Tải bản đầy đủ (.docx) (75 trang)

Khoá luận tốt nghiệp Giải pháp mở rộng cho vay theo hạn mức tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần đại dương oceanbank chi nhánh đào duy anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (416.52 KB, 75 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

KHOÁ LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài :

“Giải pháp mở rộng cho vay theo hạn mức tín dụng
tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Dương
OceanBank chi nhánh Đào Duy Anh”

Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoá
Hệ

: Ths. TRẦN THỊ THU HIỀN
: ĐỖ THỊ CẨM NHUNG
: NH 01-02
: 1 (2007-2011)
: Chính quy


2

Hà Nội, tháng 11/2011

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận Tốt nghiệp này, trước tiên em xin bày tỏ lòng biết


ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo-Thạc sĩ Trần Thị Thu Hiền, đã tận tình hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực tập, viết khoá luận.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Tài chính-Ngân hàng,
Trường Đại học Đại Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt 4 năm em học
tập tại trường. Với vốn kiến thức mà em được tiếp thu trong quá trình học, sẽ không
chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo của Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đại Dương chi nhánh Đào Duy Anh đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em
được thực tập tại Ngân hàng. Em xin gửi lời cảm ơn đến anh Võ Mạnh Cường, nhân
viên Tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Dương chi nhánh Đào Duy
Anh đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu.
Cuối cùng em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đặc biệt là ba
mẹ và gia đình em, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ em vượt qua
những khó khăn trong cuộc sống.
Em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khoẻ, thành công trong sự nghiệp
cao quý. Đồng kính chúc Cô, Chú, Anh, Chị trong Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đại Dương chi nhánh Đào Duy Anh luôn dồi dào sức khoẻ,đạt được nhiều thành
công trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Đỗ Thị Cẩm Nhung.


3

KÍ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CBTD


: Cán bộ tín dụng

CIC

: Trung tâm thông tin tín dụng

HMTD

: Hạn mức tín dụng

NHTM

: Ngân hàng thương mại

PA SXKD

: Phương án sản xuất kinh doanh

SXKD

: Sản xuất kinh doanh

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

VLĐ

: Vốn lưu động


VTC

: Vốn tự có

OceanBank

: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Dương


4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 : Mạng lưới chi nhánh tại các miền trên cả nước..............................25
Bảng 2.2 : Danh sách 1 số ngân hàng có quan hệ đại lý với OCEANBANK..25
Bảng 2.3 : Cơ cấu nguồn vốn huy động............................................................27
Bảng 2.4 : Kết quả hoạt động cho vay..............................................................29
Bảng 2.5 : Kết quả thu nhập..............................................................................30
Bảng 2.6: Chi phí...............................................................................................33
Bảng 2.7 : Tổng doanh số cho vay và doanh số thu nợ phân theo phương thức
cho vay...............................................................................................................48
Bảng 2.8 : Dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng............................................49
Bảng 2.9 : Dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng phân theo thành phần kinh tế
............................................................................................................................50


5

MỤC LỤC



6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.

Quá trình hội nhập quốc tế đồng nghĩa với việc cạnh tranh trong nền kinh tế
nói chung, lĩnh vực ngân hàng nói riêng, sẽ ngày càng ra tăng, các ngân hàng nước
ngoài sẽ mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động ở nước ta bằng nhiều phương thức
khác nhau. Trong đó hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng là một trong những
phương thức nằm trong hoạt động cho vay cũng đang phổ biến ở nước ta.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là một trong hai phương thức cho vay ngắn
hạn phổ biến đối với các DN hiện nay. Nhưng nó vẫn có một số vấn đề còn hạn chế.
Đó là lý do vì sao em đã chọn đề tài này: Biện pháp mở rộng cho vay theo hạn mức
tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank.
2. Mục đích nghiên cứu.

Mục đích bao trùm của đề tài là: Sử dụng các công cụ kinh tế học để nghiên
cứu hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng của ngân hàng OceanBank. Phục vụ
cho sản xuất kinh doanh của DN, từ đó đề xuất một giải pháp nhằm giúp cho các
doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng hơn các nguồn vốn vay, tháo gỡ được các khó
khăn về tài chính của các DN trong một thời gian ngắn, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho đất nước.
Để đạt được mục đích chung nêu trên, đề tài nhằm giải quyết và đạt được
những mục đích cụ thể sau :


Vận dụng lý luận của kinh tế học để phân tích hoạt động cho vay theo hạn mức tín
dụng của Ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank đối với các DN.




Phân tích thực trạng hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng TMCP Đại Dương
OceanBank tới các DN, phát hiện những vấn đề còn tồn tại trong quá trình vay vốn
của DN.



Đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện và phát triển cho vay theo hạn mức tín dụng
DN nhằm giúp các DN tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình vay vốn, tiếp cận
thuận lợi hơn tới các nguồn vốn vay để từ đó nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh của DN.


7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu lý luận của ngân hàng thương mại,
phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng; nghiên cứu thực trạng hoạt động cho
vay theo hạn mức tín dụng của Ngân hàng TMCP Đại Dương chi nhánh Đào Duy
Anh.
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Đại Dương chi nhánh Đào Duy Anh
trong giai đoạn từ 2008-2010.
4. Dự kiến đóng góp của đề tài.

-Phân tích rõ thêm cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến cung và cầu
tín dụng của các DN.
-Đưa ra quan điểm về phát triển thị trường cho vay theo hạn mức tín dụng
(HMTD) trong nền kinh tế hiện nay.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3

chương :
Chương I: Cơ sở lý luận chung về cho vay theo hạn mức tín dụng của
Ngân hàng Thương mại (NHTM).
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng của
Ngân hàng TMCP Đại Dương-OceanBank chi nhánh Đào Duy Anh.
Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Đại Dương-OceanBank chi nhánh Đào Duy Anh.


8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY THEO HẠN
MỨC TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại (NHTM). Ở Hoa
Kỳ, NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp, NHTM là những xí
nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác
hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu,
tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ, NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để
cho vay hay tài trợ và đầu tư. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn
thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái,
nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…
Định nghĩa về NHTM được Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội thông
qua vào ngày 16 tháng 6 năm 2010: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.”
NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,
tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất

kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”(Chủ biên PGS.TS. Phan Thị Thu
Hà, 2007, Ngân hàng thương mại, Tr.7)
Hoạt động ngân hàng thương mại cũng được Luật các tổ chức tín dụng ghi:
“Hoạt động ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
NHTM hoạt động với mục tiêu chính là vì lợi nhuận. Đây là tổ chức tài chính
trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, tổng tài sản có của ngân hàng
thương mại luôn luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.
NHTM bao gồm NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và NHTM
nước ngoài.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại.


9

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến
nhất hiện nay. Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vài trò là
trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi
cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực
tiếp. Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiền gửi thanh
toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn
(time deposits). Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại
(commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay bất động sản
(mortage loans) và để mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa
phương. NHTM dù ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất
mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất.
Với vị trí quan trọng đó, Ngân hàng thương mại đảm nhiệm những chức
năng khác nhau trong nền kinh tế. Nhìn chung, NHTM có ba chức năng cơ bản:
chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo phương tiện thanh toán, và chức năng

trung gian thanh toán.
1.1.2.1. Trung gian tín dụng.
Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của NHTM. Thực hiện chức năng
này, NHTM một mặt huy động và tập trung vốn nhàn rỗi tạm thời trong nền kinh tế,
một mặt trên cơ sở nguồn huy động được, ngân hàng sử dụng cho vay đáp ứng nhu
cầu vốn trong nền kinh tế.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM thực sự là cầu nối giữa
những người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi ở ngân hàng với những người
thiếu vốn cần vay. Với sự chuyên môn hóa của trung gian tài chính đã tập hợp được
những người tiết kiệm và đầu tư, giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp,
tạo lợi ích cho cả ba bên. NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò
là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và
lãi suất cho vay, đồng thời góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người
gửi tiền và người đi vay
Đối với người gửi tiền: họ sinh lời được vốn tạm thời nhàn rỗi qua lãi suất
tiền gửi ngân hàng trả. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản
tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.


10

Đối với người vay, không những họ được thỏa mãn nhu cầu kinh doanh tiện
lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không mất nhiều chi phí về sức
lực, thời gian tìm kiếm nguồn tiền vay từ những nguồn cung ứng riêng lẻ.
Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình
tái sản xuất của nền kinh tế được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
1.1.2.2.Trung gian thanh toán.
NHTM trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay trên hầu hết các
quốc gia. NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa dịch vụ thay cho khách hàng

dưới nhiều hình thức như séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…, cung cấp mạng
lưới thanh toán điện tử và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Trong nền kinh tế
phát triển như hiện nay, quy mô thanh toán, số lượng các khoản thanh toán tăng lên
nhanh chóng, vì vậy càng cần tới vai trò trung gian thanh toán của hệ thống NHTM.
Các NHTM còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước
hoặc các trung tâm thanh toán. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần
tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà còn
trên toàn thế giới. Vì vậy, tính hiệu quả của thanh toán qua NHTM tăng cao, đưa
NHTM trở thành trung gian thanh toán rất quan trọng, trở thành thủ quỹ của xã hội.
Việc NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn
đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các NHTM cung cấp nhiều phương
tiện thanh toán đa dạng và tiện lợi, tùy theo nhu cầu mà khách hàng có thể chọn cho
mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế không phải giữ
tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay
xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán.
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo
thanh toán an toàn. Chức năng này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa,
đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh
tế. Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống NHTM đã giảm
được lượng lớn tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt
như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản… Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho
vạy của NHTM thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng và
khoản phí mà ngân hàng nhận được khi thực hiện dịch vụ cho khách hàng.


11
1.1.2.3 .Tạo phương tiện thanh toán.

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, đại lượng tiền tệ của
khách hàng không chỉ gồm tiền mặt lưu thông mà còn gồm số dư trên tài khoản tiền

gửi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng, tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi có kỳ hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo
ra phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại ngân hàng này sử dụng khoản tiền vay để chi trả sẽ tạo ra
khoản thu cho một khách hàng ở ngân hàng khác. Như vậy, toàn bộ hệ thống ngân
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (phương tiện thanh toán) gấp nhiều lần thông
qua hoạt động cho vay.
Rõ ràng, chức năng tạo tiền không chỉ giới hạn trong hành động in thêm tiền
và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước. Bản thân các NHTM trong quá
trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay
tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM.
Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ
thống NHTM có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự
trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi.
Hệ số này chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức
và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.
Như vậy, chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung
gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay
ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận
của tiền giao dịch… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương
tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ
ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do Ngân hàng Nhà
nước phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các
NHTM tạo ra.



12

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu
thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng
tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động cơ bản của NHTM,
là cơ sở để ngân hàng cho vay và thực hiện các nghiệp vụ khác. Ngoài vốn chủ sở
hữu đóng vai trò là nền tảng ban đầu, một nguồn quan trọng khác là các khoản tiền
gửi thanh toán và tiết kiệm huy động được từ các tổ chức và các cá nhân. Ngoài ra,
ngân hàng có thể đi vay Ngân hàng nhà nước hoặc vay các tổ chức tín dụng khác,
vay trên thị trường vốn. Như vậy, có hai nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng huy
động được là nguồn tiền gửi và nguồn tiền vay.
Thứ nhất, huy động vốn từ nguồn tiền gửi. Tiền gửi của khách hàng là nguồn
tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động,
nghiệp vụ đầu tiên chính là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ
khách hàng. Bằng cách đó, ngân hàng huy động tiền từ nguồn khách hàng. Đây là
nghiệp vụ đặc trưng của ngân hàng, theo đó, ngân hàng mua quyền sử dụng các
khoản vốn của khách hàng trong một thời gian nhất định và có trách nhiệm hoàn trả
số vốn đó theo đúng kế hoạch.
Tiền gửi là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng. Quy mô của vốn huy động này thể hiện tiềm năng của ngân hàng trong việc
đáp ứng khả năng xin vay và các yêu cầu rút vốn của khách hàng. Để gia tăng tiền
gửi trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, ngân hàng phải có nhiều hình thức
huy động khác nhau. Xét theo đặc điểm và kỳ hạn của nguồn vốn, nghiệp vụ huy
động vốn có thể phân thành các loại:
Nghiệp vụ huy động tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của khách hàng gửi

vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Nhìn chung, lãi suất của
nguồn huy động này là rất thấp, là nguồn vốn rẻ nhất mà ngân hàng huy động được.
Để có được nguồn này, yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng được nhu cầu thanh khoản
cao do đặc thù của tài khoản thanh toán.
Nghiệp vụ huy động tiền gửi có kỳ hạn: nguồn huy động này có lãi suất cao


13

hơn lãi suất tiền gửi thanh toán do người gửi không được sử dụng các hình thức
thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi có kỳ hạn,
nhưng bất tiện hơn cho khách hàng.
Thứ hai, huy động vốn từ nguồn đi vay. Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất
của NHTM, tuy nhiên khi cần ngân hàng vẫn phải đi vay từ Ngân hàng Nhà nước,
từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn.
Khi NHTM vay từ Ngân hàng Nhà nước, đây là khoản vay nhằm giải quyết
nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM, trong trường hợp thiếu hụt dự trũ bắt
buộc hay dự trữ thanh toán. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu hoặc tái cấp
vốn.
Nguồn NHTM vay từ các tổ chức tín dụng khác diễn ra trên thị trường liên
ngân hàng. Khi NHTM đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm
bảo thanh khoản trong khi các ngân hàng khác đang có dự trữ vượt yêu cầu, muốn
cho vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn thì chuyện vay mượn này sẽ xảy ra.
Biện pháp huy động vốn từ nguồn đi vay khác nữa là NHTM đi vay trên thị
trường vốn. NHTM cũng giống như các doanh nghiệp, hoàn toàn có thể vay trên thị
trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ như kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu.
Khoản vay này thường để đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn của ngân hàng.
1.1.3.2. Hoạt động tín dụng
Hoạt động chủ yếu của NHTM là tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín
nhiệm, đó chính là hoạt động tín dụng. Hình thức tín dụng truyền thống của NHTM

là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hóa,
nguyên vật liệu, sau đó mở rộng nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp
bằng bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế
chấp. Các NHTM lớn hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay
ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng, mua các tài sản để cho thuê… Các
hình thức này của hoạt động tín dụng, một mặt mang lại thu nhập, mặt khác chứa
đựng rủi ro cho ngân hàng.
Thứ nhất, hoạt động chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước
tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của
ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Về mặt pháp lý thì không


14

phải ngân hàng đã cho vay đối với chủ thương phiếu mà chỉ là trao đổi trái quyền.
Nhưng đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong
tương lai với lãi suất xác định trước được coi là hoạt động tín dụng. Đây được coi là
nghiệp vụ đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng và những người ký tên
trên thương phiếu. Chiết khấu thương phiếu một mặt mang lại thu nhập cho ngân
hàng, một mặt giúp khách hàng nhận được khoản tiền sớm hơn, không phải chờ tới
thời điểm phải thanh toán của thương phiếu. Khách hàng sẽ có được nguồn vốn bổ
sung kịp thời để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, hoạt động
chiết khấu có tác dụng đẩy nhanh vòng quay của dòng vốn trong nền kinh tế, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
Thứ hai, hoạt động cho vay, đây là hoạt động chủ yếu nhất trong hoạt động
tín dụng ở hầu như tất cả các NHTM. Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách
hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
định. Cho vay lại được chia thành nhiều hình thức khác nhau gồm: thấu chi, cho vay
trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay luân chuyển, cho vay trả
góp, cho vay gián tiếp.

Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó NHTM cho phép người vay được chi
trội trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Lợi thế của
hoạt động cho vay theo hạn mức thấu chi đối với khách hàng chính là sự chủ động
về nguồn tiền, thường là đáp ứng cho những trường hợp thiếu hụt tạm thời, đáp ứng
cho những nhu cầu chi dùng phát sinh bất thường, do sự không phù hợp về thời gian
và quy mô thu chi của khách hàng. Thực tế, cho vay theo hạn mức thấu chi được
duy trì trên tài khoản thanh toán của khách hàng với hạn mức không quá lớn. Để
được tiếp cận tới hình thức vay này, khách hàng sẽ phải đáp ứng nhiều điều kiện của
ngân hàng, sẽ khá nghiêm ngặt hơn so với một số hình thức cho vay khác, và đặc
biệt khách hàng phải có mức độ tín nhiệm cao với ngân hàng.
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
NHTM đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Khách hàng sẽ vay ngân hàng khi có nhu cầu
thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt. Tức là, nguồn vốn vay từ ngân hàng chỉ


15

đóng vai trò là tham gia vào một số giai đoạn nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh
doanh của khách hàng. Mỗi lần vay, khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng
phương án sử dụng. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có
thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
Cho vay theo hạn mức, đây là nghiệp vụ tín dụng, theo đó NHTM thỏa thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, là dư nợ tối đa của khách hàng trong một
khoảng thời gian xác định. Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử
dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng, dịch vụ… Đây là hình
thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên,
vốn vay thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này,
ngân hàng thường không xác định kỳ hạn nợ mà sẽ thu tiền khi khách hàng có tiền

về. Tuy nhiên, ngân hàng thường gặp khó khăn trong việc kiểm soát hiệu quả sử
dụng từng lần vay của khách hàng vì không có sự tách biệt các kỳ hạn nợ cụ thể của
các lần vay. Đây là một loại rủi ro của ngân hàng, ngân hàng chỉ có thể phát hiện
được vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó, ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Ngân hàng thường
cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định. Lãi suất cho
vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
NHTM cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá
trình sản xuất. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều
món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng…
Thứ ba, hoạt động cho thuê tài sản của NHTM thường là hình thức tín dụng
trung và dài hạn. Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho
ngân hàng phải thu gần đủ giá trị tài sản cho thuê cộng lãi. Hết hạn thuê, khách
hàng có thể mua lại tài sản đó. Ngân hàng có thể lập phòng cho thuê hoặc công ty
cho thuê để thực hiện và quản lý hoạt động cho thuê.
Phân tích lợi ích từ góc độ khách hàng, có những lợi ích nhất định. Thứ nhất,
khách hàng tránh được rủi ro từ việc sở hữu tài sản. Sở dĩ như vậy là do, khi mua
một tài sản, người sử dụng sẽ phải đối mặt với những rủi ro do lạc hậu của tài sản,


16

những dịch vụ bảo trì, sửa chữa, giá trị còn lại của tài sản. Thứ hai, lợi ích về tính
kịp thời đối với khách hàng. Tài sản được thuê là tài sản cố định thường có giá trị
lớn song khách hàng sẽ không phải mất nhiều thời gian cho một quy trình ra quyết
định đầu tư, giải quyết được sự hạn chế của ngân quỹ…. Ngoài ra còn nhiều lợi ích
khác nữa như lợi ích về thuế, về việc linh hoạt hủy hợp đồng với ngân hàng… Đó là
những lý do thuyết phục khách hàng tiếp cận phương thức cho vay này của phía

ngân hàng.
Phân tích lợi ích từ góc độ ngân hàng, có nhiều lợi ích. Trước hết, đây cũng
là một hình thức ngân hàng cho khách hàng vay vốn được thể hiện dưới dạng tài sản
hữu hình, và ngân hàng sẽ thu được lãi từ khoản vay này, làm tăng thu nhập cho
ngân hàng. Tài sản cho khách hàng thuê song vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân
hàng, ngân hàng có quyền thu hồi tài sản nếu khách hàng sử dụng không đúng thỏa
thuận trong hợp đồng. Với tính chuyên môn cao, ngân hàng có được lợi thế tiếp cận
tài sản có chất lượng tốt, giá cạnh tranh hơn so với những khách hàng mua nhỏ lẻ…
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro
nhất định, như sự mất giá của tài sản, tính đặc chủng, khó bán… Chính vì vậy, để
hạn chế rủi ro, ngân hàng đã thiết lập phòng cho thuê tài sản hoặc công ty riêng
chuyên trách về cho thuê tài sản.
Thứ tư, hoạt động bảo lãnh của NHTM là cam kết của ngân hàng dưới hình
thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của
ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Trong bảo
lãnh thường có 3 bên: bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh là
ngân hàng. Bảo lãnh cũng được chia thành nhiều loại khác nhau. Nếu phân loại theo
mục tiêu, bảo lãnh có các loại như: bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đảm bảo
hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán…
Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của NHTM cho khách hàng, qua đó khách
hàng có thể tìm được nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa, thực hiện sản xuất
kinh doanh thu lợi nhuận. Bảo lãnh của NHTM tạo mối liên kết trách nhiệm tài
chính và san sẻ rủi ro. Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng, trách
nhiệm phía ngân hàng là thứ cấp, khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ


17

với bên thứ ba. Do mối liên hệ giữa khách hàng và ngân hàng, có khả năng rằng

buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết nên giảm bớt thiệt hại tài chính cho
bên thứ ba khi có tổn thất xảy ra.
Việc bảo lãnh của ngân hàng là dựa trên uy tín và khả năng tài chính của
ngân hàng. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một
NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
1.1.3.3. Hoạt động trung gian
NHTM thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, nhờ đó ngân
hàng nhận được thu nhập từ các dịch vụ như: dịch vụ thanh toán hộ, dịch vụ chuyển
tiền, dịch vụ bảo quản vật có giá, thanh toán không dùng tiền mặt… Các hoạt động
này không chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của ngân hàng.
Thứ nhất, hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thường
bao gồm các hoạt động chủ yếu là cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện
các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng, thực hiện dịch vụ thu
và phát tiền mặt cho khách hàng.
Thứ hai, dịch vụ bảo quản vật có giá hay giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm
đồ và các dịch vụ khác có liên quan cũng được NHTM thực hiện.
Thứ ba, NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho
khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc
ngân hàng.
Thứ tư, NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên
quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.
1.1.3.4.Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chủ yếu nêu trên, NHTM còn tiến hành một số hoạt
động khác như: góp vốn và mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh
ngoại hối… NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước, liên doanh
với ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng liên doanh. Ngân hàng thương mại
được tham gia thị trường tiền tệ thông qua các hình thức mua bán các công cụ của
thị trường tiền tệ. NHTM hoàn toàn được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập



18

công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị
trường quốc tế.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG.
1.2.1. Khái niệm cho vay theo hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng (HMTD) là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một
thời hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Theo
đó, cho vay theo HMTD là hoạt động tín dụng mà ngân hàng thỏa thuận cấp cho
khách hàng một HMTD trong một khoảng thời gian nhất định.
Cho vay theo HMTD là một trong hai hình thức cho vay ngắn hạn phổ biến
tại các NHTM. HMTD được cấp dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh
(SXKD), nhu cầu vốn và nhu cầu vay của khách hàng. HMTD được coi là khoản tài
trợ tạm thời cho vốn lưu động, nó thường được kéo dài trong 1 năm. Theo đó, khách
hàng vay hạn mức để trả nợ cho các khoản phải thu và hàng tồn kho điển hình. Quy
mô của HMTD thể hiện số tiền tối đa ứng với mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể
chấp nhận được đối với một khách hàng. Phương thức này chủ yếu áp dụng cho
những khách hàng vay mượn thường xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng và vốn vay
thường xuyên tham gia vào quá trình SXKD.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng.
1.2.2.1. Ưu điểm của phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
Phương thức cho vay theo HMTD có nhiều ưu điểm, tạo thuận lợi cho cả
phía NHTM và khách hàng vay vốn.
Trước hết, xét về phía NHTM, hoạt động cho vay theo HMTD là một loại
hoạt động kinh doanh sinh lời. Bên cạnh lợi ích dễ thấy nhất là mang lại nguồn thu
nhập cho ngân hàng, cho vay theo HMTD có những đặc thù riêng khác với các hình
thức cho vay khác, và từ những đặc thù này đã mang lại những lợi ích cho ngân
hàng.

Thứ nhất, do ngân hàng chỉ cần phân tích, thẩm định khách hàng một lần vào
đầu kỳ để quyết định HMTD, các lần sau ngân hàng chỉ phải kiểm tra mục đích vay
vốn và ghi vào giấy nhận nợ nên giảm chi phí kiểm tra khách hàng, giúp tiết kiệm
chi phí và thời gian cho ngân hàng.
Thứ hai, khi vay vốn theo HMTD, khách hàng phải mở tài khoản tại ngân


19

hàng nên ngân hàng sẽ nắm rõ được tình hình thu chi của khách hàng và thu hồi vốn
ngay khi khách hàng có thu nhập. Các khoản thu của khách hàng cũng là nguồn vốn
đáng kể của ngân hàng. Ngoài ra, khách hàng còn thường sử dụng thêm các dịch vụ
của ngân hàng như nhờ thu, nhờ chi… tạo thêm thu nhập cho ngân hàng.
Thứ ba, do phương thức cho vay theo HMTD tạo nhiều thuận lợi cho khách
hàng hơn một số hình thức cho vay khác như đã được phân tích ở trên, nên thu hút
được nhiều khách hàng tham gia hơn, góp phần làm doanh số cho vay tăng.
Xét về phía khách hàng vay vốn, cho vay theo HMTD là hình thức cho vay
thuận lợi cho những khách hàng vay thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên
vào quá trình SXKD. Không chỉ đáp ứng được nhu cầu về vốn, khách hàng còn thu
được nhiều lợi thế sau:
Thứ nhất, khách hàng chỉ phải làm hồ sơ xin vay một lần vào đầu kỳ, không
phải làm hồ sơ xin vay cho các lần vay tiếp theo khi đã được cấp HMTD.
Thứ hai, do các lần vay tiếp theo trong thời hạn của hạn mức, khách hàng chỉ
phải trình xét phương án SXKD nên thời gian chờ được giải ngân ngắn, nhanh
chóng có được nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu SXKD.
Thứ ba, HMTD được xác định dựa trên nhu cầu vốn lớn nhất của kỳ sản xuất
trước và kế hoạch SXKD của khách hàng trong kỳ này, do vậy vốn khách hàng cần
vay luôn được đảm bảo.
Thứ tư, được ngân hàng cấp HMTD, khách hàng cũng được gửi tới thị
trường thông điệp an toàn, tích cực về tình hình tài chính của khách hàng vì đã được

ngân hàng đánh giá. Nó cũng là dấu hiệu với thị trường rằng khách hàng có khả
năng thanh toán những giao dịch cụ thể như mua sắm nguyên vật liệu… ngay cả khi
thị trường biến động xấu. Điều đó làm tăng sự tin cậy và hợp tác từ phía đối tác của
khách hàng dành cho khách hàng.
Thứ năm, đối với khách hàng có tín nhiệm cao và gắn bó với ngân hàng lâu
năm sẽ được ngân hàng ký hợp đồng HMTD đảm bảo. Theo đó, ngân hàng buộc
phải cấp HMTD khi khách hàng có nhu cầu. Khách hàng có thể lấy hợp đồng này
làm vật thế chấp để đi vay vốn ở tổ chức khác. Đây là một lợi thế rất lớn dành cho
khách hàng.
1.2.2.2. Nhược điểm của phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.


20

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều ưu điểm của phương thức cho vay theo HMTD
này đối với cả khách hàng và ngân hàng, vẫn còn tồn tại những nhược điểm tác
động tới cả các bên tham gia không chỉ với khách hàng mà còn với cả ngân hàng.
Đối với NHTM, khi tiến hành cho vay theo HMTD, mặc dù chỉ phải xét hồ
sơ vay vốn lần đầu trong kỳ song công tác phân tích, thẩm định hồ sơ, xác định
HMTD đòi hỏi nhiều công sức vì yêu cầu tính chính xác rất cao.
Thứ hai, do đặc điểm khách hàng có thể rút vốn bất kỳ lúc nào trong thời hạn
chỉ cần không vượt quá HMTD mà không cần hồ sơ vay vốn nên ngân hàng luôn
phải chuẩn bị lượng vốn đủ lớn để sẵn sàng cho vay, tăng chi phí cơ hội sử dụng
vốn của ngân hàng.
Thứ ba, ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát mục đích sử
dụng vốn của khách hàng trong từng lần rút vốn nên tiềm ẩn rủi ro cao cho phía
ngân hàng.
Với khách hàng vay vốn, tuy khi vay theo HMTD khách hàng có một lợi thế
là không phải làm nhiều lần hồ sơ như các loại cho vay khác như đã phân tích ở
trên. Song, từ lợi thế này lại tồn tại một bất lợi là đòi hỏi quá trình kiểm tra phân

tích đầu kỳ sẽ diễn ra lâu hơn, phức tạp hơn với nhiều thủ tục. Bất lợi này đồng
nghĩa với việc đòi hỏi nhiều chi phí hơn cho quá trình kiểm tra này. Nếu chỉ xét cho
một lần xét hồ sơ vay của hình thức khác như cho vay từng lần với lần xét hồ sơ vay
ban đầu của cho vay theo HMTD, thì chi phí và thời gian phải bỏ ra cho việc xét hồ
sơ của cho vay theo HMTD sẽ lớn hơn hình thức khác. Song, nếu xét cho cả kỳ, khi
mà cho vay theo HMTD chỉ phải xét một lần hồ sơ, còn các hình thức khác phải xét
hồ sơ nhiều lần trong kỳ nếu có nhu cầu vay nhiều lần thì chi phí sẽ mất nhiều hơn.
Thứ hai, do hình thức cho vay theo HMTD tiềm ẩn nhiều rủi ro cho phía ngân
hàng, đặc biệt là vấn đề sử dụng vốn của khách hàng. Để hạn chế tối đa rủi ro, khách
hàng thường bị ngân hàng quản lý chặt chẽ hơn. Nhiều ngân hàng bắt buộc khách hàng
phải có tài khoản thanh toán tại ngân hàng để ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên
hoạt động thu, chi, thanh toán của khách hàng.
Thứ ba, nếu HMTD do ngân hàng tính không chính xác, không phù hợp với
nhu cầu vốn thực tế trong kỳ của khách hàng, khách hàng dễ bị thiếu vốn. Khi đó,
khách hàng sẽ mất thời gian và chi phí để tìm nguồn vốn bổ sung, làm khó khăn cho


21

tiến độ sản xuất của khách hàng.
Thứ tư, điều kiện vay vốn theo HMTD rất khắt khe nên nhiều khách hàng dù
có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng nên chưa thể tiếp
cận được phương thức vay vốn này. Vừa là hạn chế cho khách hàng, cũng là khó khăn
cho ngân hàng trong việc tăng cường số lượng khách hàng.
1.2.2.3.Sự khác nhau giữa phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng và
cho vay từng lần.
Thực chất hai phương thức cho vay trên là hai phương thức cho vay ngắn
hạn điển hình và được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, hai phương thức trên có
những điểm khác nhau cơ bản về quá trình xét hồ sơ, thủ tục vay vốn, cách thức giải
ngân vốn vay và về kỳ hạn trả nợ.

Thứ nhất, về hồ sơ, thủ tục vay vốn và giải ngân vốn vay: Đối với cho vay
từng lần, khách hàng phải nộp đầy đủ bộ hồ sơ xin vay mỗi khi có nhu cầu vay vốn.
Như vậy, khách hàng sẽ phải nộp hồ sơ nhiều lần, ngân hàng phải thẩm định hồ sơ
nhiều lần. Điều đó làm mất nhiều thời gian và chi phí cho cả khách hàng và ngân
hàng nếu khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên. Đối với cho vay theo HMTD,
khách hàng chỉ phải làm hồ sơ xin cấp HMTD một lần để ngân hàng phân tích và
thẩm định hồ sơ, quyết định cấp hạn mức bao nhiêu. Trong kỳ, khách hàng có thể
vay trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức. Mỗi lần xin giải ngân,
khách hàng chỉ phải trình phương án SXKD để ngân hàng đánh giá. Thời gian xét
để được giải ngân sẽ nhanh hơn phương thức cho vay từng lần.
Thứ hai, về kỳ hạn nợ: Đối với cho vay từng lần, kỳ hạn nợ được quy định rõ
trong hợp đồng về ngày trả nợ cuối cùng. Khi đến ngày đáo hạn, khách hàng sẽ phải
trả cho ngân hàng cả gốc và lãi phát sinh từ khoản vay. Đối với cho vay theo
HMTD, ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập,
ngân hàng sẽ thu nợ. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn cụ
thể nên gây khó khăn trong việc kiểm soát tính hiệu quả sử dụng vốn từng lần vay
của khách hàng.
1.2.3. Phương thức xác định hạn mức tín dụng.
Để xác định chính xác HMTD cấp cho khách hàng, ngân hàng cần phải xác
định nhu cầu tín dụng ngắn hạn của khách hàng và các nguồn tài trợ khác của khách


22

hàng.
Trước hết, CBTD cần thẩm định tính chất hợp lý của tài sản lưu động cũng
như nguồn vốn lưu động.
1.2.3.1.Đối với tài sản lưu động.
Để xác định chính xác tài sản lưu động, CBTD thường tập trung thẩm định
các khoản phải thu và hàng tồn kho.

Thứ nhất, về hàng tồn kho: xác định giai đoạn hàng tồn kho bắt đầu khi
mua hàng tới khi bán hàng tồn kho đó.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho bình quân
Tùy theo đặc điểm sản phẩm của doanh nghiệp mà cơ sở đánh giá độ lớn của
hệ số vòng quay hàng tồn kho là tốt hay không tốt.
Thứ hai, về các khoản phải thu: giai đoạn các khoản phải thu bắt đầu khi
bán hàng tồn kho tới khi thu được tiền hàng về.
Hệ số thu tiền bình quân = Các khoản phải thu/Doanh thu bình quân ngày
Độ lớn của hệ số thu tiền bình quân sẽ cho biết doanh nghiệp phải mất bao
nhiêu ngày để thu hồi nợ từ khách hàng. Nếu hệ số này lớn, thể hiện doanh nghiệp bị
chiếm dụng vốn nhiều, nên sẽ có ít vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất.
Khi xét cho doanh nghiệp vay, ngân hàng rất quan tâm tới chu kỳ ngân quỹ
của doanh nghiệp. Việc bán hàng thu tiền về tạo thành dòng tiền vào. Việc mua
nguyên vật liệu, hàng hóa đầu vào lại tạo ra dòng tiền ra. Khi dòng tiền vào nhỏ hơn
dòng tiền ra hoặc thời điểm có dòng tiền vào không phù hợp với thời điểm dòng
tiền ra đều dẫn đến nhu cầu tài trợ vốn của doanh nghiệp.
1.2.3.2.Nguồn vốn lưu động.
Tài sản lưu động được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, phần thiếu hụt sẽ
được tài trợ từ nguồn dài hạn. Từ đó:
VLĐ thường xuyên = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
= Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
Chỉ tiêu VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp rất
quan trọng đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cho biết tài sản cố định
của doanh nghiệp có được tài trợ chắc chắn từ nguồn vốn dài hạn hay không và cho
biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp.


23

Trường hợp 1: VLĐ thường xuyên > 0, cho biết tài sản dài hạn hoàn toàn

được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn và một phần tài sản ngắn hạn cũng được tài trợ từ
nguồn vốn dài hạn. Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn nên khả năng thanh toán
của doanh nghiệp là khả quan.
Trường hợp 2: VLĐ thường xuyên < 0, cho biết nguồn vốn dài hạn không đủ
tài trợ cho tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, khả năng thanh
toán của doanh nghiệp không được khả quan.
Để đảm bảo năng lực tài chính của doanh nghiệp, ngân hàng thường quy
định VLĐ phải tham gia một tỷ lệ nhất định và được coi là phần đối ứng của doanh
nghiệp khi muốn vay vốn tại ngân hàng.
Ngoài ra còn căn cứ vào chỉ tiêu:
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Tồn kho và khoản phải thu – Nợ ngắn hạn
- Nếu nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0, doanh nghiệp cần thêm vốn để tài trợ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Nếu nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0, doanh nghiệp không cần vay thêm
vốn tài trợ.
Như vậy, dựa vào nhu cầu VLĐ thường xuyên và các nguồn tài trợ khác của
doanh nghiệp, ngân hàng sẽ xác định HMTD cho doanh nghiệp.
1.2.3.3.Xác định hạn mức tín dụng.
Cách 1:
Bước 1: Xác định nhu cầu hợp lý cao nhất trong kỳ, dựa vào dự trữ thực tế
cao nhất kỳ trước có loại trừ đi phần dự trữ bất hợp lý
Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ trước = Dự trữ thực tế cao nhất – Hàng kém chất
lượng, chậm luân chuyển, không thuộc đối tượng cho vay của ngân hàng.
Bước 2: Xác định dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này
Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này = Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ trước + Tăng
(giảm) dự trữ do giá hàng hóa tăng (giảm) + Tăng (giảm) dự trữ do kế hoạch tăng
(giảm) sản lượng
Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này tăng hay giảm là do đánh giá của phía ngân
hàng căn cứ vào tình hình thực tế biến động thị trường.
Bước 3: Xác định HMTD:



24

HMTD = Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này – Vốn chủ sở hữu tham gia dự trữ Các nguồn khác tham gia dự trữ
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản song nhược điểm là chủ
yếu dựa vào mức dự trữ của doanh nghiệp mà không quan tâm đến vòng quay hàng
tồn kho.
Cách 2:
Bước 1: Xác định chênh lệch giữa dự trữ bình quân và dự trữ cao nhất trong
kỳ trước
Chênh lệch dự trữ kỳ trước = Dự trữ cao nhất kỳ trước – Dự trữ bình quân kỳ trước
Bước 2:
Nhu cầu dự trữ hàng hóa kỳ này = Doanh số bán tính theo giá vốn kỳ
này/Vòng quay hàng hóa dự trữ kỳ này
Trong đó:
Vòng quay dự trữ hàng hóa kỳ này = Doanh số bán tính theo giá vồn kỳ
trước/Dự trữ hàng hóa bình quân kỳ trước
Với doanh số bán tính theo giá vốn kỳ này đã bao gồm mức tăng, giảm của
doanh số bán do giá hàng hóa tăng giảm, hay mức tăng, giảm về doanh số do kế
hoạch tăng, giảm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Bước 3: Xác định HMTD cao nhất trong kỳ này
Nhu cầu tín dụng ngắn hạn dự trữ hàng hóa = Nhu cầu dự trữ hàng hóa bình
quân trong kỳ + Chênh lệch giữa dự trữ bình quân và dự trữ cao nhất – Hàng hóa
kém phẩm chất, không thuộc đối tượng cho vay của ngân hàng – Vốn chủ sở hữu và
các nguồn khác tài trợ cho nhu cầu dự trữ hàng hóa
Phương pháp này có ưu điểm là đã tính đến vòng quay hàng tồn kho, phù
hợp với thực tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là
ước lượng HMTD dựa trên mức bình quân của hàng hóa trong kho, nên có thể
không sát với tình hình thực tế sản xuất của doanh nghiệp.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động cho vay theo hạn
mức tín dụng.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động cho vay theo
HMTD. Việc tìm hiểu và phân tích các nhân tố này sẽ giúp ngân hàng nâng cao hơn


25

nữa chất lượng hoạt động cho vay theo HMTD thông qua việc tận dụng các nhân tố
có ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực.
Các nhân tố ảnh hưởng được phân thành hai loại là nhân tố chủ quan và nhân
tố khách quan.
1.2.4.1.Nhân tố chủ quan.
Đó là các nhân tố thuộc về chính bản thân ngân hàng, cụ thể đó là vấn đề về
chính sách tín dụng của ngân hàng, trình độ của cán bộ nhân viên, chất lượng hệ
thống thông tin phục vụ công việc của ngân hàng.
Thứ nhất, chính sách tín dụng là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay theo HMTD của ngân hàng. Tùy vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà
ngân hàng áp dụng các chính sách tín dụng khác nhau và phù hợp với từng đối
tượng khách hàng khác nhau. Khi ngân hàng có chính sách tín dụng mở rộng thì
quy mô cũng như số lượng cấp HMTD sẽ gia tăng. Ngược lại, một chính sách tín
dụng thu hẹp sẽ cản trở hoạt động cho vay cũng như hạn chế việc cấp HMTD
mới cho khách hàng. Nhìn chung, một chính sách tín dụng thích hợp với lãi suất
hợp lý, các dịch vụ đi kèm hấp dẫn nhiều ưu đãi sẽ thu hút được khách hàng.
Thứ hai, trình độ của cán bộ nhân viên của ngân hàng có ảnh hưởng gần như
là quyết định tới hoạt động cho vay theo HMTD. Sở dĩ, con người là nhân tố quan
trọng, trung tâm của mọi vấn đề. Muốn phát triển được sản phẩm, hoạt động có hiệu
quả, ngân hàng cần có một đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và hiểu biết
kinh tế, am hiểu pháp luật. Đội ngũ nhân viên mà yếu kém sẽ làm cho hoạt động
của ngân hàng kém hiệu quả. Vì vậy cần chú trọng công tác đào tạo cán bộ nhân

viên để có thành thạo nghiệp vụ, nắm bắt được những thay đổi của thị trường, tạo
cơ sở đánh giá chính xác được các rủi ro có thể xảy ra nhằm làm tăng tính an toàn
tín dụng.
Thứ ba, chất lượng hệ thống thông tin phục vụ công việc là một trong số
những nhân tố có ảnh hưởng lớn luôn được quan tâm. Vì thông tin tín dụng là một
trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong xét cho vay theo HMTD, mà các
thông tin do khách hàng cung cấp mang tính chủ quan. Nên, ngân hàng cần xác thực
tính chính xác của các thông tin đó, đồng thời tìm kiếm từ nhiều nguồn thông tin
khác nữa nhằm tăng hiểu biết về khách hàng để có những nhận định toàn diện, đánh
giá chính xác để đi tới những quyết định tín dụng. Ngân hàng có thể lấy thông tin
qua phương tiện đại chúng, những tìm hiểu thực tế của cán bộ ngân hàng, từ trung


×