Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Các bài giảng giáo dục môi trường và các kiến thức cần nắm vững khi làm việ với cộng đồng trong các khu bảo tồn thiên nhiên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.88 KB, 20 trang )



32

CHƯƠNG III: CÁC BÀI GIẢNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC KIẾN THỨC
CẦN NẮM VỮNG KHI LÀM VIỆC VỚI CỘNG ĐỒNG TRONG
CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
BÀI 1: HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VIỆT NAM
I. Kiến thức
1. Tổng quan về Khu bảo tồn thiên nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực chủ yếu dành cho bảo vệ và thưởng thức các di sản
thiên nhiên và văn hoá, duy trì đa dạng sinh thái, và/hoặc duy trì môi trường sống cho các
sinh vật - IUCN (1994).
Lòch sử hình thành các khu khu bảo tồn Việt Nam được bắt đầu từ năm 1962 với việc ra đời
khu rừng cấm đầu tiên, Rừng cấm Cúc Phương (vườn quốc gia Cúc Phương). Cho đến nay
một hệ thống khu bảo tồn sau quy hoạch đang trình Chính phủ phê duyệt bao gồm 164 khu
với tổng diện tích tự nhiên là 2.265.753.88 ha. Trong đó: diện tích đất có rừng là
1.941.452,85 ha; diện tích đất chưa có rừng là 257.291,03 ha; diện tích mặt biển là 67.010
ha. Việc thành lập hệ thống rừng đặc dụng nêu trên là một thành tích quan trọng của Việt
Nam trong công cuộc bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Là
một đóng góp tích cực đối với việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học toàn cầu. Tổng
hợp về số lượng và diện tích hệ thống rừng đặc dụng phân theo các hạng như sau:
Hạng rừng đặc dụng
Số lượng
DiƯn tÝch (ha)
Tổng diện tích
tự nhiên
Đất có rừng Đất chưa có
rừng
Mặt biển
Tổng số 164 2.265.753,88 1.941.452,85 257.291,03 67.010,0


I. Vườn quốc gia 30 1.077.236,13 932.370,76 77.855,37 67.010,0
II. Khu bảo tồn thiên nhiên 69 1.099.736,11 938.602,69 161.133,42 0,0
IIa. Khu dự trữ thiên nhiên 58 1.060.958,87 910.334,90 150.623,97 0,0
IIb. Khu bảo tồn loài/sinh cảnh 11 38.777,24 28.267,79 10.509,45 0,0
III. Khu rừng bảo vệ cảnh quan 45 78.129,39 60.554,52 17.574,87 0,0
IV. Khu rừng nghiên cứu thực
nghiệm khoa học
20
10.652,25 9.924,88 727,37 0,0
Bảng 4: Hiện trạng hệ thống các khu bảo tồn của Việt Nam
Tuy nhiên, hệ thống khu bảo tồn Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm đa
dạng sinh học do tác động của con người. Do đội ngũ cán bộ của các khu bảo tồn vừa thiếu
về số lượng lại vừa yếu về chuyên môn nên công tác bảo tồn còn nhiều hạn chế. Hầu hết
các khu bảo tồn chưa có cán bộ khoa học chuyên sâu nghiên cứu về các nhóm loài sinh vật,


33
về cấu trúc rừng. Nhiều nhóm sinh vật hầu như ít được chú ý, thậm chí gần như bò lãng
quên. Tình trạng này kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động nghiên cứu và bảo
tồn đa dạng sinh học ở hầu hết các khu bảo tồn ở Việt Nam. Do cơ chế chính sách quản lý
không đồng bộ, chưa gắn chặt giữa bảo vệ rừng với đònh canh đònh cư, nhằm ổn đònh đời
sống dân cư sống trong và xung quanh các khu rừng đặc dụng. Chưa có chính sách thoả
đáng và cụ thể trong chăm lo cải thiện đời sống, giải quyết công ăn việc làm cho người dân
sống ở vùng đệm nên vùng đệm chưa thực sự là vành đai hiệu quả bảo vệ vùng lõi. Mặt
khác, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hiện nay ở các khu bảo tồn chưa được thống nhất, và
thuộc sự quản lý của các cơ quan khác nhau: trong 30 Vườn quốc gia, có 6 vườn quốc gia
trực thuộc Cục Kiểm lâm- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; số còn lại trực thuộc
UBND tỉnh quản lý.
Về đầu mối quản lý ở cấp Trung ương, hiện chưa có một cơ quan chuyên trách quản lý toàn
bộ các Vườn quốc gia nói riêng cũng như hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên nói chung, nên

việc điều hành các hoạt động cũng như việc đề xuất và thực hiện các chính sách bảo tồn
chưa được kòp thời và thống nhất, gây khó khăn cho công tác bảo tồn. Phần lớn các khu bảo
tồn thiên nhiên, đặc biệt là các khu bảo tồn do cấp tỉnh quản lý, thường xuyên thiếu kinh phí
và chủ yếu dựa vào một nguồn kinh phí hạn hẹp và thiếu ổn đònh; kinh phí hiện có chủ yếu
dùng cho đầu tư cơ bản, còn kinh phí dành cho các hoạt động bảo tồn rất hạn hẹp. Quy
trình phân bổ kinh phí như hiện nay không cho phép cán bộ quản lý khu bảo tồn có một tầm
nhìn cần thiết cho việc hoạch đònh kế hoạch bảo tồn. Ngân sách Nhà nước cho các khu bảo
tồn còn thấp (trừ một số Vườn quốc gia do Trung ương quản lý). Nguồn vốn ngân sách hiện
tại chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu để duy trì bộ máy Ban quản lý, các dự án đầu tư từ nguồn
ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung cho xây dựng cơ bản, chưa tập trung cho bảo tồn.
Việc đầu tư cho vùng lõi, vùng đệm chưa hài hoà, chưa phối hợp chặt chẽ, chưa có đầu mối
thống nhất. Dự án vùng đệm cần phải được tiến hành song song với dự án vùng lõi. Hiện
nay có nhiều dự án nước ngoài đầu tư một số dự án lớn cho các Vườn quốc gia và khu bảo
tồn, nhưng việc điều hành dự án chưa thật tốt, chưa tận dụng được sự giúp đỡ quốc tế về
kinh nghiệm và tài chính một cách hiệu quả nhất để đẩy mạnh công tác quản lý và phát
triển khu bảo tồn. Ở nhiều Vườn quốc gia và khu bảo tồn, cơ sở vật chất và trang thiết bò
phục vụ bảo tồn, đặc biệt là phòng cháy chữa cháy rừng còn thiếu và không đồng bộ. Hầu
hết các khu bảo tồn hiện có đều bò suy thoái động vật hoang dã ở những mức độ khác nhau
do các hoạt động như khai thác gỗ, thu hái lâm sản và săn bắt, buôn bán động vật hoang dã
bất hợp pháp, dẫn đến mật độ các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài q hiếm ở
các khu rừng đặc dụng đang bò giảm sút, nhiều loài có nguy cơ bò tuyệt chủng.
Dưới đây là những khái niệm/đònh nghóa, vai trò, chức năng và các tiêu chí phân loại các Khu
bảo tồn thiên nhiên.
1.1. Vườn quốc gia
a. Khái niệm
Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/ biển,
có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng


34


hoặc đại diện khỏi bò tác động hay chỉ bò tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu
hoặc bò đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Vườn quốc gia là nền tảng cho các
hoạt động khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lòch sinh thái được kiểm soát và
ít có tác động tiêu cực.
b. Vai trò, chức năng
a) Bảo tồn và duy trì trong tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng, đại diện, các quần
xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính đòa mạo, giá trò tinh thần và thẩm mỹ.
b) Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn.
c) Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, giải trí, tinh thần và du lòch sinh thái.
d) Tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và xung quanh
Vườn quốc gia.
c. Tiêu chí phân loại
a) Khu vực bảo tồn bao gồm một hay nhiều mẫu đại diện cho các vùng sinh thái chủ yếu,
có các loài sinh vật, các khu đòa mạo có giá trò đặc biệt về khoa học, giáo dục, tinh
thần, giải trí hay phục hồi sức khoẻ cấp quốc gia hoặc quốc tế.
b) Mỗi Vườn quốc gia phải có ít nhất 2 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 10 loài ghi trong
Sách đỏ của Việt Nam.
c) Diện tích của Vườn quốc gia cần đủ rộng để duy trì sự bền vững về mặt sinh thái học,
diện tích tối thiểu trên 7.000ha (Vườn quốc gia trên đất liền), trên 5.000ha (Vườn quốc
gia trên biển) và trên 3.000ha (Vườn quốc gia đất ngập nước), trong đó còn ít nhất
70% diện tích là các hệ sinh thái tự nhiên có giá trò đa dạng sinh học cao.
d) Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích Vườn quốc gia phải nhỏ
hơn 5%.
e) Có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.
1.2. Khu dự trữ thiên nhiên
a. Khái niệm
Khu dự trữ thiên nhiên là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập
nước/biển được thành lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chưa hoặc ít bò biến đổi và có
các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang bò đe doạ. Khu bảo tồn thiên nhiên cũng có thể bao gồm

các đặc trưng độc đáo về tự nhiên hoặc văn hoá. Khu bảo tồn thiên nhiên được quản lý bảo vệ
chủ yếu nhằm bảo vệ các hệ sinh thái và các loài, phục vụ cho bảo tồn, nghiên cứu, giám sát
môi trường, giải trí và giáo dục môi trường.
b. Vai trò, chức năng
a) Bảo tồn và duy trì các mẫu chuẩn của tự nhiên, duy trì quá trình sinh thái, các quần xã sinh vật,
các loài, nguồn gen và các thắng cảnh có tầm quan trọng quốc gia về khoa học, giáo dục, tinh
thần, giải trí và du lòch sinh thái.


35
b) Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn.
c) Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, tinh thần, giải trí và du lòch sinh thái ở mức
độ đảm bảo duy trì trạng thái tự nhiên hay gần tự nhiên.
d) Tạo điều kiện cải thiện đời sống của người dân sống trong và xung quanh Khu dự trữ
thiên nhiên, phù hợp với các mục tiêu bảo tồn.
c. Tiêu chí phân loại
a) Khu vực có hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, còn giữ được các đặc trưng cơ bản của tự nhiên,
ít có tác động có hại của con người, có hệ động, thực vật phong phú.
b) Khu vực có các đặc tính đòa sinh học, đòa chất học và sinh thái học quan trọng hay các
đặc tính khác có giá trò khoa học, giáo dục, cảnh quan và du lòch.
c) Phải có ít nhất 1 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 5 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
d) Diện tích tối thiểu của khu dự trữ thiên nhiên là 5.000ha (trên đất liền), 3.000ha (trên
biển), 1.000ha (đất ngập nước). Trong Khu dự trữ thiên nhiên, diện tích các hệ sinh thái tự
nhiên có tính đa dạng sinh học cao phải chiếm ít nhất là 70%.
e) Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích Khu dự trữ thiên nhiên
phải nhỏ hơn 5%.
1.3. Khu bảo tồn loài - sinh cảnh
a. Khái niệm
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần
đất ngập nước/biển, được quản lý bằng các biện pháp tích cực nhằm duy trì các nơi cư

trú và đảm bảo sự sống còn lâu dài cho một hoặc nhiều loài động, thực vật đặc hữu
hoặc loài q hiếm Khu bảo tồn loài - sinh cảnh được quản lý chủ yếu để bảo vệ môi
trường và bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các biện pháp quản lý.
b. Vai trò, chức năng
a) Bảo tồn và duy trì môi trường sống tự nhiên của các loài, nhóm loài, quần thể sinh vật
đặc trưng, có sự tác động phù hợp của con người.
b) Phục vụ nghiên cứu khoa học, giám sát môi trường và giáo dục cộng đồng, phục vụ cho
công tác quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.
c) Tạo điều kiện cải thiện đời sống người dân sống trong và xung quanh Khu bảo tồn loài -
sinh cảnh, phù hợp với mục tiêu bảo tồn.


36

c. Tiêu chí phân loại
a) Các khu vực là sinh cảnh quan trọng (vùng hoạt động hoặc nơi trú ẩn, kiếm thức ăn,
sinh sản), có vai trò và ý nghóa quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên, duy trì sự
tồn tại và phát triển của loài sinh vật có tầm cỡ quốc gia hay đòa phương.
b) Phải có ít nhất 1 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 3 loài được ghi trong Sách đỏ
Việt Nam.
c) Diện tích tuỳ thuộc vào yêu cầu về sinh cảnh của loài sinh vật cần bảo vệ, nhưng ít nhất
là 1.000 ha, trong đó các hệ sinh thái tự nhiên chiếm hơn 70% tổng diện tích
Khu bảo tồn.
d) Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích Khu bảo tồn phải
nhỏ hơn 10%.
1.4. Khu bảo vệ cảnh quan: Khu rừng di tích lòch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh
1.4.1. Khái niệm
Khu bảo tồn cảnh quan là khu vực trên đất liền, trên biển hay vùng đất ngập nước có chứa
đựng một hoặc nhiều di tích văn hóa, lòch sử hoặc là cảnh đẹp tự nhiên của đất nước.
1.4.2. Vai trò, chức năng

Bảo tồn mối quan hệ hài hoà giữa thiên nhiên và con người thông qua việc bảo vệ cảnh
quan, di tích văn hoá, lòch sử, duy trì cách sống và hoạt động kinh tế truyền thống, hài hoà
với thiên nhiên và các cơ cấu văn hoá và xã hội của các cộng đồng có liên quan.
a) Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến vui chơi, giải trí và du lòch, phù hợp với phạm
vi và đặc điểm của khu vực.
b) Khuyến khích các hoạt động khoa học và giáo dục nhằm đem lại những lợi ích lâu dài
cho người dân đòa phương và tăng cường sự ủng hộ của quần chúng cho việc bảo vệ
môi trường của khu vực đó.
c) Mang lại lợi ích cho cộng đồng đòa phương thông qua việc cung cấp các sản phẩm tự
nhiên (lâm, đặc sản) và các dòch vụ khác (nước sạch, nguồn thu từ du lòch…).
1.4.3. Tiêu chí phân loại
a) Nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp (như ghềnh đá, mỏm núi, điểm quan sát rạng đông
hoặc mặt trời lặn lý tưởng.
b) Khu vực có các cảnh quan, di tích lòch sử – văn hoá đã được xếp hạng trên đất liền
hoặc có hợp phần đất ngập nước, biển có giá trò văn hoá, lòch sử, thẩm mỹ cao, sinh
cảnh đa dạng, với các loài sinh vật độc đáo, có các phương thức sử dụng tài nguyên, tổ
chức xã hội, phong tục, tập quán, cách sống và tín ngưỡng.
c) Khu rừng do cộng đồng quản lý, bảo vệ theo phong tục, tập quán, có truyền thống gắn bó
với cộng đồng về sản xuất, đời sống, văn hoá và tín ngưỡng.
d) Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất khác so với diện tích Khu bảo vệ cảnh quan nhỏ
hơn 10%.


37
2. Những khó khăn và thách thức trong công tác quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên
2.1. Hiện trạng dân cư trong rừng đặc dụng
Hầu hết các Khu bảo tồn thiên nhiên hiện nay đều có dân sinh sống (do lòch sử để lại, do di
dân tự do), 80% các khu bảo tồn có các hộ gia đình sinh sống bên trong và dân số ngày
một tăng. Trừ một số khu bảo tồn thuộc vùng trung du, đồng bằng ven biển có tỷ lệ tăng
dân số thấp như Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có tỷ lệ 1,3%, Vườn quốc gia Ba Vì 1,6%, Vườn

quốc gia Cát Tiên 1,6%... các khu bảo tồn khác có tỷ lệ tăng dân số cao, trung bình 1,94%.
Cao nhất là Vườn quốc gia Yok Đôn 4,21% (bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và tăng cơ
học). Tổng hợp số nhân khẩu đang sinh sống ở 30 Vườn quốc gia cho thấy, số nhân khẩu
sống trong vùng lõi của Vườn là 30.766 người, vùng đệm là 1.051.048 người. Nhiều Khu bảo
tồn thiên nhiên có hàng vài nghìn nhân khẩu sống trong vùng lõi như Vườn quốc gia Cát
Tiên: 3.017 người, Ba Bể 3.730 người, Núi Chúa 6.993 người. Như vậy, các khu rừng đặc
dụng còn chòu sức ép dân số rất lớn về khai thác tài nguyên rừng.
Hầu hết cư dân ở các khu bảo tồn thường là những người nghèo và thiếu kiến thức bảo tồn.
Nghề kiếm sống là nông nghiệp và khai thác lâm sản. Công tác phát triển cộng đồng hầu
như chưa được thực hiện. Dự án đầu tư vùng đệm thiếu, nếu có được phê duyệt thì kinh phí
của các đòa phương còn nhỏ giọt và không đủ, hơn nữa dự án đầu tư phát triển vùng đệm
không được xây dựng đồng bộ cùng dự án đầu tư vùng lõi. Diện tích đất sản xuất nông
nghiệp ở vùng đệm chiếm tỷ lệ thấp, bình quân khoảng 15% tổng diện tích đất toàn vùng
(vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát 12,34%, Phong Nha- Kẻ Bàng 11,71%, Bạch Mã 19,60%).
Nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là độc canh cây lúa, các loài hoa màu và cây công
nghiệp kém phát triển. Đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích (chiếm 75%), nhưng sản
xuất lâm nghiệp chưa phát triển, do vậy thu nhập của người dân từ lâm nghiệp rất thấp chỉ
chiếm 5,3% trong tổng thu nhập, trong khi đó nông nghiệp chiếm 43,8% tổng thu nhập. Đây
là vấn đề cần được nghiên cứu trong quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển kinh tế xã
hội vùng đệm để giúp người dân nâng cao đời sống tại các Khu bảo tồn thiên nhiên.
Việc tái đònh cư cho cộng đồng sinh sống trong Khu bảo tồn đang gặp khó khăn (thiếu kinh
phí, quỹ đất, người dân không muốn tái đònh cư ra khỏi Khu bảo tồn...). Kết quả của các chương
trình tái đònh cư không đồng đều do thiếu kế hoạch, hoạt động hỗ trợ và giám sát. Các chính
sách hiện hành liên quan đến cộng động dân cư sống trong khu bảo tồn và vùng đệm chưa
được quan tâm thoả đáng, mức sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ người đói
nghèo ở vùng đệm cao hơn so với mức trung bình toàn quốc. Đây là một trong những nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng trong các Khu bảo tồn. Do vậy
vùng đệm và cộng đồng dân cư đang sinh sống ở các Khu bảo tồn vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn
đề bất lợi cho công tác bảo vệ tài nguyên rừng. Vấn đề bảo vệ tài nguyên trong các khu bảo
tồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nếu không có sự liên kết với chính quyền đòa phương và các

cộng đồng dân cư vùng đệm thì vấn đề bảo vệ các Khu bảo tồn khó có thể thành công. Để
giảm thiểu những hoạt động ảnh hưởng đến các Khu bảo tồn thì vấn đề đặt ra phải xây dựng
dự án đầu tư để thúc đẩy sản xuất ở vùng đệm phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân. Mặt khác các chính sách có liên quan đến quản lý tài nguyên Khu bảo tồn
và các cộng đồng cũng cần được nghiên cứu để các Khu bảo tồn có thể mang lại lợi ích cho


38

người dân và hỗ trợ sự phát triển trong khu vực. Đây là những vấn đề cần được quan tâm nhất
là việc phát triển kinh tế xã hội cũng như chiến lược phát triển các trong thời gian tới.
2.2. Hiện trạng cơ sở hạ tầng trong Khu bảo tồn thiên nhiên
Cơ sở hạ tầng của hầu hết các Khu bảo tồn chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ công tác
bảo tồn. Nhiều Khu bảo tồn chưa thành lập Ban quản lý riêng nên chưa có trụ sở làm việc.
Cơ sở vật chất và trang thiết bò phục vụ bảo tồn, đặc biệt là phòng cháy chữa cháy rừng còn
thiếu và không đồng bộ. Vườn quốc gia Xuân Sơn được chuyển hạng thành Vườn quốc gia từ
năm 2002 với 58 cán bộ viên chức, đến nay (2008) mới có trụ sở làm việc, thiếu các cơ sở
phục vụ nghiên cứu khoa học, du lòch sinh thái, diễn giải môi trường...Một số Vườn quốc gia
có trụ sở ban quản lý nhưng do ít được quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng nên bò xuống cấp
hoặc chưa đáp ứng được so với yêu cầu phục vụ nghiên cứu khoa học như Vườn quốc gia Vũ
Quang, U Minh Hạ, Kon Ka Kinh, Phước Bình.
2.3. Hiện trạng du lòch trong các khu bảo tồn thiên nhiên
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy đònh: Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn
thiên nhiên nhiên, bảo tồn nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lòch
sử văn hoá danh lam thắng cảnh, phục vu nghỉ ngơi, du lòch... Điều này cho thấy Luật pháp
đã cho phép tổ chức du lòch ở rừng đặc dụng, nhưng du lòch phải phù hợp với mục tiêu bảo
tồn không gây ảnh hưởng xấu đến bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và các hệ
sinh thái.
Các Khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt là các Vườn quốc gia được công nhận là khu di sản
thiên nhiên ở khu vực và thế giới như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Cát Tiên, Cát Bà,

Ba Bể, Hoàng Liên, Phú Quốc...nơi bảo tồn nhiều hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao,
đã và đang là điểm đến du lòch hấp dẫn. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ cho đến nay có
khoảng trên 30% lượng khách du lòch đến các khu vực này, trong đó phần lớn là khách du
lòch nội đòa, chiếm tới 80% tổng lượng khách. Tuy nhiên có những điểm thu hút được đa số
khách du lòch quốc tế, điển hình là khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long với trên 82,3%
lượng khách quốc tế. Tuy vậy ở hầu hết các Khu bảo tồn, số lượng khách du lòch đến chưa
nhiều (trừ một số Vườn quốc gia như Cát Bà, Cát Tiên, Phong Nha - Kẻ Bàng, Ba Bể, Ba Vì,
Hoàng Liên...) nhờ thuận tiện giao thông, và được đầu tư nên có điều kiện thu hút khách du
lòch. Theo báo cáo điều tra đánh giá hiện trạng bảo tồn thiên nhiên, giáo dục môi trường, du
lòch sinh thái ở hệ thống các Khu bảo tồn Việt Nam năm 2006 thì lượng khách du lòch đến
các Khu bảo tồn trong một năm dưới 2.000 khách chiếm 44,7%; từ 2.000 - 10.000 khách
chiếm 32% và trên 10.000 khách chiếm 21,4%. Hầu hết Khu bảo tồn còn thiếu quy hoạch
phát triển du lòch (chưa có cơ chế đánh giá và giám sát du lòch, quy chế khách tham quan,
sức chứa của môi trường); lợi nhuận thu được từ hoạt động du lòch chưa được đầu tư trở lại
cho bảo tồn. Một số đòa phương có điều kiện phát triển du lòch thường có xu hướng phát triển
cơ sở du lòch xâm lấn vào các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia. Nhiều áp lực như ô nhiễm môi
trường, chia cắt sinh cảnh, nhận thức hạn chế của khách du lòch đã gây sức ép lớn cho các
khu rừng đặc dụng. Tỷ lệ người dân đòa phương tham gia vào các dòch vụ du lòch còn ít, lợi
nhuận chủ yếu đổ về các công ty du lòch, do vậy họ không thấy được lợi ích của việc phải


39
giữ rừng. Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lòch nhìn chung có sự
hướng dẫn của Ban quản lý khu rừng đặc dụng và các cơ quan quản lý nhà nước về du lòch
đòa phương, tuy nhiên sự giúp đỡ này thường chỉ ở giai đoạn đầu còn sau đó hoạt động bò
buông lỏng, thiếu sự giám sát của cơ quan chức năng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự
hấp dẫn du lòch mà còn ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ở các Vườn quốc
gia và Khu bảo tồn thiên nhiên.
Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lòch như một yếu tố
quan trọng góp phần bảo vệ tài nguyên các Khu bảo tồn, cần phải tạo điều kiện thuận lợi để

cộng đồng có thể tham gia vào quá trình quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch phát triển
du lòch tại các Khu bảo tồn thiên nhiên; nâng cao nhận thức của họ về trách nhiệm bảo vệ các
giá trò tự nhiên, đa dạng sinh học; xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với đặc thù của đòa
phương để đảm bảo một phần từ thu nhập du lòch sẽ quay lại hỗ trợ cho cộng đồng và cho
công tác bảo tồn phát triển tài nguyên đa dạng sinh học và môi trường du lòch tại các Khu bảo
tồn thiên nhiên.
2.4. Hiện trạng Chương trình đầu tư hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nêu rõ: "Nhà nước có chính sách điều hoà, huy động, thu hút
các nguồn vốn của tổ chức, cá nhân, trong nước và ngoài nước để đầu tư, xây dựng, bảo tồn
lâu dài các khu rừng đặc dụng". Hiện nay, đầu tư cho hệ thống rừng đặc dụng chủ yếu từ các
nguồn ngân sách nhà nước; tài trợ quốc tế; cộng đồng và khối tư nhân; trong đó ngân sách
nhà nước và tài trợ quốc tế được coi là các nguồn đầu tư chủ yếu. Đã có một số doanh
nghiệp tư nhân đầu tư cho công tác bảo tồn tại Việt Nam nhưng còn ở mức độ hạn chế và
hiện chưa thống kê được nguồn đầu tư tiềm năng này.
2.4.1. Đầu tư từ ngân sách nhà nước
Hiện nay, phần lớn các khu rừng đặc dụng, đặc biệt là các khu do cấp tỉnh quản lý, thường
xuyên thiếu kinh phí và chủ yếu dựa vào một nguồn kinh phí hạn hẹp và thiếu ổn đònh; kinh
phí hiện có chủ yếu dùng cho đầu tư cơ bản, còn kinh phí dành cho các hoạt động bảo tồn
rất hạn hẹp. Quy trình phân bổ kinh phí như hiện nay không cho phép cán bộ quản lý các
khu bảo tồn có một tầm nhìn cần thiết cho việc hoạch đònh kế hoạch bảo tồn. Ngân sách
Nhà nước cho các khu rừng đặc dụng còn thấp trừ một số Vườn quốc gia do Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn quản lý. Nghiên cứu khảo sát chương trình đầu tư ở một số khu rừng
đặc dụng cho thấy: đònh mức và tổng mức vốn cấp cho các Khu bảo tồn không phải tuỳ
thuộc vào vò trí, nhiệm vụ, tầm quan trọng hoặc nội dung công tác đã được quy đònh trong dự
án đầu tư của các Khu bảo tồn, mà tuỳ thuộc vào khả năng ngân sách của từng cấp. Các khu
rừng đặc dụng trực thuộc trung ương có đònh mức chi tiêu và tổng mức ngân sách được cấp
hàng năm cao hơn các Khu bảo tồn trực thuộc đòa phương. Từ năm 1997, ngân sách nhà
nước cho các Vườn quốc gia do trung ương quản lý chiếm trung bình là 0,13% GDP hay 0,5%
tổng số chi tiêu ngân sách khoảng từ 3 đến 3,5 triệu USD một năm. Ngân sách nhà nước
đầu tư cho các Khu bảo tồn do tỉnh quản lý khoảng 5 triệu USD một năm. Tổng hợp tình hình

đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước của 28 Vườn quốc gia từ năm 2000
đến 2007 là 706,3 tỷ đồng. Bình quân hàng năm mỗi Vườn quốc gia được đầu tư xây dựng

×