Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Thuyết trình vấn đề bùng nổ dân số

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.66 KB, 16 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG


KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
ĐỀ : Vấn Đề Bùng Nổ Dân Số

Giáo viên :Nguyễn Minh Hà
Nhóm 4: Trương Hoàng Phục ( Nhóm Trưởng) SĐT : 0924737480
Lê Minh Tiến
Đỗ Phú Quý
Nguyễn Minh Hiếu
LỚP: 13CĐ-CK4


LỜI MỞ ĐẦU
Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề có tính toàn thế giới và tính
nhân loại, có hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đe doạ sự sống còn đối với
loài người và là những vấn đề chỉ có thể dựa vào nổ lực chung của toàn
nhân loại mới có thể giải quyết được.
Đây là những định nghĩa khá rõ ràng nhưng trên thực tế chỉ ra được
một vấn đề là vấn đề toàn cầu đôi khi gặp rất nhiều tranh cãi. Một số vấn
đề mang tính cục bộ được khuyếch trương một cách dụng ý lên thành vấn
đề nhân loại trong khi một số khác mang tính phổ biến lại bị giới hạn là vấn
đề cho một số khu vực. Vì vậy chứng minh một vấn đề thực sự là một vấn
đề toàn cầu là một công việc quan trọng vì chỉ khi đó chung ta mới định
hướng được nhận thức và mối quan tâm tương xứng của toàn thế giới từ
đó có một sự nghiên cứu đầy đủ để đi tới một giải pháp toàn diện và thích
hợp.
Trong bài thuyết trình của nhóm 4 của mình, nhóm 4 đã chọn vấn đề
bùng nổ dân số và sẽ đi vào chứng minh bùng nổ dân số không chỉ là vấn


đề của Châu Phi hay Châu Á, bùng nổ dân số là một vấn đề toàn cầu
thông qua ba bước chính là trình bày thực trạng, tác động, và giải pháp
cho vấn đề bùng nổ dân số hiện nay trên thế giới.

LỚP: 13CĐ-CK4


THỰC TRẠNG CỦA BÙNG NỔ DÂN SỐ:

I.

Dân số : là tập hợp những người sinh sống trong một quốc
gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành
chính.
 Bùng nổ dân số: là sự tăng trưởng của mật độ dân số ở
mức cao khiến cho không gian, lương thực, thực phẩm, đất
đai, nước uống và các nguồn tài nguyên khác trong khoảng
không gian hiện có không đủ để cung cấp cho nhu cầu của
tất cả số dân
Thực trạng của bùng nổ dân số thế giới :
Xem xét tình hình dân số thế giới từ trước đến nay thì dân số
thế giới bùng nổ với một tốc độ rất lớn.
Cụ thể là vào thời kỳ đồ đá cũ, số lượng tổ tiên con người
hiện đại, chỉ mới là 150 triệu người. Ở giai đoạn tiếp theo đầu thời
kỳ đồ đá mới, dân số thế giới lúc này đạt 15 triệu người. Và nếu
ta đem so sánh khoảng thời gian để dân số thế giới tăng lên cùng
1 tỷ người, và sau 80 năm (1930) đã lên tới 2 tỷ người. Và
khoảng cách này ngày càng giảm dần từ 30 năm (1960) với 3 tỷ
người, giảm xuống còn 14 năm (1974) với 4 tỷ người và cuối
cùng là 11 năm (1985) để tăng từ 4 tỷ lên 5 tỷ người.

Và nếu như nhìn trong tổng thể tiến trình phát triển của lịch
sử loài người từ trước đến nay, thì chỉ có giai đoạn cuộc cách
mạng công nghiệp diễn ra trong khoảng thời gian 1965 – 1970, tỷ
lệ tăng dân số trên phạm vi toàn cầu cao và đạt đến đỉnh điểm
cao nhất hay gọi là giai đoạn bùng nổ dân số.
Dân số thế giới hiện nay có khoảng 6.7 tỷ người. Các thành
phố đông dân nhất thế giới là Tokyo ( 35 triệu người), Mexico city
(19,4 triệu người), New York (18,7 triệu người), Bombay (18,2
triệu người).


1.

LỚP: 13CĐ-CK4


Thứ tự



Quốc gia

Thế giới

Dân số

Mật độ dân số
(người/ km²)

6.618.381.951


43

1

Trung Quốc

1.315.844.000

136

2

Ấn Độ

1.110.000.000

328

3

Hoa Kỳ

301.574.000

30

4

Indonesia


222.781.000

126

5

Brasil

186.405.000

21

6

Pakistan

164.000.000

202

7

Bangladesh

149.900.000

1.002

8


Nga

142.800.000

8

9

Nigeria

131.530.000

139

10

Nhật Bản

127.000.000

337

LỚP: 13CĐ-CK4


11

México


107.000.000

LỚP: 13CĐ-CK4

54


Nguyên nhân tăng dân số là do:
Trong giai đoạn đầu lịch sử phát triển của loài người, tỷ lệ sinh còn
khá cao cùng với nhu cầu duy trì nòi giống và lực lượng sản xuất nhằm
phục vụ cho sự phát triển của xã hội.
Quan niệm lạc hậu: Ở một số nước đặc biệt là các nước phương
Đông vẫn còn những quan niệm lạc hậu như trọng nam kinh nữ, trời sinh
voi sinh cỏ, sinh con quý tử,muốn có con trai, muốn đông con. Ở các nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nhu cầu lao động tay chân cao cũng là
nguyên nhân dẫn đến việc đông con. Tại Việt Nam :Theo điều tra của Tổng
cục Thống kê, tính đến hết quý 1 năm 2007, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
vẫn ở mức xấp xỉ 17%, nghĩa là gần 6 phụ nữ sinh con thì 1 trường hợp là
con thứ ba trở lên.
Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng bùng nổ dân
số.

DỰ ĐOÁN:
Theo như các con số thống kê mới nhất cho tới nay, thì dân số thế giới vào
khoảng 6,7 tỷ người và ước tính thì con số này vẫn tăng them 76 triệu người mỗi năm,
nghĩa là vào khoảng 209 000 người mỗi ngày. Còn theo các nhà nhân khẩu học thì dân
số thế giới hiện đang tiếp tuc tăng trưởng với tốc độ cao khoảng 1,7% mỗi năm và ước
tính cho đến năm 2020 sẽ xấp xỉ là 8 tỷ người. Dự đoán cao nhất hiện nay là dân số thế
giới vào năm 2020 sẽ là 12,5 tỷ người. Nếu lấy số liệu này làm cơ sở thì năm 2100, sẽ
tăng tới 19 tỷ. Hiện nay, các chuyên gia vẫn tiếp tục suy nghĩ, trước khi kết thúc một thế

kỉ sau, vấn đề bùng nổ dân số thế giới cuối cùng nghiệm trọng tới mức độ nào.

LỚP: 13CĐ-CK4


TÁC ĐỘNG CỦA BÙNG NỔ DÂN SỐ

II.
1.

Đe dọa tới môi trường:

Sự bùng nổ dân số dẫn đến việc con người phải mở rộng phạm vi hoạt
động, kéo theo sự biến mất của nhiều loài động thực vật trên thế giới, sự đa dạng sinh
học ngày càng giảm. Cùng với đó, con người không ngừng tùy tiện khai thác và tàn phá
thiên nhiên như chặt phá rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản đất đá, săn bắt thú quý
hiếm… để phục vụ cho đời sống ngày càng phát triển, nhu cầu ngày càng cao và nhiều
hơn của mình, gây ra những thiệt hại nặng nề đối với môi trường như xói mòn đất đai,
sa mạc hóa, cạn kiệt nguồn nước, mưa axit… chưa kể tới việc lượng rác, khí thải, chất
thải độc hại khổng lồ con người thải ra hàng ngày đang gây ra những báo động về tình
trạng ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon, sự thay đổi khí hậu toàn
cầu…
2.

Nguyên nhân gây ra đói nghèo:

Thế giới hiện có khoảng 2,8 tỷ người sống với mức thu nhập dưới 2
USD/ngày và khoảng 800 triệu người bị suy dinh dưỡng. Điều này ngày càng có nguy
cơ tăng cao hơn khi dân số ở các nước đang phát triển vẫn có xu hướng tăng nhanh.
Theo dự đoán của các chuyên gia, số dân ở 49 nước nghèo nhất thế giới dự kiến sẽ

tăng 3 lần. Tỷ lệ dân số tăng cao nhưng điều kiện sống, cơ sở vật chất về y tế, giáo dục
ở các nước nghèo không hề phát triển mà thậm chí còn xuống cấp, thiếu thổn, khiến
cho tình trạng đói nghèo trở thành một vấn đề đáng báo động trên toàn thế giới
3. Khan hiếm tài nguyên:

Với hơn 6 tỉ người, dân số Trái Đất hiện đã lớn đến mức lượng tài nguyên
cần có theo nhu cầu đã vượt quá xa khả năng cung cấp hiện có của thiên
nhiên. Hơn thế nữa, việc khai thác ồ ạt, sử dụng không hiệu quả cùng với
việc không có kế hoạch tái tạo lại những tài nguyên đã khai thác lại càng góp
phần đẩy toàn nhân loại vào tình trạng khan hiếm tài nguyên với mức độ
ngày càng nặng nề hơn. Thậm chí cả những tài nguyên có nguồn cung cấp
tưởng chừng vô hạn như đất, nước cũng đang đặt ra cho con người mối lo
ngại về sự cạn kiệt nếu như dân số vẫn tiếp tục bùng nổ với tốc độ như hiện
nay.
4. Đe doạ an ninh thế giới:
Sự phát triển dân số khiến cho chính phủ các nước đông dân phải đau đầu
với bài toán giải quyết việc làm, gánh nặng làm trì trệ nền kinh tế và sự quá
tải của các dịch vụ công cộng, y tế. Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ gây nên những
bất ổn về chính trị và đe dọa nền anh ninh của quốc gia, quốc tế. Bất ổn

LỚP: 13CĐ-CK4


không chỉ tồn tại ở các nước đông dân mà còn lan sang các quốc gia phát
triển bởi tình trạng di dân, tị nạn gây ra rối loạn kinh tế xã hội và chính trị.
III.

TÁC ĐỘNG CỦA BÙNG NỔ DÂN SỐ ĐẾN
QUAN HỆ QUỐC TẾ:
1. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và hình thành tư duy toàn cầu:


Như phần trên đã trình bày, ta có thể thấy bùng nổ dân số thật
sự là một vấn đề cần nhận được sự quan tâm của tất cả các cấp, các
ngành cũng như các quốc gia, khu vực trên thế giới. Một quốc gia, một
khu vực riêng lẻ không thể tự mình giải quyết triệt để vấn đề này. Sự hợp
tác liên ngành, liên khu vực, liên quốc gia là một yêu cầu tất yếu. Do vậy,
bản thân bùng nổ dân số, một cách tự nhiên, trở thành một trong những
nhân tố góp phần thúc đẩy hợp tác toàn cầu. Hợp tác diễn ra trên cả hai
cấp độ song phương và đa phương. Ở cấp độ đa phương, khi hiện tượng
bùng nổ dân số bắt đầu xuất hiện vào nửa cuối của của thế kỉ 20, các tác
hại của nó bắt đầu rõ rệt và ngày càng sâu rộng cũng là lúc các quốc gia
họp bàn nhau lại để bàn giải pháp cho vấn đề này. Có thể kể đến ba cuộc
hội nghị toàn cầu về vấn đề dân số: Hội nghị năm 1974 tại Bucharest, Hội
nghị năm 1984 tại Mexico city và Hội nghị năm 1994 tại Cairo. Đó là chưa
kể hàng loạt các hội nghị dân số cấp khu vực, cấp châu lục v.v Tất cả các
quốc gia, giàu và nghèo, phát triển và đang phát triển cùng đại diện các tổ
chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ… cùng chung sức thảo luận và nỗ
lực đưa ra những giải pháp tối ưu nhất mang tính toàn cầu cho vấn đề
này. Ở cấp độ song phương, các quốc gia cùng chịu sức ép dân số tăng
cường chia sẻ kinh nghiệm; các nước giàu và các TNC viện trợ cho các
chương trình kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng dân số cho các
nước nghèo; các tổ chức phi chính phủ tại các nước phát triển như IOM,
UNPFA… khuyến nghị các giải pháp, các chương trình hành động mang
tính định hướng, giúp từng quốc gia áp dụng sao cho phù hợp với thực
tiễn bùng nổ dân số ở nước mình. Do tầm ảnh hưởng sâu rộng của bùng
nổ dân số, việc tìm giải pháp cho vấn đề này không chỉ là trách nhiệm của
riêng một nước nào, nó trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích cho
cả nước giàu và nước nghèo ở nhiều phương diện và cấp độ khác nhau.
Do vậy, hợp tác quốc tế một cách tích cực và thực chất sẽ mang lại kết
quả khả quan cho tất cả các bên. Thông qua sự hợp tác toàn cầu nói trên

vì một mục đích chung: tìm giải pháp cho bùng nổ dân số - vấn đề nhức
nhối trên toàn cầu, trong cộng đồng quốc tế dần hình thành một hệ thống
những nhận thức chung, mang tính tổng quát và phổ biến – mà ta thường
gọi là tư duy toàn cầu - bao gồm những nhận thức về chuẩn mực cho vấn
đề dân số, tác hại của bùng nổ dân số, trách nhiệm của mỗi quốc gia,

LỚP: 13CĐ-CK4


khung giải pháp cho vấn đề này v.v Điều này được minh chứng qua một ví
dụ cụ thể: chương trình hành động 20 năm được các quốc gia đồng loạt
kí kết tại hội nghị Dân số thế giới tổ chức tại Cairo – 1994 với các chương
trình cụ thể như giáo dục kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ sinh sản v.v đã
và đang được thực hiện một cách rộng rãi trên toàn thế giới.

2. Bùng nổ dân số khiến quan hệ quốc tế trở nên căng thẳng :

Điều này được lý giải qua các khía cạnh sau: Một trong những
mục tiêu mà bất cứ nước nào theo đuổi là đảm bảo chính sách cho công
dân nước mình, không chỉ trong hiện tại mà còn cho những thế hệ sau.
Dân số thế giới ngày càng tăng mà tài nguyên thiên nhiên, năng lượng lại
có hạn, sự phân bổ tài nguyên thiên nhiên lại không đồng đều giữa các
nơi trên thế giới. Có nước được thiên nhiên ưu đãi, nhiều tài nguyên, trữ
lượng lớn nhưng ngược lại cũng có những nước hầu như không có hoặc
chỉ có rất ít tài nguyên, khiến hầu hết các loại hàng hoá phải nhập khẩu.
Vì vậy, tất yếu sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa các quốc gia về tài nguyên
thiên nhiên. Sự cạnh tranh này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau,
được biểu hiện ở nhiều cấp độ. Điển hình rõ nhất chính là cuộc tranh
giành chủ quyền đối với vùng biển Bắc Cực. “Băng tan” ở Bắc Cực là cụm
từ rất hay gặp gần đây. Băng tan không chỉ vì nhiệt độ trái đất tăng lên mà

còn vì sức nóng của những cuộc chạy đua nghiên cứu khoa học, tìm kiếm
bằng chứng địa chất để chứng minh Bắc Cực thuộc chủ quyền của mình
giữa Nga, Mỹ, Canada, Đan Mạch và Na-uy. Sở dĩ các nước ráo riết như
vậy là vì vùng biển Bắc Cực sở hữu tới 10 tỉ tấn dầu hoả, khoảng 25% trữ
lượng dầu của thế giới. Việc Nga cắm cờ ở độ sâu hơn 4000m ở Bắc Cực
(02/08/2007) đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các nước khác cũng đang
tranh chấp. Một ví dụ khác là cuộc chiến Iraq do Mỹ phát động vào năm
2003. Lý do sâu xa của cuộc chiến không gì khác chính là trữ lượng “vàng
đen” khổng lồ của Iraq. Tất nhiên lý do này đã được phía Mỹ che đậy
bằng những cụm từ lập lại hoà bình, thiết lập nền dân chủ ở Iraq. Dân số
bùng nổ đồng nghĩa với lượng rác thải, khí thải tăng lên với tốc độ chóng
mặt. Các quốc gia sớm nhận thức được vấn đề ô nhiễm môi trường tác
động sâu rộng thế nào nên nghị định thư Kyoto ra đời như một nỗ lực của
các nước để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên có một sự thật là Mỹ là
nước đóng góp lớn nhất, chiếm tới gần 40% trong tổng số lượng khí thải
nhà kính của toàn thế giới nhưng lại không chính thức phê chuẩn nghị

LỚP: 13CĐ-CK4


định thư Kyoto và điều này đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng
quốc tế. Tội phạm cũng là một trong những hệ quả của việc bùng nổ dân
số. Bùng nổ dân số thường xảy ra ở những nước đang phát triển, hoặc
chậm phát triển. Dân số quá đông tăng nhanh hơn tốc độ phát triển của
cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, … cộng với tình
trạng thất nghiệp khiến xã hội phải oằn mình chịu một sức ép rất lớn,
càng gây cản trở cho sự phát triển của đất nước, không thể đảm bảo chất
lượng sống của công dân. Tất cả các điều này sẽ là yếu tố tiềm tàng, là
chất xúc tác làm gia tăng số lượng tội phạm ở những nước bùng nổ dân
số. Đây chính là một vòng tròn luẩn quẩn của vấn đề. Tội phạm là nguyên

do gây bất ổn định xã hội, chính trị, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Trong
thời đại ngày nay, công nghệ hiện đại, các nước mở cửa hội nhập ngoài
những mặt tích cực thì cũng là yếu tố thúc đẩy sự lan toả của các nhóm,
tổ chức tội phạm ra ngoài khu vực nội bộ một quốc gia, lan rộng ra các
nước láng giềng, khu vực và thế giới, tạo ra một mạng lưới tội phạm đe
doạ sự sống của con người. Cuộc sống không đảm bảo cũng sẽ dẫn đến
tình trạng di dân quốc tế. Các dòng người tỵ nạn đổ xô về các nước có
thể cho họ một cuộc sống tốt hơn. Dòng người di cư cũng là làn sóng lan
truyền dịch bệnh. Các nhóm người đông đúc, khác nhau về cội rễ phát
triển khi sống trong cùng một khoảng không gian nhất định không thể
tránh khỏi những “va chạm” với nhau. Đó là xung đột về văn hoá, phong
tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng… là mầm mống của những xung đột,
bất ổn định của nước có dân nhập cư. Ngược lại đối với những nước có
công dân di cư, họ cũng phải đối mặt với vấn đề mất nguồn lao động,
thậm chí là chảy máu chất xám- một yếu tố cần thiết cho phát triển đất
nước. Có nhiều nguyên do chảy máu chất xám như các nước phát triển
có ưu đãi nhiều hơn về cơ sở vật chất, lương, điều kiện sống.

IV.

GỈAI PHÁP:
1. Cấp quốc gia:

Vấn đề bùng nổ dân số thực sự đã là một vấn đề toàn cầu, tác động
không riêng rẽ đến quốc gia nào mà đến toàn thế giới. Hơn nữa, nguyên
nhân của vấn đề lại xuất phát từ từng quốc gia. Vì vậy, để giải quyết được
vấn đề dân số cũng đòi hỏi phải có sự nỗ lực của từng quốc gia Để tìm ra
giải pháp cho vấn đề bùng nổ dân số, mỗi quốc gia trước hết phải có
những đánh giá đúng đắn vê tình hình dân số của quốc gia mình. Có thể
thấy hiện nay tình trạng bùng nổ dân số tập trung chủ yếu ở các châu lục


LỚP: 13CĐ-CK4


kém phát triển hơn như châu Á và châu Phi trong khi đó dân số lại tăng
rất chậm ở các quốc gia phát triển như Nhật bản và Mỹ, vì vậy để giải
quyết bùng nổ dân số thì chúng ta phải nhắm đến các quốc gia mà tại đó,
tỉ lệ gia tăng dân số là cao. Các quốc gia này, trước hết phải nhận thức
được tầm quan trọng của một cơ cấu dân số hợp lý để từ đó dồn nỗ lực
vào việc giải quyết vấn đề. Sau khi nhận thực được, các quốc gia phải có
những định hướng cho quốc gia mình. Một số định hướng cơ bản gồm có:
nâng cao chất lượng dân số, tạo cơ sở dân số hợp lý ở các siêu đô thị,
gắn phát triển dân số với phát triển KT-XH và môi trường v.v… Từ những
định hướng này, những biện pháp cụ thể mà các quốc gia cần triển khai là
Thực hiện nhiều chương trình tuyên truyền và giảng dạy để nâng cao hiểu
biết của người dân về vấn đề dân số và tầm quan trọng của vấn đề này.
Từ đó thực hiện các chương trình giáo dục thay đổi hành vi. Có một chiến
lược thực hiện kế hoạch hóa gia đình phổ biến và có hiệu quả, đặc biệt
nhắm tới các đối tượng nguy cơ. Tạo ra những cơ hội việc làm để hạn
chế tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa: tránh tình trạng dân số tập
trung quá đông tại các siêu đô thị Nhìn chung đây là những đề xuất giải
pháp cụ thể cho các quốc gia nói chung, đặc biệt là các nước đang phát
triển với tỉ lệ dân số tăng nhanh. Tuy nhiên, mỗi nước lại có những đặc
điểm đặc thù riêng và mỗi nước cần phải đề ra những biện pháp triển khai
cụ thể sao cho phù hợp nhất với quốc gia mình để từ đó các biện pháp
trên phát huy hiệu quả tối đa. Để thấy rõ hơn thực trạng giải quyết vấn đề
dân số ở cấp quốc gia, hãy nhìn vào một ví dụ cụ thể. Chúng ta có thể
nghĩ đến Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đông dân nhất thế giới. Song
cũng không thể quên chính Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, Nhà nước
Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm khắc phục tỉ lệ gia tăng dân số.

Trước kia, có chính sách khuyến khích “mỗi gia đình chỉ dừng lại ở hai
con để đảm bảo nuôi dạy con cho tốt”, nói cách khác, để đảm báo chất
lượng cuộc sống gia đình, từ đó đảm bảo chất lượng dân số, biến dân số
trở thành nguồn lực cho sự phát triển của đất nước. Hiện nay, trong giai
đoạn 2001 – 2010, mục tiêu tổng quát của chính sách dân số nước ta là
“Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh tiến tới ổn định quy mô dân số ở
mực hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nâng cao chất lượng dân
số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững
của đất nước.” Chiến lược Dân só Việt Nam. Ủy ban Quốc gia Dân số Kế hoạch hóa gia đình. Như vậy, hiện nay chính sách của Việt Nam không
có sự “giới hạn’ số con của mỗi gia đình mà tiêu chỉ đầu tiên là phải “hợp
lý để có cuộc sống ấm no hành phục”. Rõ ràng, chính sách của Việt Nam
đã gắn được dân số với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, các cơ
quan về dân số (ví dụ Ủy ban quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và

LỚP: 13CĐ-CK4


các Phòng Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cấp tỉnh/thành phố) cũng đã
thực hiện nhiều chương trình, dự án nhằm nâng cao nhân thức của người
dân về tầm quan trọng của dân số, thực hiện nhiều chương trình kế
hoạch hóa gia đình hướng tới các đối tượng nguy cơ v.v…. Một ví dụ điển
hình khác là tại Costa Rica, dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đã là một phần
của các dịch vụ phát triển xã hội. Thông qua tiền hỗ trợ từ các nước phát
triển, chính phủ Costa Rica đã tiến hành xây dựng và cung cấp các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho mỗi người dân: dịch vụ nước sạch,
phố cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, ….góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống…Tỷ lệ trẻ em biết chữ ở Costa Rica là 94%, tuổi thọ
trung bình ở đây đã tương đương với những nước công nghiệp phát triển,
tỷ lệ trẻ sơ sinh bị chết đã giảm từ 62/100 trẻ vào năm 1970, giảm xuống

còn 13/100 trẻ vào năm 1996. Và rõ ràng, khi gia đình nhỏ trở thành phố
biến trong xã hội, thì mỗi cặp vợ chồng càng nhận thức sâu sắc hơn
những thuận lợi do ít con đen lại. Họ có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy
con hơn. Chính từ những thay đổi này đã đem lại cho Costa Rica những
thành tựu đáng kể trong kinh tế. Tại đây, vào năm 1996: cùng với những
biện pháp kế hoạch hoá gia đình, kinh tế của nước này đã đạt được
những bước phát triển vượt bậc: tầng lớp trung lưu trong xã hội đã tăng
đáng kể, giảm sự phụ thuộc vào giúp đỡ nước ngoài. Năm 1996 Costa
Rica đã rút khỏi danh sách những quốc gia nhận viện trợ nhiều từ nước
ngoài. Tương tự như vậy, đó là Tháilan và Tunisia…
2. Cấp quốc tế

Bùng nổ dân số một vấn đề toàn cầu, tác động đến tất cả các quốc
gia và vì vậy để giải quyết được cũng không thể chỉ dừng lại ở giải pháp
của từng quốc gia riêng lẽ mà cần phải tính đến sự hợp tác, những nỗ lực
tập thể của nhiều quốc gia trên thế giới. Cuối thế kỷ 20 là giai đoạn dân số
thế giới có xu hướng tăng mạnh nhất, chỉ trong vòng 40 năm, dân số thế
giới đã tăng gấp đôi từ hơn 3 tỉ đến 6.5 tỉ người Tiểu luận “Bùng nổ dân số
vấn đề toàn cầu”. Khóa 31, Học viện quan hệ quốc tế . Từ thực trạng cấp
bách đó, Liên hợp quốc đã tổ chức các hội nghị quốc tế về Dân số để
cùng nhau đưa ra những giải pháp cho trình trạng này. Hợp tác quốc tế Hội nghị Quốc tế Nhắc đến vấn đề toàn cầu nói chung thì nguyên tắc đầu
tiên chúng ta phải nhớ tới là nguyên tắc hợp tác. Để giải quyết bất kể vấn
đề toàn cầu nào đều đòi hỏi phải có nỗ lực chung của các quốc gia. Một
trong những biểu hiện này là việc các hội nghị quốc tế về dân số với đại
diện của tất cả các quốc gia, đại diện của Liên hợp quốc, các tổ chức phi
chính phủ, công ty xuyên quốc gia để cùng tìm ra giải pháp chung cho vấn
đề bùng nổ dân số. Trong lịch sử, cho đến nay đã có 3 hội nghị về dân số:
Hội nghị năm 1974 tại Bucharest, Hội nghị năm 1984 tại Mexico city và

LỚP: 13CĐ-CK4



Hội nghị năm 1994 tại Cairo. Những chiến lược này sẽ là cơ sở cho việc
hoạch định chính sách tại các quốc gia dựa trên đặc thù riêng của mình,
đồng thời cũng sẽ là nền tảng cho các dự án của các tổ chức quốc tế về
vấn đề dân số. Vì lẽ đó, các hội nghị quốc tế đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Để hiểu rõ hơn, vai trò của các hội nghị quốc tế, chúng ta có thể
phân tích hội nghị quốc tế điển hình, ở đây sẽ là Hội nghị về Dân số và
phát triễn diễn ra tại Cairo năm 1994. Có thể nói, hội nghị năm 1994 đóng
vai trò quan trọng như một bước ngoặt trong việc giải pháp vấn đề dân số
ở tầm quốc tế. Tham gia hội nghị có đại diện của hơn 180 quốc gia trên
toàn thế giới và đại diện của các tổ chức phi chính phủ, cơ quan liên hợp
quốc v.v…. Kết thúc hội nghị, các đại biểu đã nhất trí thông qua một
Chương trình hành động 20 năm nhằm giải quyết các vấn đề về hạn chế
quyền lựa chọn, tỉ lệ dân số tăng nhanh, bất bình đẳng và hạn chế phát
triển. The Rockefeller Foundation. High Stakes – Global Population and
our common Future. Tr .23 Sở dĩ hội nghị năm 1994 được đặc biệt đánh
giá cao bởi lẽ nó đã có một cái nhìn cấp tiến và có những định hướng rất
mới cho giải pháp vấn đề dân số toàn cầu. Cụ thể, hội nghị hướng tới
“quyền quyết định” cho tất cả mọi người. Để giải quyết vấn đề bùng nổ
dân số, có thể có những biện pháp kế hoạch hóa gia đình nhưng những
biện pháp đó không được và không nên thực hiện một cách cưỡng bức.
Ngược lại, nó chỉ thực sự phát huy hiệu quả nếu thực sự xuất phát từ sự
tự nguyện của mỗi con người. Từ đó, những đề xuất giải pháp mà hội
nghị đưa ra như sau: The Rockefeller Foundation. High Stakes – Global
Population and our common Future. Tr .23 Nâng cao khả năng tiếp cận
đối với các dịch vụ về sức khỏe, bao gồm kế hoạch hóa gia đình. Cho các
cặp vợ chồng quyền được quyết định số con mà mình muốn. Mở rộng
hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người: một
thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới có giáo dục có

xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. Cài thiện tình trạng trẻ em sinh ra
bị chết: Chỉ khi các cặp vợ chồng cảm thấy yên tâm về những đứa con
mình sinh ra, về khả năng sống sót của chúng, các cặp vợ chồng mới sẵn
sàng sinh ít con hơn. Đầu tư vào phụ nữ: Những phụ nữ có học sẽ có
nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội.
Khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng “trọng nam khinh nữ” cũng sẽ
được khắc phục bởi lẽ đây chính là một trong những nguyên nhân của
việc sinh nhiều con dẫn đến tỉ lệ gia tăng dân số nhanh. Mở rộng cơ hội
cho những phụ nữ trẻ tuổi: Có thể nói thế giới đang sắp phải đối mặt với
một số lượng dân rất lớn. Không phải do gần đây, tỉ lệ gia tăng dân số lên
cao mà do hiện nay, số người trẻ tuổi chuẩn bị bước vào tuổi trưởng
thành, lập gia đình là lớn hơn bao giờ hết. Và khi những người này có
quyết định sinh con, sẽ rất có nguy cơ dân số một lần nữa bùng nổ. Để

LỚP: 13CĐ-CK4


khắc phục tình trạng đó, cần phải mở rộng cơ hội cho phụ nữ trẻ. Nếu họ
được học hành, nâng cao nhận thức, chắc chắn sẽ có những quyết định
khác nhau về việc sinh con và đây là một trong những biện pháp để giảm
bớt nguy cơ bùng nổ dân số. Bắc Giúp Nam Thực trạng bùng nổ dân số
hiện nay cho thấy dân số thế giới gia tăng nhanh nhất tại các quốc gia
kém phát triển nhất, những nước này gặp nhiều khó khăn trở ngại về điều
kiện vật chất, tài chính cũng như trình độ dân cư trong quá trình triển khai
các biện pháp. Vì lẽ đó, vai trò của sự giúp đỡ quốc tế đóng vai trò rất
quan trọng. Cũng như đã phân tích, dân số bùng nổ và tình trạng phân bổ
không đồng đều không phải xuất phát chỉ từ các quốc gia nghèo mà các
nước giàu cùng có trách nhiệm trong đó. Hơn nữa, nó tác động đến tất cả
các quốc gia, cả các nước giàu. Vì lẽ đó, nước giàu cần đóng góp vai trò
của mình trong việc giảm tình trạng bùng nổ dân số và phân bổ không

đồng đều. Vừa vì lợi ích quốc tế, vừa vì lợi ích của chính mình. Điều đầu
tiên cần phải khẳng định là tại các hội nghị quốc tế, các nước giàu đã cam
kết đóng góp một lượng tiền nhất định cho viện trợ phát triển chính thức
ODA, cho các vấn đề phát triển nói chung và các vấn đề dân số nói riêng.
Điển hình tại Hội nghị Cairo năm 1994, các nước đã cam kết sẽ đóng góp
0,7% GNP cho các chương trình về kế hoạch hóa gia đình, năng cao chất
lượng con người và nâng cao sức khỏe sinh sản v.v… Ngoài ra, có rất
nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế, xuất phát từ các nước giàu đang
hoạt động tại các nước đang phát triển nhằm giải quyết các vấn đề toàn
cầu. Dân số là một trong số lĩnh vực đó. Các tổ chức này là nguồn quỹ
chính cho các dự án về phát triển nói chung và về dân số nói riêng. Có
thể kể ra ở đây 2 tổ chức tiêu biểu hướng tới giải quyết 2 thực trạng dân
số toàn cầu. Thứ nhất, Quỹ dân số Thế Giới (WPF) (xuất xừ Hà Lan) –
giải quyết vấn đề bùng nổ dân số và chất lượng dân số Thứ hai, Tổ chức
quốc tế về di dân IOM của Bỉ. – giải quyết vấn đề phân bố dân số không
đồng đều. Trong đó, WPF đặc biệt hướng tới các đối tượng có nguy cơ
cao như thanh thiếu niên tại các trường giáo dưỡng (dự án
Breakthrough), trẻ em câm điếc (dự án DeafYouth) nhắm tới việc nâng
cao hiểu biết cho họ. Cụ thể, WPF đang xây dựng các chương trình, giáo
án về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên (dự án World Starts with me)
và cả những giáo án đặc biệt dành cho người khiếm thính. Như vậy, có
thể thấy, mặc dù cùng là giải quyết vấn đề bùng nổ dân số, nhưng có
những NGO có cách tiếp cận rất mới, mang tính “đột phá” và thực sự đã
rất hiệu quả. Vì vậy, với sự có mặt và hoạt động hiệu quả của các NGOs
thì vấn đề bùng nổ dân số tại các nước nghèo hiện nay đang được cải
thiện đáng kể. Ngoài ra, cũng nhờ sự có mặt của các công ty xuyên quốc
gia (TNCs) tại các nước đang phát triển mà tình trạng thừa lao động tại
các quốc gia này được khắc phục một phần. Nó sẽ góp phần giải quyết

LỚP: 13CĐ-CK4



việc làm ngay tại chỗ và làm hạn chế tác động đối với sự di dân quốc tế.
Bên cạnh tài trợ tài chính cho các tổ chức quốc tế, để khắc phục vấn đề
dân số già ở chính quốc gia mình và cũng qua đó giảm bớt tác động tiêu
cực của vấn đề bùng nổ dân số tại các nước nghèo, các quốc gia phát
triển ngày nay cũng đang hướng tới các biện pháp mở cửa cho người lao
động từ nước ngoài. Chính điều này cũng sẽ giúp cải thiện tình trạng
phân bổ dân số không đồng đều giữa các quốc gia hiện nay. Và cùng với
việc tập trung hơn vào vấn đề di dân thì các nước đang phát triển cũng
phải đồng thời siết chặt các biện pháp quản lý để hạn chế những tác động
tiêu cực của giải pháp này: như sự mất kỷ luật của di dân, một loạt vấn đề
kéo theo di dân như đói nghèo – môi trường – tội phạm v.v. Tính khả thi
của những giải pháp hiện tại: Ở cấp độ quốc gia: Trong quá trình thực
hiện các giải pháp trên, các nước không thể tránh khỏi việc gặp phải một
số khó khăn. Điển hình, tại một số quốc gia nghèo Châu Phi, việc thực
hiện các dự án cấp quốc gia nhằm nâng cao nhận thức người dân gặp rất
nhiều khó khăn về tài chính. Khi đó, các quốc gia này phải phần lớn dựa
vào sự viện trợ và các dự án phát triển từ nước ngoài, các tổ chức phi
chính phủ. Ngoài ra còn phải kể đến khó khăn trong việc thực hiện các
chương trình kế hoạch hóa gia đình. Nếu người dân chưa thực sự hiểu rõ
về tầm quan trọng của giải pháp này thì họ sẽ chỉ coi đó như một hình
thức áp đặt, vi phạm “nhân quyền”. Vấn đề “nhân quyền” trong việc kế
hoạch hóa gia đình là một vấn đề rất phức tạp, nó còn là một con bài để
các nước khác can thiệp vào một nước. Vì vậy, khi thực hiện các chính
sách về kế hoạch hóa gia đình, vấn đề cơ bản và đầu tiên là phải giúp
người dân hiểu rõ tầm quan trọng của nó để từ đó hình thành sự tự ý
thức. Ở cấp độ quốc tế: Trong thực tiễn của quá trình tiến hành các giải
pháp trên, sự phối hợp hoạt động giữa các nước với nhau, giữa các nước
với các tố chức quốc tế còn chưa thực sự chặt chẽ, chỉ mang tính chất

hình thức và do đó, chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Theo như
cam kết của các nước phát triển trong Hội nghị Cairo 1994: thì chỉ có Đan
Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển và Nauy là những nước đã giành 0,7% trong
tổng GNP của mình để giúp hỗ trợ cho các nước nghèo, lạc hậu, đông
dân. Trong khi đó, hầu như các nước phát triển khác đã không hề thực
hiện được mục tiêu này. Một khía cạnh còn tồn tại khác là bằng các hoạt
động hỗ trợ, các hoạt động giúp đỡ về phương tiện, cơ sở vật chất cho
các nước nghèo, đông dân giải quyết vấn đề dân số, các nước công
nghiệp phát triển đã tạo ra những tác động ở một mức độ nào đó lên các
quốc gia này: gây áp lực chi phối hoạt động kinh tế, chính trị, đối ngoại
cũng như gây sức ép buộc họ lệ thuộc, trở thành đồng minh của nước
mình. Ví dụ như tại một số nước châu Phi thông qua việc nhận thuốc viện
trợ từ các tổ chức phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia hay các tổ

LỚP: 13CĐ-CK4


chức quốc tế, các quốc gia này đã trở thành thí nghiệm cho những mẫu
thuốc, sản phẩm cho những cơ quan, tổ chức trên. Và cho dù biết rằng
đây chỉ là những trường hợp hạn hữu xảy ra nhưng rõ ràng đây là một
thực trạng mà chúng ta phải đối mặt và không thể chối cãi. Sự hợp tác
quốc tế mà bùng nổ dân số mang lại không phải lúc nào cũng diễn ra
thuận lợi. Giữa các quốc gia khác nhau về nền tảng chính trị, điều kiện
kinh tế, văn hoá, luôn có những mâu thuẫn công khai hoặc tiềm tàng về
mặt quan điểm đối với 1 số vấn đề nhất định. Điều này tất yếu nảy sinh
nghi kị ngay trong quá trình hợp tác. Các quốc gia nghi ngờ về mục đích
và động cơ của nhau, khiến cho việc hợp tác không triệt để.
V.

KẾT LUẬN

Như vậy, dự đoán là với tốc độ tăng dân số đang được kiểm soát như hiện
nay thì trong tương lai có thể bùng nổ dân số sẽ biến mất khỏi danh sách các
vấn đề toàn cầu. Và lúc đó con người sẽ chuyển sang quan tâm từ số lượng
sang chất lượng nguồn lực con người. Tuy nhiên rõ ràng, trong giai đoạn
hiện nay thì bùng nổ dân số vẫn đang được coi là vấn đề toàn cầu. Đó không
chỉ do lỗi của bất kì quốc gia nào, mà là trách nhiệm chung của toàn nhân
loại. Chính vì vậy việc chung tay việc chung tay giải quyết bài toán khó này
cần phải có sự phối hợp liên ngành, liên quốc gia và của toàn nhân loại.
Không một quốc gia nào có thể phát triển mà chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng
mình, để cùng tồn tại và phát triển lợi ích chung, lợi ích quốc tế phải được đặt
lên hàng đầu. Tất cả các quốc gia, cùng với Liên Hợp Quốc và các tổ chức
phi chính phủ cần phải cùng nhau đưa ra các kế hoách, giải pháp có hiệu quả
cho vấn đề này, cam kết và đồng thời thực hiện đầy đủ vai trò của mình,
hướng tới một mục đích chung cuối cùng : “ phát triển bền vững.”

LỚP: 13CĐ-CK4



×