Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (832.55 KB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
-------------------

PHẠM VIẾT XUYÊN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ
XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG –
TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành:
Mã số:
Hướng dẫn khoa học:

Quản lý đất đai
60.85.01.03
PGS.TS. Trần Viết Khanh

THÁI NGUYÊN - 2012


i

LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.



Tác giả luận văn

Phạm Viết Xuyên


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, tôi luôn nhận được động viên hướng dẫn,
giúp đỡ từ các thầy, cô, các cơ quan ... tôi xin trân trọng cảm ơn được sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.T.S Trần Viết Khanh, sự quan tâm tạo điều kiện
của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh
Tuyên Quang, UBND các xã thuộc huyện Sơn Dương, các phòng: Tài nguyên và Môi
trường, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thống kê thuộc UBND
huyện Sơn Dương,
Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Tài
nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông lâm đã tạo điều kiện cho tôi học tập và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Cảm ơn đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để
tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin gửi tới gia đình các thầy các cô, bạn bè, những người thân và đồng
nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình đó./.
Tác giả luận văn

Phạm Viết Xuyên


iii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Mục tiêu của đề tài

2

3. Yêu cầu của đề tài

2

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2

CHƯƠNG 1

3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

3


1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên
thế giới và Việt Nam.

3

1.1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp

3

1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

7

1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp

9

1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

9

1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp

10

1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

13

1.2.4 Quan điểm và khung đánh giá sử dụng đất bền vững


17

1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO (tổ chức lương
thực và nông nghiệp của liên hợp quốc)

21

1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam22
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

22

1.4.2 Những nghiên cứu trong nước

24

CHƯƠNG 2

28

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

28

2.1. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

28

2.1.1. Phạm vi nghiên cứu


28


iv
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu

28

2.2. Nội dung nghiên cứu

28

2.3. Phương pháp nghiên cứu

28

2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu

28

2.3.2. Phương pháp chuyên gia.

29

2.3.3. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

29

2.3.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất


30

2.3.5. Phương pháp xây dựng bản đồ

34

CHƯƠNG 3

35

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

35

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương.

35

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

35

3.1.2. Điều kiện kinh tế -xã hội.

43

3.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất huyện Sơn Dương

51


3.2.1. Tình hình quản lý đất đai và đánh giá thực trạng

51

3.2.2. Đánh giá chung

57

3.3. Xác định, mô tả và đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất.

58

3.3.1. Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính của huyện Sơn Dương.

58

3.3.2. Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính của huyện Sơn Dương.

62

3.4. Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Sơn Dương.

74

3.4.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của các đề xuất.

74

3.4.2. Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng của huyện Sơn Dương.


76

3.5. Đề xuất một số giải pháp thực hiện.

81

Chương 4

86

KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ

86

4.1 Kết luận.

86

4.2 Đề nghị

87


v
TÀI LIỆU THAM KHẢO

88

Phụ hục


92

LỜI CAM ĐOAN

i

LỜI CẢM ƠN

ii

MỤC LỤC

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

vi

DANH MỤC BẢNG

vi

DANH MỤC HÌNH

vii


vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

CCNNN

Cây công nghiệp ngắn ngày.

BVTV

Bảo vệ thực vật

BQ

Bình quân

CPTG

Chi phí trung gian

ĐVT

Đơn vị tính

FAO

(Food and Agriculture Organization)
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
Liên Hợp Quốc


TCP

Tổng chi phí

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT

Giá trị gia tăng

GTSP

Giá trị sản phẩm

IRRI

Viện nghiên cứu lúa Quốc tế

KH

Khấu hao



Lao động

LUT


Loại hình sử dụng đất

LUU

Kiểu sử dụng đất

TNHH

Thu nhập hốn hợp

RRA

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

PRA

Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia.


vii

DANH MỤC BẢNG

STT

Tên bảng

Trang


Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng
cây hàng năm ở Việt Nam...................................................................... 9
Bảng 2.1. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất
nông nghiệp. ......................................................................................... 32
Bảng 2.2. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất
nông nghiệp .......................................................................................... 33
Bảng 2.3. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng
đất nông nghiệp. ................................................................................... 34
Bảng 3.1. Phân loại đất huyện Sơn Dương. .................................................... 37
Bảng 3.2. Diện tích, năng xuất và sản lượng trồng trọt của huyện từ năm 2009
đến năm 2011 ....................................................................................... 45
Bảng 3.3. tình hình chăn nuôi của huyện từ năm 2009 đến năm 2011........... 47
Bảng 3.4. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Sơn Dương ....………………...52
Bảng 3.5. Tình hình biến động diện tích đất nông nghiệp của huyện giai đoạn
2005 - 2010........................................................................................... 54
Bảng 3.6. Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Sơn Dương ................ 59
Bảng 3.7. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất huyện Sơn
Dương................................................................................................... 64
Bảng 3.8. Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất huyện Sơn Dương
.............................................................................................................. 68
Bảng 3.9. Đánh giá hiệu quả Môi trường của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp huyện Sơn Dương..................................................................... 71
Bảng 3.10. Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất. ........... 73
Bảng 3.11. Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất trong 10 năm tới...... 80


viii
DANH MỤC HÌNH

STT


Tên hình

Trang

Hình 3.1 : Sơ đồ thổ nhưỡng tỉnh Tuyên Quang.

41

Hình 3.2: Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Sơn Dương năm 2010.

53

Hình 3.3. Bản đồ đề xuất một số loại hình sử dụng đất trong tương lai của
huyện Sơn Dương

79


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên
Quang có diện tích tự nhiên 78.783,51 ha, chiếm 13,43% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh (586.732,71 ha). Trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc huyện Sơn Dương đã phát huy truyền thống quê hương các mạng Tân
Trào, phát huy những tiềm năng lợi thế của địa phương, nỗ lực phấn đấu, tích
cực, thi đua lao động sản xuất, tạo sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên việc sử dụng đất của huyện trong

những năm qua cho thấy còn nhiều hạn chế: chưa khoanh định được diện tích
đất trồng lúa cần bảo vệ, đối với đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiêm ngặt
các quy định về bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa còn chậm, phát triển nuôi
trồng thủy sản và các hoạt động dịch vụ, du lịch trên địa bàn chưa tương xứng
với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Bên cạnh đó diện tích đất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục đích sang các loại đất khác, việc bù
đắp lại diện tích đất trồng lúa bị mất là vô cùng khó khăn.
Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực và giữ gìn được bản
sắc của địa phương là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời
gian tới. Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Viết
Khanh, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện Sơn Dương - tỉnh
Tuyên Quang"


2

2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ đề xuất loại
hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin số liệu, tài liệu điều tra phải
trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích, xử lý số liệu khoa học, định lượng bằng các phương pháp
nghiên cứu phù hợp và cập nhật.
- Các đề xuất phải có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi cao.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của huyện Sơn Dương trong việc
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất sẽ
cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu
quả cao.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất
nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con
người, là nơi họ sinh ra, sống và lớn lên. Nhà Thổ nhưỡng lỗi lạc người Nga,
Docutraiep cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết
quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá,
thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” [4]. Về sau, một số học giả
khác đã bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con
người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên. Học giả người Anh, Wiliam lại đưa
ra khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng
tạo ra sản phẩm từ cây trồng” [38]. Bàn về vấn đề này, C.Mác đã viết: “Đất là
tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”,
...là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và sinh sống của loài người” [4].
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một
nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề
mặt trái đất có ảnh hưởng sử dụng đất [36].

Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho
rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
[4] và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của
bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình,
mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản
trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả


4

của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [4].
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản
xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất
nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông
nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác
nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho
hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ
là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính).
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và
nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm
đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền
đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản
xuất có tầm quan trọng khác nhau. C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha

của cải vật chất, còn đất là mẹ” [4]. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà
nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” [15], Luật đất
đai 2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng”[19]. Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai
là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc
điểm:


5

- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các
hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản
phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày
càng tăng lên. Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên
quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa
của con người.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa
cầu [38]. Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất
nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản
ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Việc
khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho
quĩ đất nông nghiệp tăng lên. Đây là xu hướng vận động cần khuyến khích.
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang
hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng. Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người
và sức của. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư

cho công tác này thực sự có hiệu quả.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các
vùng, các miền [38]. Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao
động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau. Do vậy,
việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật
nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc
điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất


6

định do pháp luật của mỗi nước qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích
tụ và chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử
dụng đầy đủ và hợp lý.
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình
sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã
hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây
dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm
nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện
quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
1.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có
nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố
trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm
nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao
độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả
của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất

thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi
phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng
cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật
và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực
phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho
xuất khẩu [11].
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững.
Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất
đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà


7

còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh
thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn
liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông lâm nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước
phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông
nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận. Hầu
hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển. Tuy nhiên, khi
dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để
đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để có thêm
đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt
để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất. Kết quả là, hàng loạt diện
tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới. Đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu

cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu
bị thoái hoá do nhân tác [24]. Theo P.Buringh, diện tích đất có khả năng nông
nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền), trong
đó, đất đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha . Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng
trọt chưa được khai thác [32].
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích
đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ
diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác,
Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số


8

đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia. Ở Châu Á, đất đồi
núi chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói
chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được
trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của
Đông Nam Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu
ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác
khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do
khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu
cầu về lương thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một
tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995
[14] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện
tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu
người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích tự

nhiên là 33.094.706 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.118.221 ha,
dân số là 86.927,7 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp
là 1.163,98 m2/ người.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được
các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm
qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở
nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở
Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và
Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của


9

nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1.1.
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích
đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam
Tổng diện tích
Năm

đất sản xuất
nông nghiệp
(1000 ha)

Tổng diện
tích đất

Dân số

trồng cây


(1000

hàng năm

người)

Bình quân diện
tích đất sản xuât
nông nghiệp

(1000 ha)

m2/người

2000

12.644,3

10.540,3

77.635

1.628

2005

9.415,6

6.370,0


83.120

1.132

2006

9.436,2

6.348,2

84.156

1.121

2007

9.420,3

6.309,6

85.155

1.106

2010

10.118,2

6.437,3


86.928

1.163

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010.
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [2] đất sản xuất nông nghiệp của
chúng ta chỉ chiếm 28,38% diện tích tự nhiên và gần tương đương với diện
tích này là diện tích đất chưa sử dụng. So với một số nước trên thế giới, nước
ta có tỷ lệ đất nông nghiệp rất thấp. Do vậy, để phát triển một nền nông
nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần
xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có
hiệu quả .
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp.
Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha. Nhân loại đã làm
hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất
nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm


10

nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và
mở rộng diện tích đất nông nghiệp [31]. Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để
nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá
hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý
là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm. Để ngăn chặn những
suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời
nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho

nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức
sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính
hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất
bền vững.
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết
sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại
vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất
đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật... có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất
nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh
khối. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi
phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành
phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất,...
quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt
hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất.


11

- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều
kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp
cho sinh vật sinh trưởng và phát triển.
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ
nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh
hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi.
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện

ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp... sẽ
quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy, trong thực tiễn sử
dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế
sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản
xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn, nhiệt độ
bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian.....trực
tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây
rừng và thực vật thuỷ sinh,... lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong
việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước
cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản [31].
*Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,
cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Theo tác giả Đường
Hồng Dật, (1994) [8] thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể
hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về
điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo. Lựa
chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù
hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra.


12

Ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới,
thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng
đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất
cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong
nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng
suất kinh tế [8]. Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan

trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp.
* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã
hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách... các yếu tố này có ý nghĩa
quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất. Sau đây là một
số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất,
nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu
tố đầu vào cho sản xuất. Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc,
dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng.
Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất
hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu. Các yếu tố còn lại
cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản
xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều
này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo.
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng
đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng
về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền
thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất.


13

Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập
nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng.
- Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách

định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức,
chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính
sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và
hình thành các loại hình sử dụng đất mới.
Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được
trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm
những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu
tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế. Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai
thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để
khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Vấn đề mấu chốt là tìm ra
những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay
đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả.
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau
là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. Trong đó
đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Vậy hiệu
quả sử dụng đất là gì?
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có
nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội.
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng
hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”. (Dẫn theo Vũ
Phương Thuỵ [25]).


14

Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [27], hiệu quả chính là kết quả cũng
như yêu cầu của việc làm mang lại.
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá
trình sử dụng đất. Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại

lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những
chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất
đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét
kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả
đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh
giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết
quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm
đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của
hầu hết các nước trên thế giới [33]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật
nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó
nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh
tranh cao. Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển
nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa
đảm bảo sự bền vững.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản
chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và
những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem


15

xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [25].
* Hiệu quả kinh tế:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là

quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau.. Theo các nhà khoa học Đức
(Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu
so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức
tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp
phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [25].
Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng
chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó
cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan
hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả
kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá
trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp.
Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản
xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế
sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của
cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động
thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội. Xuất
phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra
được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao.
* Hiệu quả xã hội


16

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ

tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh
bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động,
xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức
sống của toàn dân...
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được
xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. Hiện
nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang
được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này
có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi
giải pháp về quản lý... được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại
hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi
trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa
dạng sinh học. Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững
của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính
lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương
lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và
môi trường sinh thái.
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba
hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh
tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường,
ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ


×