Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

Chủ nghĩa mác lênin về xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.83 KB, 35 trang )


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Lêi nãi ®Çu

KI L

OBO
OKS
.CO
M

Ph¸t triĨn kinh tÕ lµ vÊn ®Ị quan träng nhÊt tõ tr−íc tíi nay cđa x· héi
loai ng−êi. KĨ tõ khi con ng−êi xt hiƯn , x· héi loµi ng−êi ®· tr¶i qua vµ
h×nh thµnh x· héi : cc sèng nguyªn thủ , chiÕm h÷u n« lƯ , phong kiÕn , t−
b¶n chđ nghÜa vµ ®Ønh cao ®ang hng tíi x· héi chđ nghÜa . T−¬ng øng víi
mçi t×nh th¸i x· héi trong mét h×nh th¸i kinh tÕ mang nÐt ®Ỉc tr−ng riªng . T−
b¶n chđ nghÜa còng vËy , ®©y lµ mét giai ®o¹n mµ cđa c¶i vËt chÊt cđa x· héi
®−ỵc s¶n xt ra nhiỊu h¬n tÊt c¶ c¸c giai ®o¹n tr−íc céng l¹i . Mét giai ®o¹n
chøng kiÕn bao sù biÕn ®ỉi c¶ vỊ mỈt chÊt lÉn vỊ mỈt l−ỵng cđa x· héi loµi
ng−êi : kinh tÕ , khoa häc kÜ tht , chÝnh trÞ , v¨n ho¸ ... Tuy nhiªn trong giai
®o¹n nµy còng lµ mét giai ®o¹n ph¸t triĨn cßn nhiỊu thiÕu sãt nh− ph©n biƯt
giµu nghÌo , khđng ho¶ng king tÕ , chiÕn tranh bÊt c«ng b»ng trong x· héi ...
Tõ nh÷ng khut tËt ®ã , con ng−êi mn h−íng tíi mét x· héi ë ®ã con ng−êi
cã qun b×nh ®¼ng , kh«ng cßn ®ãi nghÌo vµ ¸p bøc bãc lét , vËt chÊt s¶n
xt ra cã thĨ ®¸p øng mäi nhu cÇu cđa con ng−êi... ®ã chÝnh lµ chÕ ®é x· héi
chđ nghÜa.
Nh−ng liƯu x· héi tiÕn lªn céng s¶n chđ nghÜa b»ng con ®−êng nµo vµ
trong bao l©u , ®©y lµ mét bµi to¸n nan gi¶i ®· ®ang vµ sÏ ®Ỉt ra víi tÊt c¶ nh©n
lo¹i. §Ĩ tiÕn lªn x· héi chđ nghÜa th× cÇn ph¶i tr¶i qua hai giai ®o¹n : ®ã lµ giai
®o¹n chđ nghÜa x· héi vµ giai ®o¹n chđ nghÜa céng s¶n. HiƯn nay n−íc ta ®ang
ë trong thêi k× qu¸ ®é lªn chđ nghÜa x· héi ; mét thêi k× mang tÝnh chÊt qu¸ ®é


, c¸i míi th× ch−a thµnh c¸i cò th× ch− hoµn toµn døt bá , thêi kÝ nµy cã sù giao
nhËp cđa nhiỊu t− t−ëng . D−íi ngän cê cđa §¶ng lµ kim chØ nam la M¸c - Lª
nin vµ t− t−ëng Hå ChÝ Minh chóng ta cóng khong thĨ ®èt ch¸y giai ®o¹n hay
phđ nhËn hoµn toµn nh÷ng thµnh tùu mµ chđ nghÜa t− b¶n ®¹t ®−ỵc , nhÊt lµ c3
chđ nghÜa t− b¶n nhµ n−íc . Theo Lªnin th× trong giai ®o¹n qu¸ ®é lªn x· héi
chđ nghÜa , chóng ta kh«ng thĨ vùt bá hoµn toµn chđ nghÜa t− b¶n nhµ n−íc
mµ ph¶i thÊy ®−ỵc nh÷ng ®iĨm m¹nh cđa nã dĨ ph¸t huy.
Sau sù sơp ®ỉ cđa Liªn x« vµ c¸c n−íc §«ng ¢u , hƯ thèng c¸c n−íc
theo chđ nghÜa x· héi bÞ ¶nh h−ëng rÊt lín . Tuy nhiªn §¶ng vµ nh©n ®©n ViƯt
Nam vÉn kiªn ®Þnh ®i theo con ®−êng ®· chän vµ b¶o vƯ thµnh qu¶ C¸ch m¹ng
. §Ĩ tiÕn lªn X· Héi Chđ NghÜa ViƯt Nam ph¶i tr¶i qua rÊt nhiỊu khã kh¨n do
xt ph¸t ®iĨm rÊt thÊp , nỊn kinh tÕ l¹c hËu , khoa häc kÜ tht thÊp , tr×nh ®é
1



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

quản lí còn yếu kém ...Vì vậy muốn phát triển xã hội chúng ta phải áp dụng
mô hình kinh tế nhà nớc t bản vào sản xuất và quản lý . Đây là một vấn đề
cần giải quyết làm sao cho phù hợp với nền kinh tế nớc ta , tình hình phát
triển kinh tế khu vực và thé giới trong sự chuyển hoá mạnh mẽ của nền kinh tế
toàn cầu , chúng ta phải đuổi kịp đợc guồng quay của toàn cầu hoákinh tế .

Cũng vì thế nên đề án kinh tế chính trị : ((Chủ nghĩa Mác - Lênin về xã hội
chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa ở Việt Nam )) là một đề án rất cấp bách không chỉ đặt ra cho các nhà
kinh tế và quản lý mà còn là một vấn đề đặt ra cho chúng ta , những cử nhân
kinh tế tơng lai một kết luận nhận thức và thực tế của nền kinh tế nớc ta
hiện nay đó là phát triển nền kinh tế TT theo định hờng Xã hội chủ nghĩa .

2



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Phần nội dung

OBO
OKS
.CO
M

A. Lý luận của V.I.Lê Nin về c CNTB nhà nớc trong thời kỳ quá độ
lên CNXH

I- Chính sách kinh tế mới và sự cần thiết phải sử dụng Chủ
nghĩa T bản Nhà nớc .

KI L

1. Chính sách kinh tế mới và sự cần thiết phải sử dụng Chủ nghĩa T bản
Nhà nớc .
Sau khi giành đợc chính quyền từ tay phong kiến lại bớc vào cuộc

chiến nhằm lật đổ chế độ thành quả cách mạng vừa đạt đợc . Một nớc nga
vừa bớc ra khỏi cuộc nội chiến với nền kinh tế lâm vào tình trang khủng
hoảng trầm trọng : Thiếu lơng thực , thiếu năng lợng , sản xuất đình đốn ,
nông dân nghèo đói , khối liên minh công nông có nguy cơ tan vỡ ... thì chỉ
sau một thời gian ngắn hầu hết các ngành đều đã đạt và vợt mức trớc chiến
tranh , nền kinh tế đợc phục hồi dần , nhân dân hăng hái thi đua lao động sản
xuất . Nớc Nga nh đợc thổi một luồng sinh lực mới kể từ khi chính sách
kinh tế mới ra đời . Thực tiễn đó đã bác bỏ những kể thù của Nhà nớc Xô viết
và những bọn hoài nghi khách coi chính sách kinh tế mới nh là một chính
sách quay về chủ nghĩa t bản .
Khi kế thừa những lý luận của Mác- Anghen , Lê Nin đã nói đến một
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là
những nhân tố của xã hội mới và những tàn tích của xã hội cũ tồn tại đan xen
lẫn nhau , đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội , t tởng , tập quán trong xã hội ... trong giai đoạn này, cha
có một lực lợng nào thắng thé tuyệt đối , có nghĩa là việc tiếp tục áp dụng
phơng thức sản xuất và phân phối cộng sản chủ nghĩa là một sai lầm đáng
tiếc và ngay giai đoạn thấp của Chủ nghĩa cộng sản chúng ta cũng không thể
đạt tới đợc .
Sự thiên tài của Lê Nin đợc thểhiện ở việc ngời đã nhận ra sự ấu trĩ ấy
và đã phát triển ngay lý luận của Mác khi cách mạng Xã hội Chủ nghĩa mới
giành đợc thắng lợi chỉ trong một thời gian rất ngắn . Lênin nhấn mạnh việc
cần phải xác định xem mình đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển.
Những xí nghiệp nhỏ trớc đây bị Quốc hữu hoá nay cho t nhân thuê hay
mua lại đẻ kinh doanh tự do , chủ yếu là xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng .
3



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN


KI L

OBO
OKS
.CO
M

Cho phép mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị và nông thôn , giữa công
nghiệp và nông nghiệp cho thơng nhân đợc tự do hoạt động ( chủ yếu là bán
lẻ ) để góp phần khôi phục kinh tế thay thế chính sách trng thu lơng thực
bằng chính sách thuế lơng thực . Theo chính sách này ngời nông dân phải
nộp thuế lơng thực với một mức cố định trong nhiều năm . Mức thuế này căn
cứ vào điều kiện tự nhiên của đất đai canh tác . Nói cách khác thuế nông
nghiệp chính là địa tô mà ngời nông dân canh tác trên ruộng đất thuộc sỏ hữu
toàn dân phải trả cho nhà nớc . Số lợng lơng thực còn lại ngời nông dân
đợc tự do trao đổi , mua bán trên thị trờng . Tổ chức thị trờng , thơng
nghiệp , thiết lập quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa nhà nớc và nông dân , giữa
thành thị và nông thôn , giữa công nghiệp và nông nghiệp . Sử dụng sức mạnh
kinh tế nhiều thành phần , các hình thức kinh tế quá đọ nh khuyến khích phát
triển sản xuất nhỏ của nông dân , thợ thủ công , khuyến khích kinh tế t bản t
nhân , sử dụng chủ nghĩa T bản Nhà nớc, củng cố lại các doanh nghiệp nhà
nớc , chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời, V.I.Lênin chủ trơng
phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nớc t bản phơng tây để
tranh thủ kỹ thuật , vốn và khuyến khích kinh tế phát triển . Danh từ nớc
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết có nghĩa là chính quyền Xôviết quyết tâm
thực hiện bớc chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là
đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa (( điều này có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng , nhất là sau thất bại nặng nề của chính sách
cộng sản thời chiến hồi mùa xuân năm 1921 . Nó chỉ là một chính sách tạm

thời trong thời chiến còn khi đất nớc đã giành lại thắng lợi thì chẳng ngời
dân nào còn muốn thực hiện nó nữa . Còn lúc này Nga là một nớc trung nông
chú không phải là một nớc t bản phát triênt nh Đức hay Anh , Pháp để mà
có thể chuyển lên ngay chủ nghĩa xã hội . Muốn duy trì đợ chủ ngihã xã hội
thì phải có những cơ sở kinh tế , xã hội nhất định . Sai lầm ở đây là những
ngời cộng sản tởng rằng chỉ cần thiết lập chế độ sản xuất quốc doanh và chế
đọ nhà nớc phân phối là đã bắt đầu một chế độ kihn tế mới khác với chế độ
trớc .
Nh vậy đến thời kỳ hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chính sách
kinh tế công sản thời chiến không còn thích hợp là một điều tất yếu và cần
phải đợc thay thế bằng một chính sách khác phù hợp hơn với quy luật của sự
phát triển

4



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

Theo Lênin , nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vẫn cần phải đợc tổ chức
theo kiểu sản xuất hàng hoá và vận động theo các quy luật kinh tế hoàng hoá ,
kinh tế thị trợng . Giai cấp vô sản lãnh đạo cần thiết phải biết sử dụng tốt các
quan hệ hàng - tiền , các phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá để thực hiện

đợc mục đích của mình . chính sách kinh tế mới ( NEP ) ra đời . Vậy thực
chất của chính sách này là nh thê nào và nó có u điểm gì hơn so với chính
sáchsách cộng sản thời chiến.
Có thể khái quát toàn bộ nội dung của chính sách kinh tế mới thành
chính sách phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất , đặc biệt đối với một nớc
tiểu nông quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây đợc coi là nhiệm vụ cơ bản và
bức thiết nhất , phù hợp với cơng lĩnh mà Đảng đã đề ra .
Chúng ta biết rằng bất cứ một lí luận nào đa ra đều phải dựa trên những
cơ sở thực tế khách quan . Nớc Nga lúc bấy giờ là một nớc trung nông ,
nông dân chiếm đại đa số nhng sau chiến tranh nó lại rơi vào tình trạng thiếu
lơng thực trầm trọng , nạn đầu cơ tích trữ lúa mì gia tăng khiến cho chính
phủ không thể kiểm soát đợc tình hình . Các hoạt động sản xuất đều bị đình
trệ , toàn bbộ nền đại công nghiệp bị phá huỷ toàn bbộ sau chiến tranh , công
nhân thiếu việc làm , thiếu lơng thực , đời sống hết sức khó khăn . Kể cả đối
với một nớc giàu nhất và phát triển nhất thì sau cuộc chiến tranh đế quốc tàn
phá cũng chỉ có thể khôi phục đợc nền đại sản xuất công nghiệp sau nhiều
năm . Vậy với một nớc tiểu nông , giải pháp tối u để khôi phục nền kinh tế
phải chăng là cải thiện đời sống của ngời nông dân và nâng cao lực lợng sản
xuất của họ , đồng thời trong một chừng mực nào đó có thể khôi phục nền tiểu
công nghiệp để giúp đỡ ngay một phần nào đó cho nền king tế nông dân ?
Lênin khẳng định (( phải bắt đầu đầu t nông dân , ngời nào không
hiểu điều đó , ngời nào có ý đa vấn đề nông đân lên hàng đầu nh thế là
một sự từ bỏ hoặc tơng tự nh sự từ bỏ chuyên chính vô sản , thì chẳng qua là
vì ngời đó không chịu suy nghĩ kĩ càng vấn đề đó và bị loèi nói chống rỗng
chi phối )) . Tuy giai cấp vô sản nắm chính quyền nhng một sự liên kết chặt
chẽ giữa giai cấp nông dân trong một nớc tiểu nông sẽ là điều kiện cần để
thực hiện đợc chủ nghĩa xã hội . Giai cấp t sản với t cách là giai cấp lãnh
đạo cần thiết phải biết hớng chính sách vào việc giải quyết trớc tiên những
vấn đề cấp thiết nhất , mấu chốt nhất . Mà (( vấn đề cấp thiết nhất hiện nay là
dùng các biện pháp có thể khôi phục ngay lực lợng sản xuất cuả kinh tế nông

dân )) . Chính sách thuế lơng thực và tự do trao đổi ra đời chính là sự biểu
5



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

hiện quan điểm đó của Lênin . Đối với những ngời tiểu nông thì chế độ xã
hội chủ nghĩa hay chế độ t bản không quan trọng , điều mà họ quan tâm là
họ sẽ đợc lợi nh thế nào . Việc tự do trao đổi hàng hoá và lơng thực thừa
đẫ tạo ra một động lực thúc đẩy tinh thần hăng say lao động của ngời nông
dân . Đối với nớc Nga lúc bấy giờ , nông nghiệp phát triển tất sẽ kéo theo các
ngành khác phát triển . Chính điều đó đã củng cố thêm mối liên minh công
nông và vô sản đợc sự ủng hộ của những nông dân nghèo khổ . Tuy nhiên
nói đến tự do trao đổi là tự do buôn bán , mà tự do buôn bán theo quan điểm
của Lênin thời đó - tức là lùi lại chủ nghĩa t bản. Lênin chỉ rõ , tự do buôn
bán là khôi phục chủ nghĩa t bản trên một mức độ lớn , là tự do của chủ
nghĩa t bản . Điều đó có phải là một thất bại nặng nề của giai cấp vô sản hay
không hay chỉ là một bớc lùi mang tính chiến lợc mà chính quyền Xô Viết
thi hành nhằm đạt đợc cái mà mình muốn .
Cần thấy ngay rằng với chính sách tự do trao đổi , từng lớp sản xuất nhỏ
đã phát triển nhanh chóng và chủ nghĩa t bản là cần cho đông đảo quần
chúng nông dân và cho t bản t nhân là ngời phải buôn bán để thoã mãn

nhu cầu nông dân . Để vừa khuyến khích sản xuất phát triển mà vẫn giữ đợc
bản chất chuyên chính của mình , giai cấp vô sản chỉ có thể thừa nhận cho chủ
nghĩa t đợc phát triển ở một chừng mực nào đó . T bản t nhân cần phải
đợc phát triển theo sự điều tiết của Nhà nớc , và điều đó tất dẫn đến sự ra
đời của chủ nghĩa t bản Nhà nớc .
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa t bản nhà nớc
là ở ngay tình trạng sản xuất của nớc Nga lúc bấy giờ . Mác và Anghen dự
báo rằng : Cách mạng vô sản và do đó chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản
sẽ nổ ra và thắng lợi cùng một lúc , hoặc trong phần lớn các nớc t bản tiên
tiến ở tây âu . Thế nhng nớc Nga là một nớc t bản trung bình - theo cách
đánh giá của Lênin - đang muốn tiến lên con đờng chủ nghĩa xã hội . Nó
không phải là nớc Anh xã hội chủ nghĩa hay nớc Đức xã hội chủ nghĩa . Vì
vậy nếu chỉ muốn không thôi mà không có nền tảng kinh tế vững chắc thì con
đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội đột phá vào tơng lai là một điều không tởng
. Lênin nói rõ thêm không có kĩ thuật t bản chủ nghĩa đựoc xây dựng trên
những trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại thì không thể nói
đến chủ nghĩa xã hội đợc . Nhiệm vụ của chính quyền vô sản Nga là hết sức
nặng nề . Làm sao để nớc Nga vốn lạc hậu về khoa học kĩ thuật , trình độ dân
chí thấp lên một nớc có trình độ khoa học kĩ thuật phát triển , khoa học kĩ
6



THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

KI L

OBO
OKS
.CO

M

thuật tiến tiến khi mà đại đa số nhân dân là nông dân nghèo chỉ có biết sản
xuất nông nghiệp . Mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp , nông dân
với công nhân không chỉ mang tính chất một chiều mà ngời nông dân cũng
cần những sản phẩm , hàng hoá của công nghiệp và thủ công nghiệp, điều đó
sẽ kích thích cả công nghiệp và nông nghiệp phát triển . Thế nhng sau chiến
tranh nớc Nga còn lại gì ?
Chỉ nh " một ngời bị đánh gần chết ... và may mà nó vẫn có thể chống
nạng mà đi đợc " . Không có bất kỳ sự ủng hộ của cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở một nớc hay một số nớc nào, nuớc Nga phải dựa vào nỗ lực của
mình là chính nhng điều đó vẫn chua đủ . Dân tộc Nga cần phải dựa vào thời
đại để tồn tại , để xây dựng lý tởng của mình . Trong khi chủ nghĩa t bảnvẫn
mạnh thì tại sao ta không dựa vào nó để sống ? Lênin nói rõ điều đó chúng ta
không thể tự mình làm đợc nếu không có sự giúp đỡ của t bản nớc ngơài .
Ngời nào không chìm đắm trong ảo tởng mà nhìn vào thực tế , thì phải hiểu
rõ điều đó . Theo Lênin cần phải du nhập chủ nghĩa t bản từ bên ngoài bằng
những hợp đồng buôn bán với các nớc t bản lón bằng chính sách tônhợng .
Tóm lại bằng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa t bản nhà nớc , chủ
nghĩa t bản nhà nớc sẽ làm một bớc tiến so với tình hình hiện nay trong
nớc cộng hoà Xô Viết của chúng ta . Nếu chẳng hạn trong nửa năm nữa
chúng ta thiết lập đợc chủ nghĩa t bản nhà nớc thì đó sẽ là thắng lợi to lớn
và sẽ đảm bảo chắc chắn rằng qua một năm sau chủ nghĩa xã hội sẽ đợc củng
cố hoần toàn và trở nên vững chắc .
Tại sao một nớc xã hội chủ nghĩa lại có thể tồn tại một hình thứccủa
chủ nghĩa t bản nhng đó lại là nhận xét của V.I.Lênin , ngời đã sáng lập ra
Đảng cộng sản Xô Viết đa dân Nga đi theo con đờng chủ nghĩa t bản .
Bằng những chính sách tiến bộ và những thành quả đạt đợc sau một thời gian
ngắn thực hiện chính sách kinh tế mới ( NEP ) mà nội dung chủ yếu của chính
sách này là việc thực hiện chủ nghĩa t bản nhà nớc. Lênin đã chứng minh

đợc rằng nhận định trên là hoàn toàn đúng đắn với một nớc Nga có chính
quyền mới non trẻ và một nền kinh tế đi lên từ lạc hậu .
2/ Thành tựu của chính sách kinh tế ( NEP ) .
Chính sách kinh tế mới đã tạo điều kiện phát triển lực lợng sản xuất ở cả
thành thị lẫn nông thôn , vì nó đắp ứng đợc nhu cầu của qui luật kinh tế của
nền sản xuất xã hội chủ nghĩa còn mang tính chất hàng hoá và có nhiều thành
phần . Nhờ đó , trong một thời gian ngắn , Nhà nớc Xô Viết đã khôi phục
7



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

®−ỵc nỊn kinh tÕ qc d©n bÞ chiÕn tranh tµn ph¸ , · tiÕn ®−ỵc mét bøoc dµi
trong viƯc cđng cè khèi liªn minh c«ng n«ng ; mét Nhµ n−íc c«ng n«ng nhiỊu
d©n téc ®Çu tiªn trªn thÕ giíi ®· ®−ỵc thµnh lËp , ®ã lµ liªn bang céng hoµ x·
héi chđ nghÜa X« ViÕt .
ChÝnh s¸ch kinh tÕ míi cßn cã ý nghÜa qc tÕ cđa nã . §èi víi c¸c n−íc
tiªn tiÕn lªn chđ nghÜa x· héi ®Ịu cÇn thiÕt vËn dơng tinh thÇn c¬ b¶n cđa
chÝnh s¸ch ®ã bch¼ng h¹n nh− vÊn ®Ị quan hƯ hµng ho¸ - tiỊn tƯ , nguyªn t¾c
liªn minh c«ng n«ng , sư dơng nỊn kinh tÕ nhiỊu thµnh phÇn .
ChÝnh s¸ch kinh tÕ míi ®−ỵc qu¸n triƯt trong c¸c ngµnh kinh tÕ vµ lÊy
viƯc kh«i phơc n«ng nghiƯp lµm nhiƯm vơ hµng ®Çu , lµ vÊn ®Ị cÊp b¸ch tr−íc

m¾t . §Õn ci xu©n n¨m 1922 , Liªn X« ®· v−ỵt qua ®−ỵc n¹n ®ãi vµ ®Õnn¨m
1925 , n«ng nghiƯp Liªn X« ®· v−ỵt møc tr−íc chiÐn tranh .
Tỉng s¶n l−ỵng c«ng nghiƯp n¨m 1925 so víi n¨m 1913 míi ®Ỉt 75.5%.
tuy nhiªn ngµnh iƯn vµ c¬ khÝ chÕ t¹o v−ỵt møc tr−íc chiÕn tranh , nhiỊu xÝ
nghiƯp c«ng nghiƯp nhĐ vµ c«ng nghiƯp thùc phÈm ®· ®Ỉt vµ v−ỵt mø tr−íc
chiÕn tranh . Trong viƯc thùc hiƯn chÝnh s¸ch kinh tÕ míi , Lªnin coi th−¬ng
nghiƯp lµ m¾t xÝchtrong chi d©y xÝch c¸c sù biÕn lÞch sư mµ Nhµ n−íc ph¶i
®em toµn lùc ra mµ n¾m lÊy nã . Do ®ã th−¬ng nghiƯp ®· ®−ỵc t¨ng c−êng
m¹nh mÏ .
II-Chđ nghÜa t− b¶n nhµ n−íc
1.Khái niệm:
Chủ Nghóa Tư Bản là một hình thái kinh tế xã hội lớn của xã hội
loài người với các giai đoạn phát triển khác nhau.Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
Nước là một trong những giai đoạn lòch sử quan trọng của Chủ Nghóa Tư
Bản .Không một ai có thể phủ nhận thành quả của Chủ Nghóa Tư Bản ù đã
đạt được ,đó là một bứơc ngoặt của lòch sử.
C.Mac đã có nhận xét xác đáng rằng trong vòng chưa đầy một thế
kỷ thống trò của mình Chủ Nghóa Tư Bản đã tạo ra một mức sản xuất khổng
lồ bằng tất các thế hệ loài người trước đó đã tạo ra .Từ lúc xuất hiện loài
người ,họ đã sốnng lâu dài trong nền sản xuất nhỏ lạc hậu,phân tán ,năng
xuất vô cùng thấp kém, không bảo đảm tái sản suất giản đơn.Từ đầu thế kỷ
XVI đến nay,lần đầu tiên trong lòch sử ,Chủ Nghóa Tư Bản đã chuyển nền
sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn với đặc trưng về chất so với sản xuất
nhỏ.Sự thắng lợi này diễn ra đầu tiên ở nước Anh rồi lần lượt sang các nước
Pháp ,Đức,…và các nước khác . Cùng với đà phát triển của lực lượng sản
8



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


KI L

OBO
OKS
.CO
M

xuất ,quá trình xã hội hoá sản xuất cũng đạt đượcnhưỡng bước tiến lớn , với
trình độ cao . Hiệp tác đơn giản , công trường thủ công nền đại công nghiệp
cơ khí là những giai đoạn phát triển xã hội hoá sản xuất Tư Bản Chủ Nghóa
.
Mầm mống đầu tiên của Chủ Nghóa Tư Bản chính là sự tích luỹ tư
bản nguyên thuỷ, với sự buôn bán nô lệ ,trao đổi buôn bán các loại hàng
hoá với nước ngoài do nền sản xuất thủ công phát triển và do bóc lột thuộc
đòa các nước đã tích luỹ được một khối lượng khổng lồ tư bản cho nền sản
xuất tư bản sau này .Tiếp tục phát triển kinh tế với sự trợ giúp đắc lực của
khoa học kó thuật các nước Tư bản tiếp tục phát triển vượt bậc về kinh tế ,
sự cạnh tranh của các nước về thi trường tiêu thụ hàng hoá ,thuộc đòa…đã
dẫn đến các cuộc chiến tranh lớn mà điển hình là hai cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất và thứ hai vô cùng ác liệt và thảm khốc.
Hình thức xã hội hoá cao hơn khi Chủ Nghóa Tư Bản chuyển lên
giai đoạn Chủ Nghóa Tư Bản độc quyền va đỉnh cao là Chủ Nghóa Tư Bản
Nhà Nước . Chủ Nghóa Tư Bản độc quyền Nhà Nước là hình thức thống trò
của Chủ Nghóa Tư Bản độc quyền dựa trên cơ sở tích tụ và tập trung tư bản
ra đời từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất ,nó xuất hiện đầu tiên ở Đức .Do
cạnh tranh quá khốc liệt nên các nhà sản xuất tư bản có xu hướng liên kết
với nhau hay quy luật cá lớn nhuốt cá bé hìmh thành nên các tập đoàn độc
quyền quốc gia đến các tập đoàn xuyên quốc gia cac- ten, xanh-dica,congglomera .Trong giai đoạn này vai trò của nhà nước con chưa thực
sự quan trọng lắm nhưng sau này thì nó càng thể hiện vai trò của mình như

trong giai đoạn Chủ Nghóa Tư Bản độc quyền Nhà Nươâc cộng sản thể nói tư
bản dẫ tạo ra phần một nền tảng kinh tế vững chắc với cơ sở khoa học kó
thuật tiên tiến,nền sản xuất cơ khí ,tự động hoá tạo ra một khối lượng vật
chất khổng lồ.
Lênin đã từng so sánh nước nga với nước Đức lúc bấy giờ và cho rằng
nếu nước Nga có đầy đủ vật chất kỹ thuật như nước Đức thì có thể chuyển
tiếp lên Chủ Nghóa Xã Hội mà không phải trải qua bất kì một giai đoạn
trung gian nào. Người nhận đònh rằng “Chủ Nghóa Tư Bản đọc quyền Nhà
nước là sự chuẩn bò vật chất đầy đủ nhất cho Chủ Nghóa Xã Hội ,là phòng
chờ đi vào Chủ Nghóa Xã Hội mà giữa nấc thang đó với nấc thang Chủ
Nghóa Xã Hội không còn một nấc thang nào nữa cả” .Như vậy xã hội cộng
sản chỉ có thể xuất hiện một cách tự nhiên khi những tiền đề vật chất và
9



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

tiền đề xã hội được chuẩn bò đầy đủnhất , một “phòng chờ” lý tưởng cho
Chủ Nghóa Xã Hội đã sẵn sàng.
Nhưng thắng lợi của Cách Mạng Tháng 10 Nga không xuất phát từ
tiền đè nói trên.Là một nước tư bản phát triển trung bình và còn nhiều mặt
hạn che á, nước Ngak có cơ sở vật chất kó thuật , không có lực lượng sản xuất

phàt triển nhằm tạo tiền đề vật chất cho Chủ Nghóa Xã Hội ra đời .Chính
vì vậy nó không thể quá độ trực tiếp lên Chủ Nghóa Xã Hội mà phải lấy
mô hình gián tiếp đi lên Chủ Nghóa Xã Hội .người nói trong bối cảnh đó
,phải biết bắc chiếc cầu nhỏ xuyên qua Chủ Nghóa Tư Bản lên Chủ Nghóa
Xã Hội ,đó là Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Ø nước _một sự trở lại con đường phát
triển hợp quy luật kinh tế.
Khi LÊ_NIN đã đưa quan niệm về Chủ Nghóa Tư Bản nhà nước ,đã
có rát nhiều người hoang mang giao động .ngay cả bản thân LÊ_NIN cũng
bất ngờ về “thứ Chủ Nghóa Tư Bản Nhà nước” không ai dự kiến này .Mọi
người cho rằng” Chủ Nghóa Tư BảnNhà nước là Chủ Nghóa Tư Bản “,và ta
có thể cần hiểu như thế thôi .LÊ-nin đã thuyết phục mọi người rằng đó là
cách hiểu kinh viện ,sai lầm vi rơi vào cái bệnh trí thức và chủ nghóa tự do
.bây giờ muốn xây dựng thành công Chủ Nghóa Xã Hội thì chúng ta phải
thẳng thắn thừa nhận rằng “toàn bộ quan điểm của chúng ta về Chủ Nghóa
Xã Hội đã thay đổi về cơ bản”.Theo LÊN_NiN,Chủ Nghóa Xã Hội Nhà
nước là sản phẩm của sự can thiệp tích cực của nhà nước và hoạt động của
các xí nghiệp tư bản .Nếu là nhà nước tư sản thì Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
nước phucv vụ lợi ích giai cấp tư sản,nếu là nhà nước Xã hội chủ nghóa thì
phục vụ cho lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Trong thời kì quá độ lên Chủ Nghóa Xã Hội ,Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
nước mang tính chất đặc biệt đó là tính chất chính trò nhà nước thay đổi
,nhà nước Xã hội chủ nghóa –Nhà nước của dân do dân ,vì dân .Nhà nước
này có trong tay một thực lực kinh tế dựa trên hình thức sở hữu xã hội mà
nhà nước là đại biểu nắm giữ những vò trí then chốt trọng yếu của nền kinh
tế ,giữ vai trò chủ đạo của các thành phần kinh tế khác .
Sự phát triển của Chủ Nghóa Tư Bản nhà nước trong thời kì quá độ
lên Chủ Nghóa Xã Hội không có mục đích tự thân ,mà là phương tiện ,con
đường để tăng sản xuất ,là biện pháp biến các xí nghiệp Tư bản chủ nghóa
thành Xã hội chủ nghóa .LÊ-NIN nói “thường chúng ta vẫn còn lập lại cái
lý luận cho rằng Chủ Nghóa Tư Bản là xấu, Chủ Nghóa Xã Hội là tốt “Cũng

như quan điểm trước đây cho rằng “mặt trăng Trung Hoa tròn hơn mặt
10



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

trăng Hoa KÌ “.Nhưng cái lí luận ấy là sai vì nó không đếm xỉa đến toàn bộ
kết cấu kinh tế xã hội hiện có ,mà chỉ nhìn thấy có hai kết cấu trong số đó
thôi .Chủ Nghóa Tư Bản la xấu so với Chủ Nghóa Xã Hội nhưng là tốt so
với nền tiểu sản xuất .Chủ Nghóa Tư Bản nhà nước về kinh tế cao hơn rất
nhiều so với nền kinh tế lúc đó của nươc Nga vì vậy nước Nga phải biết lợi
dụng nó làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và Chủ Nghóa Xã
Hội ,làm phương tiện ,làm con đường ,phương pháp,phương thức để û tăng
lực lượng sản xuất lên .Và điều đó sẽ đưa nước Nga đến Chủ Nghóa Xã Hội
bằng con đường chắc chắn nhất.
Với điều kiện đặc biệt đó ,với sự kiểm kê, kiểm soát và sự thỗn hợp
của vốn của nhà nước vào các doanh nghiệp công nghiệp,nông nghiệp và
dòch vụ sẽ hướng sự hoạt động của các doanh nghiệp theo tay lái của nhà
nước xã hội chủ nghóa .Bởi vậy Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước theo cách nói
của Lê-nin “là cái không đáng sợ “là sản phẩm tất yếu “là một “bước tiến
trong sự phát triển của lòch sử đối với các nước quá độ lên Chủ Nghóa Xã
Hội tư một nền kinh tế lạc hậu

Có thể nói nội dung của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước qua các mặt
sau :
-Sự kiểm kê ,kiểm soát đối với các thành phần kinh tế .
_Các hình thức kinh tế quá đôï dựa trên các hình thức sở hữu hỗn hợp về
vốn giữa nhà nước XãHCN với nenà kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài
nước.
-Việc học tập ,sử dụng có chọn lọc những thàng tựu khoa học công nghệ
và chuyển giao khoa học kỹ thuật,công nghệ ,khoa học kinh tế và quản lý
kinh tế ở các nước tư bản tiên tiến.
-Việc coi trọng lợi ích kinh tế ,hiệu quả kinh tế thông qua việc nhà nước
vận dụng cơ chế thò trường với tư cách là động lực kinh tế của sự phát
triểnnề kinh tế quốc dân.
Từ các khía cạnh trên có thể quan niệm sự hình thành và phát triển Chủ
Nghóa Tư Bản.Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghóa Xã Hội ,về nội
dung gắn liền với 3 mức độ:
-Ở mức cao nhất và toàn diệïn nhất , Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước được
quan niệm như là một hình thức kinh tế-xã hội quá độ
-Ở mức hẹp và thấp hơn ,Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước được quan niệm
là một chính sách,một công cụ mà nhà nước Xã Hội Chủ Nghóa dùng để

11



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M


điều tiết và quản lý hoạt động của các thành phần kinh tế ,nhất là kinh tế tư
bản tư nhân trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghóa Xã Hội .
-Dưới góc nhìn kinhtế,Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước được quan niệm là
các hình thức kinh tế trung gian quá độ.Các hình thức này dựa trên hình
thức sở hữu hỗn hợp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong
và ngoài nước.

KI L

2.Điều kiện thực hiện Chủ Nghóa Tư Bản nhà nước và việc sử
dụng có hiệu quả hình thức này.
Bảnû thân Chủ Nghóa Tư Bản không thể tự nó phát triển trong lòng
chế độ Xã Hội Chủ Nghóa dù rằng sự phát triển của nó có là khách quan ,tất
yếu đi chăng nữa.Vì vậy muốn duy trì Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước thì
chính quyền vô sản phải tạo ra các điều kiện để thứ Chủ Nghóa Tư Bản
nàycó thể tồn tại và phát triển.Việc sử dụng sao cho có hiệu quả hình thức
kinh tế Tư bản Nhà Nướccũng là một vấn đề cần được quan tâm .
Theo lý luận của V.I.Lênin về Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước Û thì Chủ
Nghóa Tư Bản Nhà Nước là sản phẩm của sự can thiệp tích cực của nhà
nước vào hoạt động trong các xí nghiệp tư bản.Vậy muốn Chủ Nghóa Tư
Bản Nhà Nước ra đời thì điều trước tiên là phải có quan hệ sản xuất Tư
Bản Chủ Nghóa , tức là cần phải có giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.Ở
nước Nga lúc bấy giờ giai cấp tư sản hầu như không còn tồn tại , các xí
nghiệp tư bảnkể cả vừa và nhỏ đều bò quốc hữu hoá,nền đại công nghiệp
Tư Bản Chủ Nghóa bò tàn phá nặng nề, cá công xưỏng và nhà máy bò
ngừng hoạt động .Giai cấp vô sản vốn là giai cấp sản xuất ra của cải vật
chất trong các xí nghiệp của nền đại công nghiệp Tư Bản Chủ Nghóa nên
họ, những người công nhân “đã bò mất tính giai cấp,nghóa là bò dẩy ra ngoài
con đườn tồn tại giai cấp của mình , và không còn tồn tại với tư cách là giai

cấp vô sản nữa..Đôi khi về hình thức nó đựoc coi là giai cấp vô sản, nhưng
nó không có gốc rễ kinh tế.Vì vậy một yêu cầu đặt ra là muốn khôi phục
quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghóa thì phải phục hồi giai cấp tư sản trong
nướcvà kêu gọi đầu tư của tư sản nước ngoài.Nhờ đó giai cấp công nhân
mới có đièu kiện tiếp tục phát triển, “ được làm việc trong các công xưởng
cơ khí lớn chứ không làm cái việc đầu cơ, chứ không phải chế tạo cái bật
lửa để bán… .Quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghóa xét về mặt sở hữu thì nó
tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau: Sở hữu tư nhân Tư Bản Chủ
Nghóa , Sở hữu tập thể Tư Bản Chủ Nghóa , Sở hữu nhà nước ,Sở hữu hợp
12



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

tác , Sở hữu không mang tính chất Tư bản Nhà nước .Tương ứng với các
loại hình thức khác nhau là sự đa dạng về các thành phần kinh tế. Đây cũng
là một phần nội dung của chính sách kinh tế mới mà Lênin đã đề ra.Và nó
cũng phù hợp với nền kinh tế thời kỳ quá độ.Quan hệ sở hữu Tư Bản Chủ
Nghóa với hình thức phổ biến nhất là sở hữu cổ phần đựoc C.Mác coi là
bước quá độ để “biến tất cả những chức năng của quá trình tái sản xuất
hiện còn gắn với quyền sở hữu tư bản giản đơn than chức năng của người
sản xuất đã liên hiệp lại với nhau ,tức là thanh chức năng của xã hội.,và do

đó xí nghiệp của nó cũng biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội.
Điều kiện thứ hai để phát triển Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước có sự can
thiệp của nhà nước vào nền kinh tế .Điều này có ý nghóa rất quan trọng vì
Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghóa Xã Hội
phản ánh mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và nhà nước của họ với nhà
nước tư bản .Kinh tế tư bản nhà nước là một kiểu tổ chức kinh tế do nhà
nước của họ với các nhà tư bản.Kinh tế tư bản nhà nước là một kiểu tổ chức
kinh tế do nhà nước của giai cấp công nhân chủ động tạo ra để khai thác
,thu hút các nguồn lực đònh hướng các thành phần kinh tế khác phát triển
theo con đường Xã Hội Chủ Nghóa .Khi áp dụng Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
Nước vào nền kinh tế Nga thì Chủ Nghóa Tư Bản sẽ có điều kiện phát triển
trong lòng một nước đi theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa .và như vậy thì
Chủ Nghóa Tư Bản hay giai cấp vô sản sẽ chiến thắng? Liệu rằng nhà nước
vô sản có khống chế được các nhà tư sản mà phát triển theo những đònh
hướng ,kế hoạch mà mình đặt ra hay không hay lại bi lật đổ và bò chế
nhạo.Ở đây vai trò của nhà nước là rất to lớn .Để đònh hướng sự phát triển
của Chủ Nghóa Tư Bản theo chế độ Xã Hội Chủ Nghóa thì nhà nước vô sản
không chỉ đơn thuần đóng vai trò người quản lý,điều hành kinh tế quốc dân
mà còn phải có thực lực kinh tế làm cơ sở .Do đó nhà nước cần trực tiếp
đầu tư vào những lónh vực , những ngành trọng yếu , những vò trí “pháo đài”
,”huyết mạch” của nền kinh tế quốc dân như: kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
, hệ thống tài chính ngân hàng, quốc phòng an ninh…
Nhà nứơc vô sản tác động đến quá trình tuần hoàn TB thông qua các
chính sách về thuế

13



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Tư liệu sản xuất
T–H

…….Sản xuất …..H’_T’

KI L

OBO
OKS
.CO
M

Sức lao động
Mỗi giai đoạn của quá trình tuần hoàn nhà nước lại có những chính
sách tác động nhau như : ở gai đoạn bán (H’ – T’) chính quyền Xô Viết có
thể yêu cầu nhà tư bản bán thêm từ 50% đến 100% số lượng sản phẩm tiêu
dùng cho các công nhân ở xí nghiệp tôcũng với một giá bán, làm như vậy
là để cải thiện đời sống công nhân khác .
Từ những phân tích tên ta thấy rằng việc áp dụng thành công Chủ Nghóa
Tư Bản nhà nước đòi hỏi phải có những cải biến sâu sắc trong cách nhìn
và trong cách làm của giai cấp vô sản đối với Chủ Nghóa Tư Bản .Đây là
môït vấn đề mới mẻ cần được tiếp tục nghiên cứu từ kinh nghiệm thực tiễn.
3.Tác dụng của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước .
Qua những phân tích trên chúng ta thấy rằng việc phát triển Chủ
Nghóa Tư Bản Nhà Nước trong thì kỳ quá độ lên Chủ Nghóa Xã Hội là
một tất yếu khách quan . Đây là thứ Chủ Nghóa Tư Bản “có lợi và cần
thiết” ,là”điều đáng mong đợi” cho chúng ta.
Theo Lê Nin ,cần phải nhận thức rõ : Thực hành Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
Nước sẽ có lợi cho ai ?
Nước Đức lúc bấy giờ “là đỉnh cao về kỹ thuật đại Tư Bản Chủ

Nghóa hiêïn đại và về tổ chức có kế hoạch , phục tùng chủ nghóa đế quốc
giống_kẻ_tư sản”.Nếu như thay thế chính quyền quân phiệt Đức bằng
chính quyền Xô Viết thì nước Đức có tất cả các điều kiện để xây dựng
thành công Chủ Nghóa Xã Hội .
Với thực trạng nước Nga hiện nay thì điều quan trọng trước tiên là
phải phát triển lực lượng sản xuất ,tăng lên ngay hoặc trong một thời gian
ngắn bằng sự “du nhập”
Chủ Nghóa Tư Bản từ bên ngoài vào.Và tác dụng đầu tiên của Chủ Nghóa
Tư Bản Nhà Nước là lợi dụng sự phát triển của khoa học kó thuật của các
nước tư bản phát triển để xây dựng nền đại sản xuất công nghiệp.Qua đó
giai cấp công nhân có thể học tập được cách quản lý và tổ chức một nền sản
xuất lớn , dần khôi phục lại tính giai cấp đã bò mất của mình. “Chừng nào
giai cấp công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản xuất với quy mô lớn”
, chừng nào lực lượng sản xuất xã hội được xây dựng trên những phát minh
mới nhất của khoa học hiện đạithì khi đó mới có thể nói đến Chủ Nghóa Xã
Hội được.
14



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

Nước Nga tiểu nông bò bao trùm bởi nạn đầu cơ và tình trạng quan liêu

chủ ngiã mang tính hệ thống , xã hội rơi vào khủng hoảng , tín nhiệm của
nông dân đói với chính quyền Xô Viết bò giảm sút nghiêm trọng .Chỉ có
Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước mới “cứu nguy”được cho nền chuyên chính
vô sản.Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước sẽ là sự liên hợp nền sản xuất nhỏ lại
thành nền đại sản xuất , một đặc trưng của xã hội cộng sản . Một nước tiểu
nông với đại đa số những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì “tính tự phát tiểu
tư sản chiếm ưu thế và không thể không chiếm ưu thế” .Chính những người
tiểu tư sản này đang ngấm ngầm phá hoại sự độc quyền của Nhà nước XÔ
Viếtbằng việc đầu cơ tích trữ, chống lại các biện pháp kinh tế của chính
quyền.Nhưng khi Lênin đưa ra thành phần kinh tế tư bản nhà nước thì mội
người đều cho răng chính Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước mới là kẻ thù của
giai cấp vô sản .Vậy thực chất vấn đề ở đây là gì?Chúng ta đều biết rằng cơ
sở kinh tế của nạn đầu cơlà tầng lớp những kẻtiểu tư hữu vô cùng rộng rãi ở
nước Nga,có đại diện của mình trong mỗi người tiểu tư sản, ỏ¬ đây không
phải là Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước đấu tanh vớic1 mà là giai cấp tiểu tư
sản cộng với Chủ Nghóa Tư Bản tư nhân đấu tranh chống lại cả Chủ Nghóa
Tư Bản Nhà Nước và Chủ Nghóa Xã Hội .Như vậy trong thời kỳ quá độ Chủ
Nghóa Tư Bản Nhà Nước sẽ là một nhân tố quan trọng giù giai cấp công
nhân sớm hoàn thành lý tưởng của mình .
Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước do nhà nước vô sản kiểm soát và đièu tiết có
thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp .Nhờ việc tăng
nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiiệp mà ổn đònh dược xã hội ,thoát
khỏi khủng hoảng và phần nào khắc phục được nạn đầu cỏ nhỏ tràn lan…
Chính với ý nghóa vai trò của việc thực hiện Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước
như vậy mà Lênin nói rằng đó là điều cần thiết đáng mông đợi trong diều
kiện của chính quyền Xô Viết lúc bấy giờ .

15




THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4.Các hình thức của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước được Lênin đưa
ra :

KI L

OBO
OKS
.CO
M

* Hình thức tô nhượng :là sự giao kèo ,sự liên kết liên minh giữa
chính quyền nhà nước Xô Viết ,nghóalà nhà nước vô sản với Chủ Nghóa Tư
Bản Nhà Nước chống lại thế lực phát triển tư hữu ,người nhận tô nhượng là
nhà tư bản .Nhưng trong hình thức này cả nhà tư bản lẫn chính quyền Xô
Viết đều nhận đượcnhững quyền lợi nhất đònh.
Người nhận tô nhượng phải có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân
trong các xí nghiệp tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của nước
ngoài.
Ngoài ra người nhận tô nhượng phải bán thêm cho chính quyên Xô Viết
(nếu có yêu cầu )từ 50%đến 100%số lượng sản phẩm tiêu dùng cho các
công nhân các xí nghiệp khác cũng với giá như trên để cải thiện đời sống
công nhân khác .
Điều kiện trả lương cho công nhân sẽ quy đinh riêng trong từng hợp
đồng đảm bảo mức sống cho công nhân .Công đoàn có quyền đòi của Nga
cũng như luật lệ của Nga đối với bản hợp đồng đó.Phải tôn trọng các đạo
luật củ Nga như điều kiện lao động , về kì hạn phát lương…Không cho các
chuyên gia ưu tú làm việc trong các xí nghiệp tô nhượng ,hơp ddoòng phải
được giám sát .

*Các hợp tác xã :là một hình thức của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước
theo quan niệm ban đầu của Lênin nhưng sau này ông cho rằng trong thực
tế tồn tại hai hình thức hợp tác xa õ tư bản chủ nghóa và Xã Hội Chủ Nghóa
trong lòng chế độ XôViết được coi là một hình thức của Chủ Nghóa Tư Bản
Nhà Nước
Đặc trưng các xí nghiệp của hình thức này làsự kết hợp giưã tư bản tư
nhân xây dựng trên đất đai thuộc về xã hội với những xí nghiệp kiểu xã hội
chủ nghóa chính cống .Chủ Nghóa Tư Bản hợp tác xã giống Chủ Nghóa Tư
Bản Nhà Nước ở chỗ nó tạo điều kiẹn cho sợkiểm kê kiểm soát theo dõi
những quan hệ đã ghi trong hợp đồng giữa nhà nước với tư bản và tạo điều
kiện cho hàng triệu người và toàn bộ dânchúng chuẩn bò cho bước quá độ
trong tương lai.từ Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước lên Chủ Nghóa Xã Hội .
Chế hợp tác dựa trên cơ sở nền sản xuất tiểu công nghiệp ,trên nền sản
xuất thủ công mà một bộ phận mang tính gia trưởng.phải cho cá hợp tác xã
hưởng ơu đãi về tài chính ngân hàng .Theo Lênin đây là một hoạt động văn
minh là chế dộ xã hội Xã Hội Chủ Nghóa .
16



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

*Hình thớc đại uỷ thác :Hình thớc này là nhà nước lôi cuốn nhà tư

bản với tư cách một nhf buôn ,trả cho họ số tiền hoa hồng để họ bán sản
phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của nhà sản xuất nhỏ.
*Cho nhà tư bản trong nước thuê các xí nghiệp vùng mỏ ,rừng ,đất
:Hình thức này giống như hình thức tô nhượng Nhưng đối với tô người]ơng
không phải là tư bản người[cs ngoài mà là tư bản trong nước .Hình thức nay
được coi là hình thức riêng biệt để phân biệt nó với hình thức tương tự
nhưng đối tượng thuê chỉ là tư bản trong nước.
*Cho công nhân thuê nhưng hầm mỏ nhỏ :Qua thực tiễn Lênin rút ra
một hình thức nữa của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước là: cho công nhân thuê
những hầm mỏ .nông dân này hoạt đông theo kiểu nộp tô cho nhà nước Đây
cũng là kiểu cho thuê nhưng đối tượng cho thuê theo cách nói của lênin là
nhưng tiểu tư bản .
*Công ty hợp doanh:Hoạt động của các công ty này là trong lónh vực
thương nghiệp ,được thành lập theo thể thức tiền vốn một phần là của tư
bản tư nhân ,ngoài ra của tư bản nước ngoài va một phần làchính quyền Xô
Viết .
5-Ý nghóa của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước trong thời kỳ quá đọ
lên Chủ Nghóa Xã Hội nói chung và của nhà nước Xô Viết lúc bấy giờ nói
riêng :
Kinh tế Tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên
tiềm năng to lớn về vốn ,công nghệ ,khả năng tổ chớc quản lý…của các nhsà
tư bản vì lợi ích của riêng họ cũng nhơ của công cuộc xây dựng đất nước
bởi theo A.Smith:”Lơi ích cà nhân sẽ là loại dầu nhờn tốt nhất để làm chạy
các bánh xe của toàn nền kinh tế “.
Riêng chính sách Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước ,qua các tài liệu và
sự đánh giá cho đến năm1924.nhìn chungđã mang lại cho nươc Nga Xô
Viết những tácdụng tích cực nhất đònh góp phần làm sống ddoongj nền kinh
tế đã suy sụp từ sau chiến tranh . Nhờ tô nhượng với nước ngoài , nhiều
ngành công nghiệp quan trọng (nhất là khai thác dầu ) đã phát triển ,nhiều
kinh nghiệm tiến tiến với kó thuật , thiết bò hiện đại của nền sản xuất lớn tư

bản chủ nghóa được đơa vào quy trình sản xuất ,mang lại hiệu qủa cao .Tô
nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát triển sản xuất hàng
hoá ,tăng thêm dợ trỡ ngoại tệ cho đất nước , mở rộng các quan hệ liên
doanh ,liên kết kinh tế trong các lónh vợc đầu tơ sản xuất ,chuyển giao công
nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với các nước tư bản phương Tây
17



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

.Thông qua các hoạt động của cacs công ty hợp doanh ,những người cộng
sản Nga có thể thực sự học cách buôn bán ,điều mà Lênin tư bản thừơng nói
là nhiệm vụ rất quan trọng .Hoạt động của các xí nghiệp cho thuê đã góp
phần giúp nhà nước Xô Viết duy trì hoạt động ở các cơ sở kinh tế ,tăng
thêm sản phẩm cho xã hội ,việc làm cho người lao động .Hình thớc đại lý
thương nghiệpvà các hợp tác xã tư bản chủ nghóa tong các lónh vợc sản xuất
,tín dụng và tiêu thụ đã góp phần phát triển hệ thống thương nghiệp Xã Hội
Chủ Nghóa ,đẩy nhanh quá trình troa đổi ,lưu thông hàng hoá tiền tệ ,làm
sống đọng nền sản xuất nhỏ ,qua đó cải biến nhgề tiểu nông ,nối liền quan
hệ trao đổi công- nông nghiệp ,thành thò -nông thôn giữa trong nước và
quốc tế…
Thực hiên chính sách mới (NEP) mà một phần đặc trưng là Chủ

Nghóa Tư Bản Nhà Nước ,chính quyền XôViết đã giữ những vò trí vững
chắc trong nông nghiệp và công nghiệp và có khả năng tiến lên được .Nông
dân vừa lòng ,công nghiệp và nông nghiệp đang hồi sinh và phát triển .Đó
là một thắng lợi của chính quyền Xô Viết nói riêng và của nền kinh tế trong
thời kỳ qua độ nói chung.Tuy nhiên so vứi sự mông muốn ,mục tiêu ban
đầu đặt của Lênin thì kết quả thực hành chế độ này vẫn còn rất thấp
.Nguyên nhân quan trọng nhất là Chủ Nghóa Tư Bản đế quốc vẫn đang tìm
cách bóp chết chính quyền XôViết ,vì thế sự hợp tác ,đầu tư của Tư bản
nước ngoài vào Liên Xôk đạt được như sự mông muốn.
B-Vân dụng ở Việt Nam.
I-Tính tất yếu khách quan phải sử dụng Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
Nước ở Việt Nam
1.Tình trạng một nền kinh tế từ xuất phat điểm thầp:
-Trước khi Pháp thuộc nước Việt Nam có một nền sản xuất nông
nghiệp phong kiến lạc hậu .Với sợ sâm lược của thực dân Phápvà nay là
đế quốc Mỹ ,Phát xít nhật và hai cuộc kháng chiến trường kỳ đã làm cho
nền kinh tế nước ta ra vào tình trạng kiệt quệ ,chúng vơ vét tài nguyên ,bần
cùng hoá đời sống con người để dễ cai trò ,bên cạnh đó là nền nông nghiệp
với cơ sở hạ tầng thấp kém,trình đọ kỹ thuật công nghệ lạc hậu..
Bước ra khỏi cuộc chiên tranh để vực dậy một nền kinh tế đã vốn
sẵn khó lại có một bước phát triển sai lầm của nước ta là duy trì quá lâu chế
độ tập trung bao cấp trì hoãn sự phát triển của nền kinh tế ,làm cho nền
kinh tế không thể phát triển hơn được do áp dụng dập khuôn máy móc mô
hinh trước đây của Liên Xô
18



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


KI L

OBO
OKS
.CO
M

Cũng may đảng và nhà nước ta đã sớm nhận ra được sai lầm và kòp
thời sửa sai sau đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đưa ra đưòng lối mở cửa
nền kinh tế ,nền kinh tế thò trường có sự quản lý của nhà nước là một nền
kinh tế nhiều thành phần ,nhiều hình thức sở hũ− khác nhau ,nhưng Chủ
Nghóa Xã Hội là công hữu tư liệu sản xuất và dùng quản lý nhà nước về
kinh tế là chính còn sở hữu nhà nước về tư bản với thành phần kinh tế tư
bản nhà nước cũng là một trong những thành phần kinh tế quan trọng cuản
nước ta
2. Do yêu cầu của sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất pahỉ phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở một nước
nông nghiệp lạc hậu
Cũng như lý luận ở phần trên nước ta đang trải qua thời kỳ quá độ
,mọi sản xuất nhỏ lạc hậu không cho phéo chúng ta đi lên Chủ Nghóa Xã
Hội bằng con đừng trực tiếp ,không thể đốt cháy giai đoạn ,đó là một tất
yếu khách quan ,Nghiên cứu lý luận của Lênin về Chủ Nghóa Tư Bản Nhà
Nước đã mở ra cho ta một mô hình gián tiếp đi lên Chủ Nghóa Xã Hội
thông qua các hình thức kinh tế tư bản nhà nước
Chủ Nghóa X Hội là sản phảm bậc cao của Chủ Nghóa Tư Bản ,vì vậy
ta không thể áp dụng các quan hệ sản xuất Chr Nghóa Xã Hội vào một nền
kinh tế tiểu nông ,kém phát triển .Nó không những kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất mà còn làm sai lệch những nhận thức về Chủ Nghóa
Xã Hội ,nền kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng toàn diện, sâu sắc .Thực
trạng kinh tế thời kỳ kế hoạch hoá đã xhứng minh sai lầm này .Chủ Nghóa

Tư Bản Nhà Nước là hình thức quan trọng ,quá độ ,thiếu hoặc không qua
các hinh thức trung gian có tính chất quá độ này thì sản xuất nhỏ không thể
lên Chủ Nghóa Xã Hội được
3. Từ yêu cầu phải nhanh chóng hiện đại hoá lực lượng sản xuất .
Dưới góc nhìn lòch sử công nghiệp hoá là nhiệm vụ chủa Chủ Nghóa Tư
Bản ,mà lẽ ra theo con đường phát triển tuần tự sẽ trải qua .NhưngĐảng và
nhân dân ta đã lựa chọn con đường đi lên Chủ Nghóa Xã Hội không qua
chế độ Tư Bản Chủ Nghóa .Con đường rút ngắn đáng kể về mặt thời gian
phát triển lên Chủ Nghóa Xã Hội đã đặt nước ta vào một tình thế khó khăn
khi phải tìm cách công nghiệp hoá ,hiệ đại hoá lực lượng sản xuất để có cơ
sở vật chát kỹ thuật bảo đảm cho sự tồn tại của Chủ Nghóa Xã Hội .Việc lựa
chọn con đưòng phát triển cũng phải tính đén những yếu tố đặc trưng của
thời đại như trình độ phát triển khoa học kỹ thuạt hay Chủ Nghóa Tư Bản
19



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

đã chuyển sang một hình thức mới .Chủ Nghóa Tư Bản độc quyền Nhà
nước ,tức là tình hình hiện nay của nước ta đã khác xa thời Lênin .Điều này
đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải có những sáng tạo mới trong việc
vận dụng tư tưởng của Lênin để đưa đất nước nhanh chóng thoát khoi

khủng hoảng .
Nhưng việc sử dụng ngay quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghóa đặt
dưói sự kiểm kê ,kiểm soát của nhà nước để xây dựng nên công nghiệp lớn
_cơ sở vật chất của Chủ Nghóa Xã Hội sẽ luôn là sự lựa chon đúng đắn
.Hơn thế nữa ,để Chủ Nghóa Xã Hội hoàn toàn chiến thắn Chủ Nghóa Tư
Bản khi mà Chủ Nghóa Tư Bản đã đạt trình độ phát triển cao dựa trên
những thành tựa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiên đại ,thì lực
lượng sản xuất mà nhà nước ta tạo dựng phải đạt trình độ hiện đại .Vì vậy
chỉ còn cách duy nhất là sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế cua Chủ
Nghóa Tư Bản Nhà Nước
* Do nhu cầu xây dựng sản xuất theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa của
nền kinh tế hàng hoá .
Cho tơi thời điểm này ,tính chất hàng hoá của nền kinh tế Xã Hội Chủ
Nghóa đã đực chứng minh là đúng đắn .Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các
nước Đông u .các nước Xã Hội Chủ Nghóa còn lại đều thay đổi đường lối
phát triển kinh tế xã hội của mình .Ở Việt Nam ,để nâng cao trình độ xã
hôih hoá sản xuất ,chúng ta chuyển hướng sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước
.Thế nhưng một vấn đề đặt ra là làm thế nào hạn chế được tính tự phát Tu
Bản Chủ Nghóa ,hương Chủ Nghóa Tư Bản vào con đường phát triển của
Chủ Nghóa Xã Hội ,điều đó lại liên quan đến đònh hướng Xã Hội chủ Nghóa
của nền kinh tế .Muốn vậy nhất thiết phải hướng các quan hệ sản xuất Tư
Bản Chủ Nghóa vào con đương Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước ,lam “ mắt
xích trung gian” nối liền giữa sản xuất nhỏ với sản xuất lớn Chủ Nghóa Xã
Hội : phải dung nạp “ Chủ Nghóa Tư Bản trong và ngoài nước hoạt đông
dưới sự kiểm kê ,kiểm soát ,hướng dẫn của nhà nước ,,thông qua các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước ,một hình thức gắn với hình thức kinh tế nhà
nước và kinh tế hợp tác .
Bằng cách đó ,một mặt sẽ nâng cao trình độ xã hội hoa sản xuất theo
đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa ở bên trong của nền kinh tế ,mặt khác cho

phép sử dụng tốt nhất những thành quả phát triển của nhân loại vào sự
nghiệp xây dựng Chủ Nghóa Xã Hội ở nước ta.
20



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

*. Do yêu cầu thực hiện tăng trưởng và phát triển bền vững mục tiêu :
“dân giàu” . “ nước mạnh” , “ xã hội công bằng văn minh” và Chủ Nghóa
Xã Hội
Cho đến nay chúng ta không còn ảo tưỏng sớm có một ngày xã hội tốt
đẹp trong khi nền kinh tế còn kém phát triển ,năng suất lao động thấp ,khoa
học kysx thuật còn lạc hậu .Nhưng chúng ta phải chủ trương kết hợp ngay
từ đầu tăng trưởng kinh tế với tiíen bộ và công bằng xã hội ,từng bước xây
dựng trên thức j tế một xã hội trong đó nhân dân lao đọng làm chủ ,mọi
người sống nhân ái ,ấm no hạnh phúc …
Ở nước ta viêc thực hiện những mục tiêu trên gặp phải hai khó khăn
chủ yếu là thiếu vốn và do chưa có trình đọ khoa học kỹ thuật công nghệ
hiện đại .Đất nứoc hàng chục năm không có tích luỹ nội bộ nền kinh tế
.Tuy nhiên bắt đàu từ năm 1994 khả năng tích luỹ nội bộ đã xuất hiệân
nhưng không nhiều , nói cách khác là ở mức độ không đáng kể .Qua 10
năm đổi mới theo quan điểm thực hiện nhất quán chính sách nền kinh tế

nhiều thành phần va “ mở” cả trong lẫn ngoài thông qua huy động vốn nhà
nước , nhất là thông qua đầu tư trực tiếp (FDI) vàviện trợ chính thức của
chính phủ (ODA) ,nước ta đã đạt nhòp độ tăng trưởng va liên tục qua nhiều
năm ,từ năm 1991-1995 ,với mức tăng trưởng bình quân của 5 năm này là
8,2%/năm ,đua dất nước ra khỏi tình trnạg khủng hoảng kinh tế xã hội ;
lòng tin của nhân dân vào đònh hướng Xã Chủ Nghóa ngày một tăng lên
,con đường Xã Hội Chủ Nghóa ngày một rao hơn . Những thành tựu đó phản
ánh kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân ,trong đó có nguyên nhân nhờ
vận dụng các hình thức kinh tế của Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước ,nhất là
hình thức liên doanh liên kết hợp tác đầu tư sản xuất kinh doanh
Từ sự phân tích về lý luận và thực tiễn ở các nước và nứoc ta cho thấy
việc mở rộng và phát triển các hình thức kinh tế tư bản nhà nước là giải
pháp có ý nghóa cực kỳ quan trọng để thực hiên yêu cầu của mục tiêu tăng
trưởng và phat triển bền vững ,mục tiêu “ dân giàu nước mạnh” , “ xã hội
công bằng văn minh “ và Chủ Nghóa Xã Hội ở nước ta .
4. Do nhu cầu phải biết lợi dụng các lợi thế so sánh để nhanh chóng hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực
Khi thực hiện Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước ,chúng ta có nhiều lợi thế
hơn thời Lênin .Về vò trí đòa lý nước ta nằm trong khu vực phát triển năng
động nhất thế giới hiệ nay .Xu thế của thế giới là vừa hợp tác ,cạnh tranh
để xây dựng một nền kinh tế toàn cầu .Vấn đề đặt ra là làm sao ta có thể
21



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO

M

hội nhập và hợp tác với các nước khác hẳn ta về tư tưởng ,chế độ chính trò
xã hội .hương thức hội nhập đó chỉ có thể thưch hiện thông qua các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước với tính cách là một kiểu liên minh kinh tế với
tư bản tài chính ở các nước tiên tiến như Lênin đã dự báo và mong muốn
trước đây .
Toàn cầu hoà nền kinh tế thế giới là một xu thế khách quan do tác
động của sự phát triển của lực lượng sản xuất .NHưng thập niên cuối thế kỷ
XX,cuộc cách mạng khoa học và công nghẹ hiện đại đã đẩy mạnh tốc độ
chu chuyển vốn, hàng hoá ,dòch vụ,chuyển giao công nghệ trong phạm vi
toàn cầu xuất hieenj nhiều hiện tượng mới như thương mại điện tử , đồng
tiền ảo ,nền kinh tế số…kéo theo lý thuết mới về nền kinh tế ,đòi hỏi các
dân tộc trên thế giới phải có tư duy mới đối với thách thức và cơ hội trong
qua trình phát triển .
Quá trình toàn cầu hoà diễn ra ở nhiều cấp đọ khác nhau ,từ hợp tác
song phương giữa hai nước ,hình thanh tam giác tứ giác ,các tiểu vùng kinh
tế ,liên minh khu vực ,mậu dòch tự do ,diên đàn kinh tế ,liên minh kinh tế,
các tổ chức toàn cầu …hiện nay trên toàn thế giới có khoang trên 100 tổû
chức như vậy.
Toàn cầu hoá là một quá trình vùa hợp tác vừa đấu tranh ,mỗi nước
cần tận dụng tối đa thế và lực của mìnhđểđẩm bảo lợi ích của dân tộc trong
quan hệ song phương và đa phương với các nước.
Các nước phát triển cũng như đang phát triển đều tìm cách hội nhập
nền kinh tế của mình để thu được lợi thế lớn nhất.

II\ Sự vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước ở
nước ta

KI L


Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước với tính cách là những hình thức kinh tế
cụ thể đã được Lênin nghiên cứu và thực hành ở nước nga sau nội chiến
.Đến nay ,những hình thức cụ thể đó vẫn còn những giá trò thực tiễn lớn lao,
Với tinh thần cơ bản là phát triển Chủ Nghóa Tư Bản nội đòa dưới sự kiểm
soát điều tiết của nhà nước và du nhập Chủ Nghóa Tư Bản từ bên ngoài
.Chủ Nghóa Tư Bản Nhà Nước theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa ,ở nước
ta co các hình thức vận dụng sau:
1. Mở rộng hình thức liên doanh liên kết giữa nhà nước với lkinh tế tư
nhân trong nước
Sự liên doanh liên kết các nhà kinh tế ,cả Chủ Nghóa Tư Bản hiện đại
,coi là một “ ý tưởng tuyệt vời” .Sự khai thác triệt để về Chủ Nghóa Tư Bản
22



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

Nhà Nước đòi hỏi phải mở rộng khái niệm liên doanh ,liên kết .không phải
chỉ có liên doanh ,liên kết với Chủ Nghóa Tư Bản từ bên ngoai ,mà cả với
Chủ Nghóa Tư Bản nội đòa ,với các cơ sở thuộc thành phần kinh tế tư nhân
,kể cả hợp tác xã tư nhân .Nhưng ở nước ta viêc phát triển hình thức liên
doanh liên kết với các lực lượng kinh tế tư nhân trong nứoc có phần bò lãng

quên hay chưa đựoc chú ý đúng mức .điều này có nguyên nhân khách quan
và chủ quan là :lực lượng kinh tế tư nhân trongnước sau nhiều năm bò xoá
bỏ vừa được khôi phụ ,cần phải có thời gian phát triển về vốn và kinh
nghiệm đểlượng hợp tác ,liên doanh liên kết với nhà nước.
Qua gần 10 năm đổi mới ,cho đến nay ,lực lượng kinh tế tư nhân ở
nước ta, nhờ sự hoạt đông của quy luaatj tíh tụ và tập trung vốn, băng nhiều
con đường và nguồn gốc khác nhau,tiềm năng của lực lượng kinh tế này đã
có bước phát triển đáng kể.
Tiềm năng kinh tế tư nhân thể hiện rõ nhất qua chỉ tiêu về vốn kinh
doanh.theo số liệu điều tra của viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
cho thấy : so vứi khi thành lạp vốn đầu tư ban đầu của một chủ doanh
nghiệp tư nhân bình quân chung cả nước đến nay tăng 192%(gần 2 lần ). Số
công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn điều lệ từ 1dến 5 tỷ ddoongf khi mới
thành lập chỉ chiếm 11,05% đến nay đã tăng lên 22,08% (tăng gấp
đôi),trong đó HàNội từ 14,4% lên 30%,hỉa Phòng từ 8%lên 15,7%và ở
Thành Phoó HỒ Chí Minh từ 10,3%lên 17,07%.về lónh vực hoạt động tính
đến nat trong cả nước có khoang 21% công ty trách nhiệm hũu hạn hoạt
động trong lónh vực công nghiệp va 5% trong lónh vưc khách sạn và du lòch
.Tiềm năng nay cần được thu hút vào các hình thức hợp tác ,cliên doanh
liên kết nước ngoài .thực hiện diều này có kết quả là biểu hiện rõ việc biết
lợi dung sức mạnh của các thàng phần kinh tế trong nước .đối với sự nghiệo
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước xây dưng nền kinh tế thò trường theo
quan điểm mới .
Nhà nhà nước cần có biện pháp chính sách ,nhất là chíng sáh kinh tế
được ban hành hợp lí hợp tình .nếu đối với lực lượng kinh tế tư nhân ,nước
ngoài, nhà nước có luật pháp chính sách ưu đãi và thông thoáng thì chí ít
đối với lực lương kinh tế tư nhân trong nước cũng vậy hoặc có thể ưu tiên
thông thoáng hưn .Vì dẫu sao cái mà tư nhân được lợi hơn nước ngoài vẫn
là cái lợi có khả năng tạo ra nội lực cho nền kinh tế dân tộc bằng cách đó
nhà nước khuyến khióch kinh tế tư nhan triong nước vì lợi ích kinh tế và


23



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS
.CO
M

lòng yêu nước mà nhanh chóng tiếp nhân hình thức này tronh thời gian tới ở
nước ta .
2,tiếp tục mở rộng và phát triển hình thức liên doanh với nước ngoài
:,
Sự liên doanh liên kết giã− các nước với nhau đang là xu hướng phát
triển chung của thế giới .hiện nay các nước đang trên đuòng tìm kiếm các
hình thức liên doanh kinh tế có lợi nhuận kể cả Mỹ ,Anh Nhật Pháp. …là
các nước đang phát triển trên giới cho thấy để liên doanh đạt hiệu quả kinh
tế ,chính trò ,xã hội cần phải giải đáp một loạt vấn đề có liên quan ,chẳng
hạn liên doang để sản xuất cái gì?liên doanh với ai?đòa điểm xây dựng xí
nghiệp ở đâu?…việc lựa chọn ơ sở trong nước để liên doanh với nước ngoài
cũng là vấn đề phải xem xét cẩn thận nếu không muốn đánh mất mình .
Từ năm 1988 đén cuối năm 1990 số dự án được cấp giấy phép là 213 dự
án ,với tổng số vốn đầu tư là 1794213,7 triệu USD vốn đầu tư là 6376441,9
triệu USD, vốn pháp đònh .
Qua số liêu trên cho thấy động thái và nhòp điệu phát triển thu hút

đầu tư nhanh chủ yếu là từ năm 1991 .Nhìn chung cho đến nay các dự án
được phân bố tập trung nhiều ở thành phố Hồ Chí Minh ,Hà Nội , Hỉa
Phòng và đã đưa lại một số kết quả nhất đònh >Một số trung tâm công
nghiệp kỹ thuật cao đã đưa lại một số kết quả nhất đònh ,nhát là khách sạn
du laich qua hình thức liên doanh vốn nước ngoai bước đầu hình thành ; tạo
thêm công ăn việc làm cho người lao động ;làm thay đổi bộ mặt của đất
nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Tuy nhiên việc thực hiện hình thức này trong thời gian qua triển khai
còn chậm so với yêu cầu đặt ra .Có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên
nhân về thủ tục giấy tờ với nhiều cơ quan đầ mối thẩm đònh và xét duyệt dự
án ; có nguyên nhân về năng lực điều hành ,quản trò .Lợi dụng bên Việt
Nam thiếu vốn ,thiếu năng lực ,bên đầu tư nước ngoài đã vi phạm một số
khía cạnh nhu: mua chuộc cán bộ quản lý và cán bộ đối tác ; đầu tư chui
,chèn ép hà khắc công nhân Việt Nam (năm 1994 có 26 vụ đình công của
công nhân ) : mua bán bất động sản trái phéo ,lừa đảo ,chốn thuế ,ép giá
gia công ,tăng giá đầu tư thiết bòv.v…Những hạn chế này cần được giải
quyết thoả đáng ,tạo điều kiên tiếp tục mở rộng hình thức liên doanh với
nước ngoài một cách có hiệu quả trong thời gian tới ở nứoc ta .
3.Về hình thức tô nhượng ,mà thực chất là hình thức xí nghiệp
100% vốn nước ngoài ,được hình thành trong các khu chế xuất .
24



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

KI L

OBO
OKS

.CO
M

Hình thức này ở Nga trứoc đây dưới thời Lênin có đưa ra ,nhưng do
điều kiện lòch sử lúc bấy giờ ,ít được sự hưởng ứng của các nhà tue bản
nước ngaòi ,nên tô nhượng được thực hiên không đáng kể .Ở một số nước
khác nhất la Trung Quốc ,tô nhưọng đựoc thực hiên dưới hình thức xí
nghiệp 100% thông qua viêc hình thành các khu chế xuất ,đã thu đựoc
những thành công nhất đònh ,song không phải không có chỗ chưa thành
công …ơ nước ta loại hình xí nghiệp 100% vốn nước ngoai trong các khu chế
xuất hiên nay đang còn rất mới mẻ ,vừa làm vừa rút kinh nghiệm.Trên tinh
thân đó ,ngày 18/10/1991 Chính phủ đã ban hành quy chế khuchế xuất với
nội dung bao gồ viêc xác đònh mục tiêu ,đối tïng đầu tư ,nghành đựoc
khuyến khích đầu tư ,các hình thức đầu tư ,những chính sách ưu đãi và việc
quản lý nhà nước đối với khu chế xuất . dến nay cả nứơc đã được chính phủ
cho phép hình thành 6 khu chế xuất (Thành phố Hồ CHí Minh 2,Cần Thơ
1,Quảng Nam-Đà Nẵng 1 ,Hà Nội1và Hải Phòng1)
Mục tiêu việc hình thành khu chế xuất là:
-thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trong nước
-giải quyết công ăn việc làm bà thông qua đó đào tạo đội ngũ cán bộ
quản ly,cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề
-du nhập kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
-tạo nguồn hàng xuất khẩu và có sức cạnh tranh tren thò trường thế
giới ,góp phần thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền
kinh tế thế giới và khu vực
-tăng nguồn thu ngoại tệ ,góp phần cải thiện cán cân thương mại và
cán cân thanh toán quốc tế
-thúc đẩy nền kinh tế nội đòa có mũi nhọn đột phá theo hướng công
nghiệp hoá ,hiện đại hoá .
Qua gần 4 năm thực hiện tình hình này cho thấy ,nhiều dự án khu chế

xuất chưa hoàn tất về thủ tục ;đối tác tham gia chưa nhiều lại chưa ổn đònh
nên việc triển khai còn chậm, chưa được nhiều ; Ở Thành phố Hồ Chí
Minh ,hai khu chế xuất Linh Trung và Tân Thuận đã được triển khai ,bước
đầu đưa lại một số kết quả ( nhất là khu chế xuất Tân Thuận) tính đến
30/9/95 ,khu chế xuất Tân Thuận đã có 115 công ty đăng ký đặt cọc thuê
đất với tổng số vốn đầu tư 340.729.491USD với 105 ha diện tích đất đựoc
thuê.Có 16 xí nghiệp đi vào hoạt động ,8 xí nghiệp đang sản xuất thử ,16 xí
nghiệp đang xây dựng .Đã có 3.235 lao động được tuyển dụng ,246 nhân
viên quản lý ,kỹ thuậtvà công nhân lành nghề .Có 7 xí nghiệp đã xuất khẩu
25


×