểm soát và thường là đồng sở
hữu đối với tài sản được góp hoặc được mua bởi các bên góp vốn
liên doanh và được sử dụng cho mục đích của liên doanh. Các tài
sản này được sử dụng để mang lại lợi ích cho các bên góp vốn liên
doanh. Chẳng hạn hoạt động trong công nghệ dầu mỏ, hơi đốt và
khai khoáng thường sử dụng hình thức liên doanh tài sản được đồng
kiểm soát hay một số công ty sản xuất dầu khí cùng kiểm soát và
vận hành một đường ống dẫn dầu. Mỗi bên góp vốn liên doanh sử
dụng đường ống dẫn dầu này để vận chuyển sản phẩm và phải gánh
chịu một phần chi phí vận hành đường ống này theo thoả thuận.
Hình thức liên doanh này không đòi hỏi phải thành lập một cơ sở
kinh doanh mới.
Về mặt quản lý tài chính: Tuy khác với hình thức liên doanh
các hoạt động sản xuất kinh doanh được đồng kiểm soát về hình
thức nhưng cơ cấu pháp lý giống nhau, do vậy việc quản lý vốn góp
cũng không có sự khác biệt lắm, măc dù khi tham gia vào liên
doanh bên liên doanh phải chuyển tài sản hoặc tiền vào liên doanh,
song đây vẫn không phải là hoạt động đầu tư tài chính mà nó vẫn
mang tính chất là đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi


11

bên liên doanh sẽ xác định phần tài sản là vốn góp theo tỷ lệ và
được phân loại theo tính chất tài sản. Chẳng hạn, tài sản góp vốn
được coi là khoản mục máy móc thiết bị chứ không phải là khoản
mục đầu tư.
Hình thức liên doanh tài sản đồng kiểm soát cũng không thỏa
mãn điều kiện một tài sản đầu tư tài chính giống như hình thức liên
doanh hoạt động sản xuất kinh doanh đồng kiểm soát nên không

thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu.
+ Hợp đồng liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh
doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh. Cơ sở
kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh (cơ
sở được đồng kiểm soát) đòi hỏi phải có sự thành lập một cơ sở kinh
doanh mới. Hoạt động của cơ sở này cũng giống như hoạt động của
các doanh nghiệp khác, chỉ khác là thỏa thuận bằng hợp đồng giữa
các bên góp vốn liên doanh quy định quyền đồng kiểm soát của họ
đối với các hoạt động kinh tế của cơ sở này. Ví dụ: Công ty liên
doanh VKX được thành lập trên cơ sở liên doanh Tập đoàn Bưu
chính viễn thông Việt Nam và đối tác Hàn Quốc.
Về quản lý tài chính: Liên doanh là một cơ cấu tài chính tách
biệt ra khỏi các bên liên doanh và hoạt động độc lập như một pháp
nhân kinh doanh mới. Công ty liên doanh sẽ kiểm soát tài sản liên
doanh, gánh chịu các khoản nợ, chi phí và thực hiện thu nhập từ các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Liên doanh sử dụng pháp nhân riêng
của mình trong các hợp đồng và tạo nguồn tài chính phục vụ cho


12

các mục đích của hoạt động kinh doanh của liên doanh. Thường thì
các cơ sở kinh doanh này tồn tại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu
hạn hay một công ty hợp danh, và phải tuân thủ quy chế pháp lý của
từng hình thức mà liên doanh tồn tại. Mỗi bên liên doanh sẽ đồng
kiểm soát liên doanh trên cơ sở vốn góp, đồng thời số vốn góp này
được coi như một tài sản đầu tư tài chính dài hạn. Việc vốn góp liên
doanh có thể bằng tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, hàng tồn
kho...Khi tài sản đã góp vào công ty liên doanh thì nó không còn là
sở hữu của các bên liên doanh nữa mà thuộc sở hữu của công ty liên

doanh. Nhưng các bên liên doanh sẽ sở hữu công ty liên doanh theo
số vốn được đánh giá bằng giá trị tài sản được góp vào liên doanh.
Giá trị vốn góp sẽ xác định quyền được hưởng kết quả kinh doanh
hoặc phân chia sản phẩm của liên doanh.
Đặc trưng cơ bản của loại hình liên doanh này là thành lập một
pháp nhân riêng biệt – công ty liên doanh, vốn của liên doanh sẽ
được sở hữu bởi các bên liên doanh, tài sản, nợ, thu nhập và chi phí
riêng biệt và phân chia chia kết quả, sản phẩm giữa các bên liên
doanh theo tỷ lệ vốn góp. Hình thức liên doanh này thỏa mãn điều
kiện của một tài sản đầu tư tài chính, các bên liên doanh sẽ quản lý
vốn góp như một khoản đầu tư tài chính dài hạn thông qua quyền
kiểm soát được xác định trên cơ sở hợp đồng.
* Đầu tư vào công ty con: đầu tư vào công ty con là khoản đầu
tư do công ty mẹ thực hiện một khi công ty mẹ có quyền kiểm soát
công ty con. Quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con


13

được xác định khi công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết ở
công ty con trở lên. Công ty mẹ có thể sở hữu trực tiếp hoặc gián
tiếp công ty con qua một công ty con khác, trừ trường hợp đặc biệt
phân định rõ quyền sở hữu không gắn liền với quyền kiểm soát.
Quyền kiểm soát được hiểu là quyền chi phối các chính sách
tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được những lợi
ích từ các hoạt động của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên quyền kiểm
soát còn được thực hiện ngay cả khi công ty mẹ nắm giữ ít hơn 50%
quyền biểu quyết tại công ty con trong các trường hợp sau đây: các
nhà đầu tư khác thoả thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền
biểu quyết, công ty mẹ có quyền chi phối chính sách tài chính và

hoạt động theo quy chế thoả thuận, công ty mẹ có quyền bổ nhiệm
hoặc bãi nhiệm đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp
quản lý tương đương hay công ty mẹ có quyền bổ nhiệm hoặc bãi
nhiệm đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý
tương đương.
* Đầu tư tài chính khác: Đầu tư tài chính khác bao gồm các
khoản đầu tư vào các cơ sở khác mà nhà đầu tư chỉ nắm giữ dưới
20% quyền biểu quyết mà không có thoả thuận nào khác. Ngoài ra
thuộc đầu tư tài chính khác còn bao gồm đầu tư để mua các loại
chứng khoán ngắn hạn, dài hạn trên thị trường tài chính, cho vay
vốn và các khoản đầu tư tài chính khác với mục đích hưởng lãi.


14

1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán đối với hoạt động
đầu tư tài chính trong doanh nghiệp.
Đầu tư tài chính là một bộ phận tài sản tài chính của doanh
nghiệp, là bộ phận tài sản mang tính rủi ro cao, ảnh hưởng nhiều
đến thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các tài sản đầu tư tài
chính bao gồm nhiều hình thức đầu tư khác nhau như đầu tư chứng
khoán, đầu tư liên doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con, các
khoản cho vay...phần lớn các khoản đầu tư này thể hiện quyền kiểm
soát của nhà đầu tư ở các mức độ khác nhau đối với cơ sở được đầu
tư. Chúng tạo ra những mối quan hệ tài chính phức tạp giữa các cơ
sở đầu tư, làm cho thông tin tài chính của các thực thể đan xen lẫn
nhau tạo thành tổ chức tài chính với các mối ràng buộc chặt chẽ,
tình trạng tài chính của từng cơ sở được đầu tư có ảnh hưởng nhiều
đến nhà đầu tư ở các mức độ khác nhau. Để đảm bảo thông tin tài
chính của từng nhà đầu tư được trình bày trung thực và hợp lý làm

cơ sở cho việc trình bày thông tin tài chính của cả tổ chức tài chính,
việc quản lý đầu tư tài chính ở các doanh nghiệp phải đảm bảo các
yêu cầu chủ yếu sau:
+ Đầu tư tài chính phải được quản lý theo từng loại tài sản,
từng khoản đầu tư, từng cơ sở đầu tư và tình hình biến động của
từng khoản đầu tư để làm cơ sở cho các quyết định mua bán nắm
giữ tài sản đầu tư hợp lý.
+ Đầu tư tài chính phải được quản lý theo cả số lượng và giá
trị, về số lượng phải quản lý chi tiết theo từng tài sản đầu tư, từng


15

tài sản phải quản lý theo từng tài sản cụ thể, theo từng thời gian đầu
tư. Về giá trị, từng tài sản đầu tư phải theo dõi mệnh giá, giá gốc và
thường xuyên cập nhật thông tin về thị giá để phục vụ cho việc cung
cấp thông tin theo yêu cầu quản lý.
+ Đầu tư tài chính phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu
quả đầu tư và xác định giá trị của tài sản đầu tư, đối với những
khoản đầu tư đến cuối kỳ kế toán bị giảm giá thì doanh nghiệp phải
lập dự phòng giảm giá đầu tư để đảm bảo trình bày thong tin trên
báo cáo tài chính một cách hợp thức.
Kế toán đầu tư tài chính có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Theo dõi, ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác số
hiện có và tình hình biến động của từng khoản đầu tư cả về mặt giá
trị và số lượng, thường xuyên cập nhật tình hình biến động của
khoản đầu tư để phục vụ kịp thời cho các quyết định của doanh
nghiệp.
+ Kiểm tra, đánh giá mức độ tổn thất của các khoản đầu tư ở
cuối kỳ, lập dự phòng giảm giá đầu tư theo quy định

+ Cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình đầu tư nhằm
phục vụ tốt cho công tác lãnh đạo và quản lý kinh doanh ở doanh
nghiệp.
1.2. Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo quy định của
chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam.


16

1.2.1.Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo quy định của
chuẩn mực kế toán Việt Nam
Kế toán hoạt động đầu tư tài chính được điều chỉnh bởi chuẩn
mực số 07: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết; Chuẩn
mực số 08: Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh;
Chuẩn mực số 25: Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu
tư vào công ty con.
• Chuẩn mực số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty
liên kết.
Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán các khoản đầu tư vào
công ty liên kết của nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể trong công ty
liên kết.
Có hai phương pháp để kế toán khoản đầu tư vào công ty liên
kết đó là phương pháp vốn chủ sở hữu và phương pháp giá gốc.
Theo phương pháp giá gốc thì:
+ Ghi nhận ban đầu khoản đầu tư theo giá gốc.
+ Ghi nhận tiếp theo là nhà đầu tư chỉ hạch toán vào thu nhập
trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khoản được chia từ lợi
nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau ngày đầu tư.
Các khoản khác mà nhà đầu tư nhận được ngoài lợi nhuận được chia
được coi là phần thu hồi các khoản đầu tư và được ghi nhận là

khoản giảm trừ giá gốc đầu tư.
+ Thay đổi ghi nhận: Từ thời điểm nhà đầu tư không còn được
coi là có ảnh hưởng đáng kể đối với công ty liên kết, nhà đầu tư


17

phải kết chuyển giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công ty liên kết
sang các tài khoản khác có liên quan
+ Phương pháp này được sử dụng để lập Báo cáo tài chính
riêng của nhà đầu tư.
Theo phương pháp vốn chủ sở hữu thì
+ Ghi nhận ban đầu khoản đầu tư theo giá gốc.
+ Ghi nhận tiếp theo là giá trị ghi sổ của khoản đầu tư được
điều chỉnh tăng hoặc giảm tương ứng với phần sở hữu của nhà đầu
tư trong lãi hoặc lỗ của bên nhận đầu tư sau ngày đầu tư. Khoản
được phân chia từ bên nhận đầu tư phải hạch toán giảm giá trị ghi sổ
của khoản đầu tư. Việc điều chỉnh giá trị ghi sổ cũng phải được thực
hiện khi lợi ích của nhà đầu tư thay đổi do có sự thay đổi vốn chủ sở
hữu của bên nhận đầu tư nhưng không được phản ánh trên Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh. Những thay đổi trong vốn chủ sở hữu
của bên nhận đầu tư có thể bao gồm những khoản phát sinh từ việc
đánh giá lại TSCĐ và các khoản đầu tư, chênh lệch tỷ giá quy đổi
ngoại tệ và những điều chỉnh các chênh lệch phát sinh khi hợp nhất
kinh doanh.
+ Phương pháp này được sử dụng để lập Báo cáo tài chính hợp
nhất của nhà đầu tư.
• Chuẩn mực số 08“Thông tin tài chính về những khoản vốn
góp liên doanh”
Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán các khoản đầu tư vào

công ty liên doanh của nhà đầu tư. Trong nội dung chuẩn mực đề


18

cập đến cả ba hình thức liên doanh: hoạt động sản xuất kinh doanh
đồng kiểm soát, tài sản đồng kiểm soát và cơ sở đồng kiểm soát.
Tuy nhiên như đã trình bày ở trên là hình thức hoạt động sản xuất
kinh doanh đồng kiểm soát và tài sản đồng kiểm soát không thuộc
phạm vi đề tài nên tác giả chỉ trình bày nội dung chuẩn mực áp dụng
đối với hình thức liên doanh cơ sở đồng kiểm soát.
Cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát là một doanh nghiệp độc
lập, tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm soát của các bên góp vốn liên doanh
theo hợp đồng liên doanh. Cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát phải tổ
chức thực hiện công tác kế toán riêng theo quy định của pháp luật
hiện hành về kế toán như các doanh nghiệp khác.
Cơ sở kinh doanh được đồng kiểm soát chịu trách nhiệm kiểm
soát tài sản, các khoản nợ phải trả, thu nhập và chi phí phát sinh tại
đơn vị mình. Cơ sở kinh doanh này sử dụng tên của liên doanh
trong các hợp đồng, giao dịch kinh tế và huy động nguồn lực tài
chính phục vụ cho các mục đích của liên doanh. Mỗi bên góp vốn
liên doanh có quyền được hưởng một phần kết quả hoạt động của cơ
sở kinh doanh hoặc được chia sản phẩm của liên doanh theo thỏa
thuận của hợp đồng liên doanh.
+ Ghi nhận khoản đầu tư: Nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản
đầu tư vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát theo giá gốc.


19


+ Ghi nhận tiếp theo: Sau ngày đầu tư, nhà đầu tư được ghi
nhận cổ tức, lợi nhuận được chia, chi phí phát sinh vào doanh thu,
chi phí hoạt động tài chính theo nguyên tắc dồn tích.
Khoản vốn góp liên doanh bằng tài sản thì việc hạch toán các
khoản lãi hay lỗ phải phản ánh được bản chất của nó. Nếu bên góp
vốn liên doanh đã chuyển quyền sở hữu tài sản thì bên góp vốn liên
doanh chỉ được hạch toán phần lãi hoặc lỗ có thể xác định được
tương ứng cho phần lợi ích của các bên góp vốn liên doanh khác.
Bên góp vốn liên doanh phải hạch toán toàn bộ giá trị bất kỳ khoản
lỗ nào nếu việc góp vốn bằng tài sản được thực hiện với giá trị đánh
giá lại thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản lưu
động hoặc giá trị còn lại của TSCĐ.
Đối với giao dịch bên liên doanh bán tài sản cho liên doanh:
Nếu bên góp vốn liên doanh đã chuyển quyền sở hữu tài sản và tài
sản này được liên doanh giữ lại chưa bán cho bên thứ ba độc lập thì
bên góp vốn liên doanh chỉ được hạch toán phần lãi hoặc lỗ có thể
xác định được tương ứng cho phần lợi ích của các bên góp vốn liên
doanh khác. Nếu liên doanh bán tài sản này cho bên thứ ba độc lập
thì bên góp vốn liên doanh được ghi nhận phần lãi, lỗ thực tế phát
sinh từ nghiệp vụ bán tài sản cho liên doanh.
Đối với giao dịch bên liên doanh mua tài sản của liên doanh:
Nếu bên góp vốn liên doanh mua tài sản của liên doanh và chưa bán
lại tài sản này cho một bên thứ ba độc lập thì bên góp vốn liên


20

doanh đó không phải hạch toán phần lãi của mình trong liên doanh
thu được từ giao dịch này. Nếu bên góp vốn liên doanh bán tài sản
cho một bên thứ ba độc lập thì được ghi nhận phần lãi thực tế tương

ứng với lợi ích của mình trong liên doanh.
+ Thay đổi ghi nhận: Khi thu hồi vốn góp liên doanh vào cơ
sở kinh doanh đồng kiểm soát, căn cứ vào giá trị vật tư, tài sản và
tiền do liên doanh trả lại để ghi giảm số vốn góp.
+ Trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của nhà đầu tư vào
công ty liên doanh theo hai phương pháp giá gốc và phương pháp
vốn chủ sở hữu. Bên góp vốn liên doanh ngừng sử dụng phương
pháp vốn chủ sở hữu kể từ ngày bên góp vốn liên doanh kết thúc
quyền đồng kiểm soát hoặc không có ảnh hưởng đáng kể đối với cơ
sở kinh doanh được đồng kiểm soát. Bên góp vốn liên doanh không
có công ty con không lập báo cáo tài chính hợp nhất và phải cung
cấp các thông tin liên quan đến khoản vốn góp của họ trong liên
doanh như những bên góp vốn liên doanh có công ty con.
Bên góp vốn liên doanh phải trình bày chi tiết các khoản vốn
góp trong các liên doanh quan trọng mà bên góp vốn liên doanh
tham gia.
Bên góp vốn liên doanh phải trình bày tổng giá trị của các
khoản nợ ngẫu nhiên, trừ khi khả năng lỗ là thấp và tồn tại biệt lập
với giá trị của các khoản nợ ngẫu nhiên khác, đồng thời phải trình
bày riêng biệt tổng giá trị của các khoản cam kết theo phần vốn góp


21

vào liên doanh của bên góp vốn liên doanh với các khoản cam kết
khác.
• Chuẩn mực số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán
khoản đầu tư vào công ty con”.
Chuẩn mực này áp dụng để lập và trình bày các báo cáo tài
chính hợp nhất của một tập đoàn gồm nhiều công ty chịu sự kiểm

soát của một công ty mẹ và kế toán các khoản đầu tư vào các công
ty con trong báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ.
Theo quy định của chuẩn mực này thì công ty mẹ phải hạch
toán các khoản đầu tư của mình vào các công ty con theo phương
pháp giá gốc. Trong báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ, khoản
đầu tư vào công ty con mà bị loại khỏi quy trình hợp nhất phải trình
bày theo phương pháp giá gốc.
1.2.2.Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo quy định của chế
độ kế toán hiện hành.
• Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Đầu tư vào công ty liên kết có thể dưới hình thức mua khoản
đầu tư hoặc góp vốn vào công ty liên kết bằng TSCĐ, vật tư, hàng
hóa
+ Trường hợp mua khoản đầu tư vào công ty liên kết thì giá
gốc của khoản đầu tư được xác định bằng phần vốn góp thực tế


22

hoặc giá thực tế mua khoản đầu tư cộng các chi phí mua như chi
phí mối giới, giao dịch...
+ Trường hợp góp vốn vào công ty liên kết bằng TSCĐ, vật
tư, hàng hoá thì giá gốc khoản đầu tư được ghi nhận theo giá trị
được các bên góp vốn thống nhất định giá. Khoản chênh lệch giữa
giá trị ghi sổ của TSCĐ, vật tư, hàng hoá và giá trị đánh giá lại được
ghi nhận và xử lý như sau: Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá đánh
giá lại và giá trị ghi sổ của vật tư, hàng hoá được hạch toán vào thu
nhập khác; Khoản chênh lệch nhỏ hơn giữa giá đánh giá lại và giá
trị ghi sổ của vật tư, hàng hoá được hạch toán vào chi phí khác.
Thu nhập từ hoạt động đầu tư liên kết bao gồm:

+ Cổ tức hoặc lợi nhuận được chia theo thông báo của công ty
liên kết và được hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính. Các
khoản thu nhập khác ngoài cổ tức, lợi nhuận được chia nhà đầu tư
hạch toán giảm trừ giá gốc đầu tư.
+ Lãi do thanh lý, nhượng bán khoản đầu tư liên kết được
hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính
Chi phí từ hoạt động đầu tư liên kết bao gồm
+ Chi phí chuyển tài sản đi góp vốn là chi phí phát sinh ngoài
chi phí mua khoản đầu tư liên kết và được kế toán hạch toán vào chi
phí khác.
+ Khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán khoản đầu tư liên kết và
được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính.


23

Kế toán đầu tư vào công ty liên kết sử dụng tài khoản 223
“Đầu tư vào công ty liên kết”. Kết cấu và nội dung phản ánh của
Tài khoản 223 như sau:
+ Bên Nợ: Giá gốc khoản đầu tư được mua tăng.
+ Bên Có: Giá gốc khoản đầu tư giảm do thu được các khoản
lợi ích ngoài lợi nhuận được chia, do bán, thanh lý toàn bộ hoặc một
phần khoản đầu tư.
+ Số dư bên Nợ: Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết
hiện đang nắm giữ cuối kỳ.
Kế toán phải mở sổ kế toán chi tiết theo dõi giá trị khoản đầu
tư vào từng công ty liên kết. Từ thời điểm nhà đầu tư không còn
được coi là có ảnh hưởng đáng kể đối với công ty liên kết, nhà đầu
tư phải kết chuyển giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công ty liên
kết sang các tài khoản khác có liên quan.

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán đầu tư vào công ty liên kết


24
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG TY LIÊN KẾT
TK 111, 112, 341

TK 223

TK 111, 112

(1)

(9)

TK 228

TK 515

(2)

TK 635

(10)

(11)

TK 128, 228, 515
TK 228


(3)
(12)

TK 152, 153, 156,
211, 213, 217

TK 214 (1,2,3,7)
TK 221

(4)
13

(5)

TK 711

TK 811

(7)
(6)
TK 515

(8)


25

Chú thích sơ đồ 1.1
(1)Doanh nghiệp đầu tư vào công ty liên kết (chiếm từ 20% đến
50% vốn chủ sở hữu ở doanh nghiệp nhận vốn góp)

(2)Chuyển khoản đầu tư dài hạn sang đầu tư vào công ty liên kết
(3)Chuyển khoản cho vay ngắn hạn, dài hạn kể cả lãi phải trả
thành khoản đầu tư liên kết , hoặc chuyển đổi trái phiếu có thể
chuyển đổi thành vốn góp có tính chất của vốn góp liên kết
(4)Góp vốn bằng vật tư, hàng hóa, TSCĐ, hàng hóa bất động sản
đầu tư
(5)Giá trị vốn góp vào công ty liên kết được chấp nhận
(6)Khoản lãi do đánh giá vật tư, hàng hóa, TSCĐ cao hơn giá trị
còn lại trên sổ kế toán
(7)Khoản lỗ do đánh giá vật tư, hàng hóa, TSCĐ thấp hơn giá trị
còn lại trên sổ kế toán
(8)Góp cổ tức lợi nhuận được chia tăng vốn góp vào công ty liên
kết
(9)Thu hồi góp vốn vào công ty liên kết
(10)

Khoản lãi về thu hồi vốn góp vào công ty liên kết

(11)

Khoản lỗ về khoản vốn góp vào công ty liên kết không

thu hồi được
(12)

Chuyển đổi hình thức đầu tư vào công ty liên kết sang

các hình thức khác
(13)


Bổ sung mua thêm cổ phiếu hoặc góp thêm vốn để có tỷ

lệ quyền biểu quyết trên 50%


×