Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

skkn:Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (658.72 KB, 25 trang )

Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài
người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại và của mỗi quốc
gia.
Các nhà khoa học và quản lí đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản gây suy
thoái môi trường là do thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người.
Vì vậy giáo dục môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất
và có tính bền vững nhất trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục môi trường, từng người và cộng đồng
được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng lực phát hiện và xử lí
các vấn đề môi trường.
Giáo dục bảo vệ môi trường góp phần hình thành nhân cách người lao động mới, người
chủ tương lai của đất nước, người lao động, người chủ có thái độ thân thiện với môi trường
và bảo vệ môi trường là tự bảo vệ mình. Đây chính là bức thông điệp không chỉ riêng cho
một cá nhân mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề có tính
chiến lược của mỗi quốc gia và toàn cầu. Bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất
nước.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo vệ môi trường cũng như những
thực trạng của vấn đề bảo vệ môi trường diễn ra trên thế giới, trên cả nước cũng như tại địa
phương. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế- xã hội trong những năm qua đã làm
mới đổi xã hội Việt Nam. Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng được nâng cao. Tuy vậy,
sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo với việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, môi trường Việt Nam
đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đảng và nhà nước đã đề ra
nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Hoạt động bảo vệ
môi trường được các cấp, các ngành và đông đảo tầng lớp nhân dân quan tâm và bước đầu
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

1




Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

thu được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy vậy, việc bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn mới. Nhìn
chung, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có lúc, có nơi đã đến mức báo
động. Trước những yêu cầu nêu trên, bản thân tôi thấy rằng chủ trương của Đảng và nhà
nước, cũng như chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai xây dựng bộ tài liệu
tích hợp giáo dục môi trường trong các môn học ở các cấp học là cần thiết nhất, hữu hiệu
nhất. Vì ở nước ta hiện nay có khoảng hàng chục triệu học sinh, sinh viên các cấp và hàng
triệu GV - cán bộ quản lí và cán bộ giảng dạy. Đây là một lực lượng khá hùng hậu. Vì vậy
việc trang bị kiến thức về môi trường, kĩ năng bảo vệ môi trường cho tầng lớp học sinh - sinh
viên, các nhà làm công tác giáo dục là cách nhanh nhất làm cho gần một phần ba dân số hiểu
biết về môi trường. Đây cũng chính là lực lượng xung kích, hùng hậu nhất trong công tác
tuyên truyền bảo vệ môi trường cho gia đình và cộng đồng dân cư của khắp các địa phương
cả nước. Hơn nữa hệ thống các trường học cùng các cơ sở giáo dục và đào tạo cũng là những
trung tâm văn hóa của địa phương, là nơi có điều kiện để thực thi các chủ trương, chính sách
của Đảng và nhà nước về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước.
Là nền tảng của nền giáo dục quốc dân, lực lượng học sinh trong hệ thống giáo dục
phổ thông, giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách người lao động
mới. Tác động đến lực lượng học sinh phổ thông là tác động đến lực lượng dân số trẻ - chủ
nhân tương lai của đất nước - Nếu đội ngũ này có sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng và
hành vi, tất yếu sẽ có sự thay đổi lớn trong công tác bảo vệ môi trường. Từ đó tôi đã đưa ra
đề tài nghiên cứu này nhằm nhắc nhở bản thân mình phải sử dụng phương pháp sư phạm, các
kĩ năng sống để giáo dục học sinh thấy rõ trách nhiệm của cá nhân mình trong việc góp phần
chung tay bảo vệ môi trường sống khi chưa quá muộn. Đó cũng chính là lí do của đề tài sáng
kiến kinh nghiệm của tôi.
2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
Giáo dục cho học sinh kĩ năng sống bảo vệ môi trường là khả năng ứng xử một cách

tích cực đối với các vấn đề môi trường. Cụ thể là kĩ năng nhận biết và pháp hiện các vấn đề
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

2


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

môi trường, xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường, kiên định thực hiện kế hoạch hành
động vì môi trường trong lớp học, trường học, khu dân cư và ngay trong gia đình của các em.
Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo dục trực tiếp đối với học sinh. Vì
thế muốn giáo dục học sinh có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hết các
thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh cần phải thực hiện đúng các qui định bảo vệ môi trường.
Ví dụ chỉ là hành động nhỏ thôi cũng tác động rất lớn đến các em, như khi ta kê một tờ giấy
xuống ghế ngồi thì khi ta đứng dậy phải cất ngay tờ giấy đó hoặc bỏ vào sọt rác thì bản thân
ta đã góp phần làm cho môi trường sạch hơn. Có thể nhắc các em tắt hệ thống điện trong
phòng học khi không cần thiết. Đó cũng chính là những hành động để giáo dục các em sử
dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn năng lượng, vì đây cũng là một trong những nguyên nhân
tạo ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên và khí hậu trên toàn
cầu bị biến đổi.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng:
- Các phương pháp phương pháp tích hợp giáo mục môi trường trong dạy học địa lí ở
trường THCS
2. Phạm vi:
-Do điều kiện không cho phép nên trong đề tài nhỏ này, tôi chỉ nghiên cứu một số
phương pháp tích hợp giáo mục môi trường trong dạy học địa lí ở trường THCS
4 . phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi dùng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận và tổ hợp các phương pháp, khoa học bằng con đường

dùng suy luận dựa trên các tài liệu khác nhau:
- Nhóm các phương pháp thực tiễn sư phạm:
+ Điều tra thực tiễn sư phạm.
+ Quan sát dự giờ và trực tiếp giảng dạy.
+ Lấy ý kiến của giáo viên và học sinh.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

3


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

+ Phương pháp điều tra tổng hợp toán học.
Các phương pháp trên được kết hợp với nhau trong quá trình nghiên cứu để phân tích,
tổng hợp, đánh giá tìm ra các mấu chốt thiết thực của vấn đề nghiên cứu.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Bảo vệ môi trường hiện là một trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu. Ở nước
ta, bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị quyết số 41/NQ- TƯ
ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Quyết định số 1363/ QĐ- TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt đề án: “ Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” và
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trường theo
định hướng phát triển một tương lai bền vững của đất nước.
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 31
tháng 1 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị về việc tăng cường công
tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định nhiệm vụ trọng tâm đến 2010 và các năm tiếp theo

cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ
môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động ngoại
khóa, xây dựng mô hình nhà trường xanh- sạch- đẹp phù hợp với các vùng, miền.
2. Thực trạng:
Công tác bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập. Ô nhiễm môi trường vẫn đang
là vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, đặc biệt tại các lưu vực sông, khu công nghiệp, đô
thị và làng nghề; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn đang ngày càng tinh vi và phức
tạp. ( Trích kết luận tại hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ III của Bộ trưởng Bộ TN&MT
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

4


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Phạm Khôi Nguyên). Điều đó cho thấy nhiệm vụ của mọi công dân Việt Nam trong công tác
bảo vệ môi trường giai đoạn tới là hết sức nặng nề. Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có sự chung
sức, chung lòng, cùng nhau nỗ lực hơn nữa để bảo vệ môi trường, phải thực sự coi bảo vệ
môi trường là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trước những thực trạng nêu
trên bản thân tôi phải xác định rằng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học
nói chung và môn học địa lí nói riêng là vô cùng cần thiết nhằm chung tay cùng với cộng
đồng trong việc bảo vệ môi trường sống của nhân loại, trong đó có cá nhân mình.
Thực trạng về nguồn tài nguyên nước, rừng, chất thải trong sản xuất và sinh hoạt.
*Tài nguyên nước:
Dân số tăng, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lí chưa tốt khiến tài
nguyên nước ở Việt Nam đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm. Chỉ số lượng nước theo đầu
người năm 1943 là 16.641m3/người, nếu số dân tăng lên 150 triệu thì chỉ số chỉ còn 2.467m 3/
người/ năm, xấp xỉ với các quốc gia hiếm nước.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2001: Trong thời gian gần đây, ở
Việt Nam đã xẩy ra tình trạng khan hiếm nước. Nhiều nơi thuộc Trung Bộ đã có biểu hiện

tình trạng hoang mạc hóa, vùng ven biển có quá trình mặn hóa và muối hóa. Ở các tỉnh Nam
Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số vùng khác đã xẩy ra tình trạng căng thẳng
về nước. Các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt trì , Biên
Hòa…nước đã bị ô nhiễm tới mức nghiêm trọng. Môi trường nước ở một số dòng sông như
sông Cầu ( ở Bắc Bộ), sông Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông (ở Đông Nam Bộ) đã
bị ô nhiễm nặng. Nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của con người ngày càng cạn
dần. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới tình trạng thiếu ngọt cũng xẩy ra nghiêm trọng.
Vì thế năm 2003 Liên Hợp Quốc chọn là năm quốc tế về nước ngọt bởi: Nước- Hai tỉ người
đang khát. Tất cả mọi người hãy hành động để bảo vệ Nước, nguồn sống trên trái đất.
*Tài nguyên rừng:
Rừng là nguồn tài nguyên quí giá của nước ta. Rừng có vai trò điều hòa khí hậu, bảo
vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu giữ các nguồn gen quí giá. Tuy nhiên, độ che phủ rừng
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

5


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

của nước ta trong thời gian dài có xu hướng giảm, nhiều khu rừng bị tàn phá nghiêm trọng,
làm cho môi trường sinh thái bị đảo lộn, môi trường sống của các loại động vật bị thu hẹp,
nguy cơ tuyệt chủng các loại động vật quí hiếm…
Tuy vậy trong những năm gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích
rừng có được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút. Cụ thể diễn biến diện
tích rừng qua các năm theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát trển nông thôn (tính đến
tháng 12 năm 2005).
1945
1976
1980
Tổng DT tr 14.300 11.169 10608


1985
9.892

1990
9.175

1995
9.302

2002
2005
11.785 12.617

ha
Rừng trồng 0

0584

0.745

1.050

1.9195 2.334

Rừng tự

0.092

0.422


14.300 11.076 10.186 9.3083 8.4307 8.2525 9.865

10.283

nhiên
Độ che phủ 43.0

33.8

32.1

30.0

27.8

28.2

35.8

37.0

%
BQ rừng/

0.31

0.19

0.14


0.12

0.12

0.14

0.15

0.57

ng
( ha/ người
* Về chất thải:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống ngày càng đi lên, lượng chất thải
cũng ngày càng nhiều hơn. Sự gia tăng dân số, tình hình đô thị hóa nhanh chóng đã làm tăng
lượng rác thải. Cụ thể lượng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam lên đến hơn 15 triệu tấn mỗi
năm, tăng trung bình hằng năm là 15%. Trong đó chất thải sinh hoạt hơn 6 triệu tấn ( ở các
khu đô thị). Chất thải công nghiệp phát sinh chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải. chất
thải công nghiệp phát sinh từ các làng nghề ở vùng nông thôn chủ yếu tập trung ở miền Bắc.
Khoảng 1.450 làng nghề phân bố ở các vùng nông thôn trên toàn quốc, mỗi năm thải ra
khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

6


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Theo ước tính, lượng chất thải sẽ tăng lên đáng kể. Trong đó lượng chất thải sinh hoạt

sẽ tăng 60%, chất thải công nghiệp tăng 50%, chất thải nguy hại tăng 3 lần, các số liệu thống
kê trên tính đến năm 2010. ( Nguồn: báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004. Bộ
Tài nguyên và Môi trường).
Bên cạnh những thực trạng về môi trường mang tầm cỡ quốc gia, thì ở tại địa phương
nơi các em đang sinh sống vấn đề môi trường cũng đang đến hồi báo động. Đặc biệt là ở
những nơi đông dân cư qua lại như nơi họp chợ, rãnh, cống thoát nước… Mặc dù đã có đội
vệ sinh môi trường thường xuyên dọn dẹp song do ý thức của người dân chưa tự giác đối với
cộng đồng, chỉ biết sạch trong nhà mình còn ở ngoài đường phố thì không được quan tâm.
Ngoài ra cơ sở hạ tầng cũng chưa đáp ứng yêu cầu, như nơi đổ rác cũng như nơi xử lí rác thải
chưa đảm bảo kĩ thuật gây nên hiện tượng ô nhiễm. Ngay trong trường học, mặc dù được
quán triệt, nhắc nhở thường xuyên của BGH nhà trường cũng như tổng phụ trách đội và hàng
ngày ban lao động đều phân công luân phiên lớp, trực tiếp lao động dọn vệ sinh. Thế nhưng
do ý thức chưa tự giác của một số học sinh nên ở trong sân trường , hành lang các dãy phòng
học cũng như trong lớp học vẫn thấy sự xuất hiện của rác thải.
a. Thuận lợi - Khó khăn
*. Thuận lợi:
- Về phía nhà trường, BGH rất quan tâm đến công tác chuyên môn, coi chuyên môn là
một trong những ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của nhà trường.
- Về phía bản thân: Xác định trách nhiệm của mình trong công tác mũi nhọn là chuyên
môn. Ngoài ra bản thân tôi khi trực tiếp được giảng dạy bộ môn có tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường, có nghĩa là tôi đã góp một phần nhỏ bé của mình vào tham gia bảo vệ môi
trường. Điều đó bản thân tôi cảm thấy tự hào cho nghề nghiệp của mình đã chọn.
- Về phía học sinh: Đa số các em có tinh thần tự giác trong học tập, yêu thích bộ môn.
Có thái độ tích cực trong các hành động tham gia bảo vệ môi trường thông qua thi tìm hiểu
về môi trường, giữ vệ sinh lớp học hay nơi công cộng, hoặc qua các câu trả lời trong giờ học,
trong bài kiểm tra…
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

7



Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

*. Khó khăn:
- Kinh phí để đầu tư cho công tác tham quan, ngoại khóa còn hạn chế.
- Một số học sinh chưa có ý thức cao trong học, rèn luyện cũng như chưa có ý thức
trong việc bảo vệ trường lớp xanh- sạch- đẹp.
- Thời gian để đầu tư cho công tác ngoại khóa về giáo dục môi trường còn ít và còn có
qui mô nhỏ nên tính tuyên truyền chưa cao.
b.Thành công, hạn chế:
Sau khi thực hiện các giải pháp, biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong
môn học, bản thân tôi nhận thấy học sinh đã tự phát hiện được những vấn đề liên quan đến
môi trường. Đặc biệt các em hiểu được rõ hơn khái niệm về môi trường và có những hành
động về môi trường thiết thực hơn, đa số các em có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh lớp học,
tạo nên cảnh quan môi trường sạch hơn, xanh hơn và đẹp hơn.
Đặc biệt khi cho HS tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp các em đã có những ý tưởng
hay: như thi hiểu biết về môi trường, thi kĩ năng vẽ tranh về môi trường hay sáng tác thơ…
được các em ở khối 8 hưởng ứng tích cực . Vì thế chúng tôi dự định sẽ cho các em tổ chức ở
qui mô rộng hơn trong thời gian tới.
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy được tính hiệu quả thiết
thực của nó. Đồng thời cũng đáp ứng được các yêu cầu đặt ra như đã giới thiệu ở phần tầm
quan trọng và lí do của đề tài như đã nêu ở trên. Phần nào đáp ứng được các mục tiêu cơ bản
của Bộ Giáo dục- Đào tạo đề ra.
c. Mặt mạnh-mặt yếu:
Học sinh: Có hứng thú trong học tập, chủ động tiếp thu kiến thức, biết vận dụng vào
trong quá trình học tập tại trường cũng như nơi mà các em sinh sống.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Nguyên nhân:
Đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ làm cho mọi người hiểu rõ
sự cần thiết phải bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xử văn

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

8


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

minh, lịch sự với môi trường. Điều này phải được hình thành trong một quá trình lâu dài và
phải bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ.
Yếu tố tác động:
Trong những năm học phổ thông học sinh không những được tiếp xúc với thầy, cô
giáo, bạn bè mà còn được tiếp xúc với khung cảnh trường, lớp, bãi cỏ, vườn cây… việc hình
thành cho học sinh tình yêu thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có thói quen sống
ngăn nắp, vệ sinh, phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và cách giáo dục của chúng ta.Vì vậy
việc tích hợp giáo dục môi trường trong môn địa lí chính là sự cần thiết nhằm bồi dưỡng tình
yêu thiên nhiên, bồi dưỡng những xúc cảm, xây dựng cái thiện trong mỗi con người, hình
thành thói quen, kĩ năng bảo vệ môi trường.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
e.1 Nguyên tắc, phương thức, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường
THCS.
*Nguyên tắc.
- Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các
môn và các hoạt động. Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là ghép thêm vào chương
trình giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng
hội nhập vào chương trình. Giáo dục môi trường là cách tiếp cận xuyên bộ môn. Vì thế cần
xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường phải phù hợp với
mục tiêu đào tạo của từng cấp học, lớp học và từng độ tuổi.
- Giáo dục bảo vệ môi trường phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương
đối đầy đủ về môi trường và kĩ năng bảo vệ môi trường, phù hợp với tâm lí lửa tuổi.
- Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi

trường của từng địa phương và từng mục tiêu về kiến thức- kĩ năng của từng bài học.
- Nội dung và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường phải chú trọng thực hành, hình
thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả
vào các hoạt động bảo vệ môi trường của địa phương, của đất nước, phù hợp với độ tuổi.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

9


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

- Cách tiếp cận cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường là: Giáo dục về môi trường,
trong môi trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường. Coi đó là thước đo cơ
bản hiệu quả của giáo dục bảo vệ môi trường.
- Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường nhằm tạo cho người học chủ động tham gia
vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng
giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.
- Tận dụng các cơ hội để giáo dục bảo vệ môi trường nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ
bản của môn học, tính lôgic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời
gian của bài học, có nghĩa là: không biến một bài dạy địa lí thành một bài dạy môi
trường.
*.Phương thức giáo dục.
- Giáo dục bảo vệ môi trường là lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy được triển khai
theo phương thức tích hợp. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong môn
học thông các chương, bài cụ thể. Việc tích hợp thể hiện ở 3 mức độ: Mức độ toàn phần, mức
độ bộ phận và mức độ liên hệ. Cụ thể là ở mức độ toàn phần thì mục tiêu và nội dung của bài
học hoặc của chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục bảo vệ môi
trường.
Ví dụ như khi dạy về vấn đề ô nhiễm không khí và nguồn nước ở đới ôn hòa.
Còn đối với mức độ bộ phận thì chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục

bảo vệ môi trường. Ví dụ như khi dạy về Bài 28 vùng Tây Nguyên thì chỉ tích hợp giáo dục
bảo vệ môi trường ở mục II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của vùng. Học sinh
biết được vùng Tây Nguyên có một lợi thế để phát triển kinh tế: địa hình cao nguyên, đất ba
dan, rừng chiếm diện tích lớn…Học sinh phải biết được rằng việc chặt phá rừng quá mức để
làm nương rẫy và trồng cà phê, nạn săn bắt động vật hoang dã làm ảnh hưởng xấu tới môi
trường…Còn đối với mức độ liên hệ thì có điều kiện liên hệ một cách lôgic. Ví dụ khi dạy về
sông, hồ và biển thì học sinh phải biết được vai trò của sông, hồ đối với đời sống và sản xuất
của con người trên trái đất. Phải có óc quan sát và nhận định về tình trạng nguồn nước có bị ô
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

10


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

nhiễm hay không. Để từ đó các em cần tìm ra nguyên nhân, hậu quả cũng như tìm ra các giải
pháp khắc phục. Thông qua việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường sẽ tạo điều kiện cho
các em có thái độ, hành vi đúng trong việc không làm cho nguồn nước bị ô nhiễm và phản
đối các hành vi làm ô nhiễm nguồn nước sông, hồ, biển khi các em có dịp đi tắm biển cùng
gia đình.( HS quan sát qua tranh ảnh minh họa)
Ngoài các hoạt động trong lớp học, thì các hoạt giáo dục bảo vệ môi trường còn được
tích ngoài lớp học như câu lạc bộ về môi trường theo từng chủ đề cụ thể, hoặc nói chuyện
chuyên đề về tác động của sự nóng lên toàn cầu, sản xuất sạch…
* Các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường.
Phương pháp tích hợp giáo dục môi trường trong môn địa lí về cơ bản là những
phương pháp thường được sử dụng để dạy môn học. Tuy nhiên, trong các phương pháp đó có
một số phương pháp có nhiều khả năng giáo dục môi trường một cách hiệu quả cần quan
tâm, đó là những phương pháp đòi hỏi học sinh phải bộc lộ được nhận thức, quan điểm, ý
thức, thái độ, đưa ra được những giải pháp… trước các vấn đề của môi trường. Ví dụ như
phương pháp đàm thoại, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan ( tranh ảnh, băng,

đĩa hình có nội dung về môi trường), phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp dạy học
phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát thực tế.
3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp:
Thu nhận được những thông tin, những kiến thức cơ bản về môi trường và hiểu sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa hoạt động của con người và môi trường, về mối quan hệ giữa con người và môi
trường.
+ Phát triển những kĩ năng bảo vệ và giữ gìn môi trường, kĩ năng dự đoán, phòng
tránh và giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh.
+ Tham gia tích cực vào những hoạt động khôi phục, bảo vệ và gìn giữ môi trường.
+ Có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khoẻ con người.
với chất lượng cuộc sống của chúng ta, phát triển thái độ tích cực đối với môi trường.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

11


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

- Phân tích được những vấn đề môi trường chứa đựng trong nội dung bài học, liên hệ
được với tình hình môi trường của nước ta, của từng địa phương nơi các em học tập. Từ đó
giáo dục cho các em ý thức, trách nhiệm và hành vi bảo vệ môi trường.
b. Nội dung và cách thức thực hiện:
* Các biện pháp, giải pháp giáo dục bảo vệ môi trường.
- Khi tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, giáo viên phải dựa vào các nguyên tắc,
phương thức, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường THCS như đã nêu ở
phần 1.
- Giáo dục cho học sinh kĩ năng sống bảo vệ môi trường là khả năng ứng xử một cách
tích cực đối với các vấn đề môi trường. Cụ thể là kĩ năng nhận biết và pháp hiện các vấn đề
môi trường, xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường, kiên định thực hiện kế hoạch hành

động vì môi trường trong lớp học, trường học, khu dân cư và ngay trong gia đình của các em.
- Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo dục trực tiếp đối với học sinh.
Vì thế muốn giáo dục học sinh có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hết
các thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh cần phải thực hiện đúng các qui định bảo vệ môi
trường. Ví dụ chỉ là hành động nhỏ thôi cũng tác động rất lớn đến các em, như khi ta kê một
tờ giấy xuống ghế ngồi thì khi ta đứng dậy phải cất ngay tờ giấy đó hoặc bỏ vào sọt rác thì
bản thân ta đã góp phần làm cho môi trường sạch hơn. Có thể nhắc các em tắt hệ thống điện
trong phòng học khi không cần thiết. Đó cũng chính là những hành động để giáo dục các em
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn năng lượng, vì đây cũng là một trong những nguyên
nhân tạo ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên và khí hậu trên
toàn cầu bị biến đổi. Một trong những quốc gia bị ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu lớn nhất
là Việt Nam.( Cụ thể trong năm 2010 Việt Nam đã phải hứng chịu những đợt hạn hán lớn
diễn ra trên phạm vi cả nước. Trong tháng 10 và tháng 11 vừa qua ở các tỉnh duyên hải Miền
Trung, từ Nghệ An trở vào cho tới Ninh Thuận phải đương đầu với nhiều trận lũ lụt lớn, gây
thiệt hại lớn về tài sản cũng như tính mạng của người dân. Năm 2015-2016 Việt Nam là nước
13/16 quốc gia trên thế giới chịu sự biến đổi khí hậu gây hạn hán nặng nề đối với các tỉnh
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

12


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên...). Sự mất mát đó không thể khắc phục trong ngày
một ngày hai mà phải sau nhiều năm nữa mới khắc phục được. Khi lấy những dẫn chứng cụ
thể như vậy thì hiệu quả giáo dục môi trường sẽ có tác dụng hơn, vì có thể khẳng định rằng
chính con người tác động vào tự nhiên và lấy đi những gì của tự nhiên, thì con người phải
chịu những hậu quả của tự nhiên mang lại.

Cảnh tượng ở Miền Trung trong các trận lũ vừa qua

Môi trường cũng chính là những vấn đề rất gần gũi với học sinh như cơm ăn, nước
uống, không khí để thở, mảnh sân, góc nhà, vườn cây…Các em có thể nhìn thấy, sờ thấy,
nhận biết được kinh nghiệm thực tế. Giáo viên cần tận dụng được điểm này để giáo dục các
em.
Ví dụ: Khi tìm hiểu về khối lượng rác thải, giáo viên không nên cung cấp ngay các số liệu
mà tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động điều tra lượng thải ở trường học, ở địa phương.
Qua số liệu điều tra học sinh có thể nhận biết, phát hiện các vấn đề môi trường trong phạm
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

13


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

vi nhà trường, hay ở tại các tổ dân phố. Từ đó cho các em tự xây dựng kế hoạch hành động
vì môi trường và kiên định thực hiện kế hoạch hành động vì môi trường. Làm được điều đó
có nghĩa là giáo viên đã thành công trong việc giáo dục các em kĩ năng sống trong bảo vệ
môi trường nơi các em đang sinh sống và học tập.
* Cách tiến hành tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong một số bài học môn địa lí.
Khi dạy về chủ đề nguồn nước:
Ví dụ khi dạy về bài 33: ĐẶC ĐIỂM SÔNG NGÒI VIỆT NAM
(SGK địa lí lớp 8)
Ngoài xác định mục tiêu về kiến thức- kĩ năng bài học thì giáo viên cần xác định mục
tiêu về kiến thức - kĩ năng về giáo dục bảo vệ môi trường.
Ở nôi dung bài này tích hợp ở mức độ bộ phận trong mục 2: Khai thác kinh tế và bảo
vệ trong sạch của các dòng sông.
- Học sinh cần biết được giá trị kinh tế của sông và việc khai thác các nguồn lợi từ
sông ngòi ở nước ta.
- Sau đó giáo viên sử dụng phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường qua
tranh, ảnh địa lí. Qua tranh, ảnh địa lí học sinh có thể nhận biết được hiện tượng nước sông

như thế nào? Có bị ô nhiễm không?.

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

14


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Từ đó giáo viên cho học sinh tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả và xây dựng thái độ,
hành vi trong việc có ý thức giữ gìn, bảo vệ nguồn nước ngọt và các sông, hồ của quê
hương, đất nước. Giáo viên có thể cho học sinh tự đưa ra những giải pháp riêng của bản
thân, trả lại sự trong sạch cho các dòng sông, mà các em được nghe qua sách, báo, thơ, ca
ngợi về các dòng sông ở nước ta khi chưa bị ô nhiễm.
“ Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre…
… khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

15


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Bạn bè tôi tụm năm, tụm bảy.
Bầy chim non bơi lội trên sông”.
Trích trong bài thơ “ Nhớ con sông quê hương” của nhà thơ Tế Hanh.
Sau đây là một số hình ảnh khắc phục ô nhiễm nguồn nước sông,và xử lý nước thải
trước khi đưa ra sông.


Hoặc khi dạy về bài 38, 39. PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH TẾ VÀ BẢO VỆ TÀI
NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN- ĐẢO
( SGK địa lí lớp 9)
Đối với bài này giáo viên cần tích hợp theo mức độ toàn phần trong mục I: Biển và đảo Việt
Nam , mục III: Bảo vệ tài nguyên và môi trường biển- đảo.
- HS cần biết Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và vùng biển rộng, có nhiều điều
kiện để phát triển các ngành kinh tế biển.
- HS hiểu việc phát triển các ngành kinh tế biển phải đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên và
môi trường biển nhằm phát triển bền vững.
- Giáo viên có thể sử dụng phương pháp tích hợp thảo luận nhóm, kết hợp với phương pháp
sử dụng tranh, ảnh địa lí.

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

16


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Ví dụ: Khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, bản thân tôi đã thực hiện các
bước sau:
Bước 1: GV nêu chủ đề và các câu hỏi thảo luận.
Bước 2: HS thảo luận theo nhóm nhỏ ( 04 HS) và trình bày kết quả.
Bước 3: GV tóm tắt các ý kiến thảo luận, củng cố các điểm chính.
Cụ thể vấn đề thảo luận: Để phát triển bền vững các ngành kinh tế biển cần phải quan tâm
đến vấn đề gì? Nêu một số biện pháp cụ thể.
- Yêu cầu HS cần nêu được những vấn đề cần quan tâm: bảo vệ nguồn tài nguyên biển,
chống ô nhiễm môi trường biển.
- Một số biện pháp cụ thể: không khai thác bừa bãi, quá mức các tài nguyên biển không để

xẩy ra các sự cố tràn dầu; hạn chế chất thải ra biển từ các nhà máy, các đô thị…( Minh họa ở
phần phụ lục)
Qua thực tế kết quả thảo luận, dưới sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên, tôi thấy rằng
các em đã có những ý kiến, suy nghĩ, những quan điểm, thái độ về vấn đề môi trường biển
trong hiện tại và cả tương lai. Tôi còn nhớ mãi một tình huống của nhóm một đặt ra cho
nhóm hai là: nếu như không ý thức được tác hại của sự suy giảm nguồn lợi thủy sản, thì
trong tương lai liệu con người có còn các loại cá trong bữa ăn hàng ngày không? Hay nếu
bạn đi tắm biển cùng gia đình, thấy biển có rác thì bạn sẽ làm gì?... Những câu hỏi tình
huống đó đã tạo nên sự sôi nổi của HS trong quá trình tự lực phát hiện vấn đề từ một tình
huống thực, lựa chọn vấn đề cần giải quyết, từ đề xuất ra giả thuyết, tự đánh giá chất lượng
và hiệu quả giải quyết vấn đề… và tôi cảm thấy được sự thành công của mình trong tiết dạy.
*. Khi dạy về chủ đề tài nguyên rừng:
Ví dụ ở bài 39: BẢO VỆ TÀI NGUYÊN SINH VẬT VIỆT NAM.
( SGK địa lí 8)
Đối với bài này được giáo viên có thể tích hợp theo mức độ toàn phần ở cả mục 1, mục 2,
mục 3 của bài.
- HS phải biết giá trị của tài nguyên sinh vật ở Việt Nam.
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

17


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

- Biết hiện trạng, nguyên nhân suy giảm tài nguyên sinh vật và sự cần thiết phải bảo vệ tài
nguyên sinh vật ở nước ta.
- Biết nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và luật để bảo vệ và phát triển tài nguyên
rừng.
- Từ đó rèn luyện HS có ý thức bảo vệ các loài động, thực vật ở địa phương, đất nước,
không đồng tình, không tham gia các hoạt động phá hoại cây cối, săn bắt chim thú… Có ý

thức tìm hiểu và chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ động, thực
vật.
Đối với bài này giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp như : PP đàm thoại, PP
sử dụng tranh, ảnh địa lí, băng, đĩa hình hay tham quan, điều tra, khảo sát thực tế.
GV: Dùng hình ảnh để HS quan sát nhận biết về hiện trạng rừng, tìm ra nguyên
nhân, hậu quả của sự suy giảm tài nguyên rừng. HS có thể đề ra các giải pháp để bảo về tài
nguyên rừng, tham gia tuyên truyền cũng như có những hành động bảo vệ, chăm sóc cây
xanh trong trường học.

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

18


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

19


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

* Hoặc khi dạy về chủ đề chất thải trong sản xuất, trong sinh hoạt:
Ví dụ khi dạy về bài 12: SỰ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÔNG NGHIỆP
( SGK địa lí lớp 9)
Đối với bài này GV tích hợp theo mức độ liên hệ ở mục II. Các ngành công nghiệp
- HS biết việc phát triển không hợp lí một số ngành công nghiệp đã và sẽ tạo nên sự cạn kiệt
khoáng sản và gây ô nhiễm môi trường.
- Thấy được sự cần thiết phải khai thác tài nguyên một cách hợp lí và bảo vệ môi trường

trong quá trình phát triển công nghiệp.
Ở bài này GV cho HS thảo luận theo nhóm nhỏ để tìm hiểu về những nguyên nhân cơ
bản làm cho môi trường bị ô nhiễm trong quá trình khai thác và chế biến.
Muốn làm được điều đó HS cần phải xác định được địa bàn phân bố của các điểm
khai và chế biến trong công nghiệp và liên hệ qua thực tế thông qua phương tiện thông tin
đại chúng về các vụ việc có liên quan đến vấn đề môi trường. Như chất thải độc hại của công
ty bột ngọt Vedan trên sông Thị Vải, công ty Tungkuang, công ty TNHH Miwon, công ty
thuộc da Hào Dương, công ty giấy Việt Trì…
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

20


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Vấn đề chất thải độc hại ở các khu công nghiệp, bệnh viện …đang hàng ngày, hàng
giờ rình rập đe dọa đến môi trường sống của con người. Từ nhận biết được những tác hại đó
các em cũng sẽ thấy rằng trong một phạm vi hẹp trong nhà trường mức độ rác thải của các
em hằng ngày cũng góp phần làm cho môi trường xung quanh các em không trong lành. Từ
tích hợp vấn đề trong bài học GV có thể lòng ghép giáo dục cho các em ý thức trong tiết
kiệm điện, giữ gìn vệ sinh lớp học .
c. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Để thấy được hiệu quả của bài tôi đã dùng hai bài kiểm tra với hình thức khác nhau để
đánh giá chất lượng học sinh của từng khối lớp trong 2 khóa học 2014 – 2015, 2015 – 2016.
- Bài kiểm tra thứ nhất: Bằng câu hỏi trắc nghiệm sau tiết học.
- Bài kiểm tra thứ hai: Kiểm tra viết 15 phút kết quả thu được như sau:
* Trong năm học 2014 – 2015:
TS Học sinh

Chưa nhận biết

Sl
20

50

%
55,6

Có nhận biết
Sl
16

%
44,4

Có ý thức
Sl
10

Biết vận dụng

%
27,8

Sl
4

%
11,1


* Trong năm học 2015 – 2016:
TS Học sinh
50

Chưa nhận biết

Có nhận biết

Có ý thức

Biết vận dụng

Sl

%

Sl

%

Sl

%

Sl

%

8


23,5

26

76,5

14

41,2

12

35,3

* Chênh lệch tỉ lệ giữa 2 năm học là:
Năm học

Chưa nhận
biết

Có nhận
biết

Có ý thức

Biết vận
dụng

2014 – 2015.


55,6

44,4

27,8

11,1

2015 – 2016.

23,5

76,5

41,2

35,3

Tỉ lệ chênh lệch.

32,1

32,1

13,4

24,2

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016


21


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Như vậy: Kết quả của bài kiểm tra đã cho thấy được sự tiến bộ của học sinh trong vấn
đề nhận thức về môi trường cụ thể là khóa học 2015 – 2016 so với khóa học 2014 – 2015 tỉ lệ
học sinh chưa nhận biết giảm 32,1 % còn tỉ lệ có ý thức tăng 13,4% đặc biệt là số học sinh đã
biết vận dụng, tăng lên 24,2 %. Những kết quả trên tuy chỉ mới bước đầu trong quá trình thực
hiện việc gắn kết GDMT trong việc dạy và học tập địa lí cũng như trong quá trình theo dõi
thực nghiệm của bản thân tại địa phương nhưng với tôi nhận thấy đây là một kết quả đáng
mừng. và có thể áp dụng tốt việc Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường
THCS.

III: KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Trong quá trình dạy học, tôi rất chú trọng tới việc giáo dục cho học sinh các b i ệ n
p há p b ả o vệ m ô i t r ư ờ n g . T ô i n hậ n t h ấ y, vi ệ c họ c s in h đ ư ợ c t i ế p c ậ n những
vấn đề hết sức gần gũi trong cuộc sống đã làm cho các em học tập sôi nổi, chủ
động và tích cực hơn. Các em rất hứng thú trong việc tìm hiểu, đưa ra nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường, đồng thời đưa ra các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường và một điều
quan trọng mà tôi nhận thấy là các em đã biết quan tâm đến môi trường nhiều hơn, có
ý thức tham gia bảo vệ môi trường tốt hơn.
- Qua những kết quả đạt được như đã nêu trên , tôi nhận thấy rằng việc đưa nội dung
tích hợp giáo dục và bảo vệ môi trường vào chương trình địa lí và các môn học khác ở bậc
THCS cũng như các bậc học khác là một vấn đề hết sức cần thiết vì giáo dục môi trường sẽ
đem lại cho người học các vấn đề sau:
+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường, tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt,
nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường,
quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia

với môi trường khu vực và toàn cầu.
+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn
lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ
Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

22


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề về môi trường, xây dựng quan niệm
đúng về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kĩ năng thu thập số
liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mĩ.
+ Có tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn phong
cách sống, thích hợp với việc sử dung hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường
cụ thể nơi sinh sống và làm việc.
+ Trong giảng dạy người thầy, người cô phải là người yêu nghề mến trẻ. Phải có năng
lực sáng tạo luôn có ý thức đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với thời kì mới, tạo ra
không khí vui tươi hứng thú trong giờ học.
Song ở mỗi tiết học vấn đề tích hợp kiến thức địa lí vào vấn đề giáo dục môi trường
tuỳ thuộc vào từng đối tượng học sinh và khả năng vận dụng kiến thức của các em mà vấn đề
môi trường cũng phát triển theo từng mức độ nhất định trong bậc học THCS.
2. Kiến nghị:
- Các cấp lãnh đạo có kế hoạch cấp thêm cho trường đầu chiếu projecter để tạo điều
kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy bằng giáo án điện tử.
- Sở Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức học tập chuyên đề “Phương pháp tích hợp giáo
dục bảo vệ môi trường” và chuyên đề “Sử dụng tiết kiệm năng lượng có hiệu quả” đối với bộ
môn Địa lí.
Những suy nghĩ trên đây của bản thân tôi chỉ là một khía cạnh và ở mức độ nhất định,

kính mong các đồng nghiệp, các cấp quản lí giáo dục tham khảo, góp ý đề cho vấn đề lồng
ghép nội dung giáo dục môi trường trong môn học địa lí đạt kết quả cao.
Xin chân thành cảm ơn !
Ea Ngai, ngày 01 tháng 03 năm 2016
Người viết.

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

23


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Đoàn Thị Hạnh

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 2015- 2016

24


Đề tài: Giáo dục môi trường gắn với giảng dạy địa lí ở trường thcs

Người thực hiện: Đoàn Thị Hạnh – Trường THCS Nguyễn Công Trứ - Năm học 25
2015- 2016


×