Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

Một số biện pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại đô thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.8 KB, 32 trang )

`

LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hịa cùng xu hướng phát triển của các nước trong khu vực, từ đầu những
năm 2000, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã chủ trương, triển khai
chương trình phát triển phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi với các dự án liên quan chặt chẽ
với nhau: Dãi du lịch ven biển
– Điện Dương, Khu công nghiệp – , Khu đô
thị mới – , Cụm công nghiệp Trảng Nhật song song với việc hoàn chỉnh, phát
triển hạ tầng các khu vực lân cận. Trong đó, dự án Khu đơ thị mới –
và Khu
công nghiệp –
được xem là các dự án trọng điểm trong việc phát triển kinh tế
- xã hội phía Bắc Quảng Ngãi.
Dự án phát triển phía Bắc Quảng Ngãi được sự quan tâm nhiệt thành của
Chính phủ, cụ thể ngày 18/5/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số
124/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch chung đô thị mới

. Đô thị mới

nằm trong chuỗi đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ và du lịch ven biển từ Non
nước thành phố Đà Nẵng đến Hội An, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội khu vực
phía Bắc Quảng Ngãi, hình thành một khu đơ thị của tỉnh, liên hồn đồng bộ với
các khu du lịch, khu đô thị sinh thái của thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An.
Với vị trí vơ cùng quan trọng như trên, lãnh đạo Tỉnh ủy và UBND tỉnh
Quảng Ngãi luôn chỉ đạo sâu sát trong q trình phát triển đơ thị. Ngày
14/01/2003, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 06/2003/QĐ-UB thành lập Ban Quản
lý đơ thị mới –
(sau đó được đổi tên thành Ban Quản lý Phát triển đơ thị mới


) có chức năng quản lý đầu tư xây dựng đô thị mới với tiêu chí “Xanh, sạch,
đẹp, sáng, sinh thái bền vững” theo quy hoạch chung do Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Các trình tự, thủ tục đầu tư đều được thực hiện theo cơ chế “Một cửa” tại
Ban Quản lý.
Từ năm 2003 đến nay, Ban Quản lý đã thể hiện được nhiều ưu điểm và
thành công trong việc kêu gọi đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị
mới – . Tuy nhiên, Ban Quản lý cũng gặp phải những vấn đề chung của Việt
Nam hiện nay. Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này vẫn cịn nhiều tồn tại,
hạn chế như: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, phân công, phân nhiệm, phân cấp
quản lý chưa thật sự rõ ràng và hợp lý; sự phối hợp giữa các ngành chức năng chưa
chặt chẽ; môi sinh – mơi trường chưa đảm bảo… Điều đó ảnh hưởng đến q trình
phát triển đơ thị. Do vậy, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động đầu
tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật và phát triển đô thị là rất cần thiết.

1


Xuất phát từ những cơ sở đó, tơi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp
nhằm tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật tại đô thị” làm để tài nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu về các cơ sở lý luận, đường lối chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước trong hoạt động đầu tư, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đơ thị. Ngồi ra, đề tài tìm hiểu thực trạng quản lý Nhà nước trong hoạt động
đầu tư, xây dựng tại Ban Quản lý Phát triển đô thị mới – . Từ đó, mạnh dạn
nêu ra các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ xây dựng
kết cấu hạ tầng đô thị tại đô thị mới – .
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi hoạt động quản lý Nhà nước về xây
dựng, phát triển và quản lý hạ tầng kỹ thuật tại đô thị mới – .

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lê nin
để nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm,
thu thập số liệu thực tế để phân tích đánh giá. Số liệu được thu thập thông qua báo
cáo tổng kết đánh giá hàng năm của Ban Quản lý, các quy định về thủ tục hành
chính và thực tiễn cơng tác tại Ban Quản lý. Từ số liệu thu thập được, đề tài tiến
hành phân tích thực trạng cơng tác quản lý hoạt động đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ
thuật để có các đề xuất và giải pháp phù hợp.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như trên, ngoài nội dung mở đầu và
kết luận, tiểu luận được tổ chức thành 3 Chương, như sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỒN THIỆN CƠNG TÁC QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ
THỊ MỚI

2


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐƠ THỊ
1. VAI TRỊ CỦA KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ,
XÃ HỘI
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng
Hiểu một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở

vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm
bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng
được diễn ra bình thường, liên tục. Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng
thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trị nền tảng cho các hoạt động
kinh tế - xã hội được diễn ra bình thường.
Tồn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân thành nhiều loại khác nhau dựa
trên các tiêu chí khác nhau. Cụ thể:
- Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội, thì kết cấu hạ tầng có thể được
phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt
động xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh – quốc phịng. Tuy nhiên, trên thực
tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ
hoạt động xã hội và ngược lại.
- Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì kết cấu hạ
tầng sẽ có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, trong nông
nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thơng, xây dựng, hoạt động tài chính,
ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội….
- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, lãnh thổ, thì kết cấu hạ tầng có thể được
phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn; kết cấu hạ tầng
kinh tế biển, kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát
triển, các thành phố lớn…
Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những
cơng trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những cơng
trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống. Trong nhiều
cơng trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ
tầng thành hai loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội.
(1) Kết cấu hạ tầng kinh tế: thuộc loại này bao gồm các cơng trình hạ tầng
kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các

3



cơng trình giao thơng vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sơng,
đường hàng khơng, đường ống), bưu chính - viễn thơng, các cơng trình thủy lợi
phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp… Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận
quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn
định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải
thiện cuộc sống dân cư.
(2) Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học,
bệnh viện, các cơng trình văn hóa, thể thao… và các trang thiết bị đồng bộ với
chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng
dân cư, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số
ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình
thức dịch vụ và thường mang tính chất cơng cộng, liên hệ với sự phát triển con
người cả về thể chất lẫn tinh thần.
1.1.2. Khái niệm kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị là hệ thống các phương tiện kỹ thuật làm nền tảng cho
sự phát triển của đơ thị, bao gồm các cơng trình: giao thơng vận tải, cấp – thốt
nước đơ thị; cấp điện và chiếu sáng đô thị; thông tin liên lạc, bưu chính – viễn
thơng; các cơng trình phục vụ việc thu gôm, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị.
1.2. Vai trò của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật có vai trị rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Như, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; đảm bảo
những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động
có hiệu quả. Nó như là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực
hiện những mối liên hệ giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế. Ngoài ra kết
cấu hạ tầng kỹ thuật cịn góp phần nâng cao trình độ văn minh đơ thị; giải quyết
mơi sinh mơi trường; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾT

CẤU HẠ TẦNG
2.1. Quan điểm của Đảng
Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược giai
đoạn 2011-2020 là:
(1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng
tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính;

4


(2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao,
tập trung vào đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ
phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ;
(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số cơng trình hiện
đại, tập trung vào hệ thống giao thơng và hạ tầng đô thị lớn.
Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban
hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ
nhằm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Các quan điểm như sau:
1. Quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phải hiện
đại, đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa đất nước; có phân kỳ đầu tư, ưu tiên những dự án
quan trọng tạo sự đột phá và có tác dụng lan tỏa lớn. Tăng cường cơng tác quản lý
trong khai thác sử dụng cơng trình.
2. Huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để
thu hút các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội; đồng thời tiếp tục giành vốn nhà nước tập trung đầu tư vào các
cơng trình thiết yếu, quan trọng, khó huy động các nguồn lực xã hội.
3. Phát triển kết cấu hạ tầng là sự nghiệp chung, vừa là quyền lợi vừa là
nghĩa vụ của toàn xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia đóng góp,

trước hết là trong thực hiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng; bảo đảm lợi
ích hài hịa giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.
4. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải kết hợp chặt chẽ với bảo đảm
quốc phòng, an ninh; thu hẹp khoảng cách vùng, miền; gắn với tiết kiệm đất canh
tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
2.2. Mục tiêu
Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư giải quyết cơ bản những tắc
nghẽn, quá tải, bức xúc và từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội tương đối đồng bộ với một số cơng trình hiện đại, bảo đảm cho phát triển
nhanh và bền vững, tăng cường hội nhập quốc tế, bảo vệ mơi trường, ứng phó với
biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới, thu hẹp khoảng cách các vùng, miền và
nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập chủ
quyền quốc gia, đáp ứng yêu cầu nước ta cơ bản đạt được quy mơ và trình độ của
nước cơng nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Cùng với yêu cầu phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội,
cần tập trung nguồn lực cho 4 lĩnh vực trọng tâm với các mục tiêu cụ thể như sau:

5


- Về hạ tầng giao thông, đảm bảo kêt nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau
và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực
vận tải được nâng cao, giao thơng được thơng suốt, an tồn.
- Về hạ tầng cung cấp điện, bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh
hoạt, đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đi đơi với tiết kiệm,
giảm tiêu hao điện năng.
- Về hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo tưới tiêu chủ
động cho diện tích lúa 2 vụ, các vùng cây công nghiệp và nguyên liệu, nuôi trồng
thủy sản tập trung. Chủ động phịng , tránh bão, lũ, ứng phó với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng.

- Về hạ tầng đô thị lớn, từng bước phát triển đồng bộ và hiện đại, giải quyết
cơ bản tình trạng ách tắc giao thông, úng ngập; cung cấp ổn định điện, nước và xử
lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
3. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỀ KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Vai trò của quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Nhà nước có vai trị hết sức quan trọng trong cơng tác quản lý, phát triển hạ
tầng kỹ thuật, như:
- Cung cấp các dịch vụ kết cấu hạ tầng kỹ thuật;
- Tạo môi trường pháp lý thơng thống;
- Phân cơng, phân cấp và chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong
q trình xây dựng phát triển các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật;
- Phân tích các dữ liệu cần thiết, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến hiện đại để tìm ra giải pháp phát triển hợp lý nhất.
- Nhà nước phải quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
để phát triển phù hợp, hạn chế tính mất cân đối trong cơ cấu ngành – vùng của nền
kinh tế quốc dân, đồng thời qua đó điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tổ chức lại sản xuất
hoặc bố trí lại dân cư…
3.2. Sự cần thiết khách quan phải tăng cường quản lý nhà nước về kết cấu hạ
tầng kỹ thuật đô thị
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là nhân tố đi trước mở đường, là yếu tố tiên quyết
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia hay địa phương. Hiện nay, tình
trạng mất cân đối về kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa các quốc gia và các vùng trong
một quốc gia tồn tại khá phổ biến, là một nguyên nhân gây ra sự phân tầng xã hội,
phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, chênh lệch quá lớn về điều kiện sống giữa đô
thị và nông thôn. Nhu cầu về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là các cơng trình phục

6



vụ công cộng trong các đô thị ngày càng tăng, trong khi đó các cơng trình kết cấu
hạ tầng kỹ thuật có xu hướng xuống cấp nhanh chóng, mà nguồn lực của Nhà nước
lại hạn hẹp. Sự phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước về xây dựng
phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị rất phức tạp. Thêm vào đó, quản lý nhà nước về
kết cấu hạ tầng ở nước ta trong những năm qua còn nhiều tồn tại, bất cập, môi
trường pháp lý cũng như cơ chế chính sách chưa thật sự thơng thống; thủ tục đầu
tư cịn rườm rà; cơng tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này
còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp. Hơn nữa, nước ta đang thực hiện công cuộc “đổi
mới” đất nước trong xu thế tồn cầu hóa và xu thế hội nhập… Do vậy, không
ngừng đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ
tầng kỹ thuật là đòi hỏi tất yếu khách quan đặt ra cho tất cả các chính quyền đơ thị
và mọi quốc gia.
4. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT
ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
4.1. Quan điểm quản lý, mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Quan điểm quản lý, mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam
trong những năm qua chủ yếu tập trung triển khai các chính sách và biện pháp như:
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ở đơ thị;
- Xây dựng các chính sách và các giải pháp tạo vốn, sử dụng hiệu quả nguồn
vốn đầu tư trong nước và nước ngoài vào mục đích phát triển cơ sở hạ tầng đơ thị;
- Đổi mới chính sách về nhà ở và đất ở tại các đô thị; ban hành các văn bản
pháp luật về đô thị; tăng cường việc quản lý môi trường để đảm bảo điều kiện sống
và làm việc ở đô thị.
1.4.2. Những vấn đề chủ yếu trong quản lý nhà nước về xây dựng phát triển hạ
tầng kỹ thuật đô thị
- Quản lý vốn đầu tư;
- Quản lý quy hoạch phát triển đô thị;
- Quản lý vấn đề kỹ thuật và chuyển giao công nghệ;
- Quản lý vấn đề về đầu tư xây dựng các cơng trình phải gắn liền với văn

hóa, xã hội ở đơ thị; vấn đề tính đồng bộ và hiện đại thể hiện trong các chính sách
đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật; thống nhất quản lý vận hành và khai thác sử dụng
kết cấu hạ tầng đô thị.

7


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ
TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI
1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐƠ THỊ MỚI
1.1. Đặc điểm tự nhiên
Đơ thị mới

, tỉnh Quảng Ngãi ra đời trên cơ sở triển khai thực hiện
nội dung Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 18/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt quy hoạch chung đơ thị mới – . Đơ thị mới –
có quy mô
2.700ha, dự kiến đến năm 2020 dân số khoảng 200.000 người. Trong diện tích
trên, khu cơng nghiệp –
chiếm khoảng 430 ha, đến cuối năm 2014 có khoảng
20.000 cơng nhân đang làm việc ổn định. Đô thị mới –
nằm trong chuỗi đô
thị, khu công nghiệp, du lịch và dịch vụ ven biển từ Đà Nẵng đến thành phố Hội
An.
Đô thị mới – , tỉnh Quảng Ngãi có ranh giới hành chính như sau:
+ Phía Đơng giáp biển Đơng;
+ Phía Tây giáp trục đường ĐT603 và trục ĐT607 từ Đà Nẵng đi Hội An;
+ Phía Bắc giáp khu du lịch cao cấp của thành phố Đà Nẵng;
+ Phía Nam giáp thành phố Hội An.

Đặc điểm hiện trạng ban đầu phần lớn là cát trắng, đất hoang hóa và rừng
thơng. Dân cư chỉ tập trung ở một số tuyến đường chính. Đây là một vùng đất
thuần nông, đất đai cằn cỗi, nên năng suất các loại hoa màu rất thấp.
Tuy nhiên, với vị trí thuận lợi như trên, đơ thị mới

sẽ được hình
thành trong thời gian khơng xa. Góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội khu vực Bắc
Quảng Ngãi, hình thành một khu đơ thị của tỉnh, liên hồn đồng bộ với các khu du
lịch, đô thị sinh thái của thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An.
1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Khu nghiên cứu thuộc địa giới hành chính của 5 xã vùng cát thị xã Điện
Bàn, dân số hiện có khoảng 150.000 người, trong đó có 2 phường có bờ biển là
và Điện Dương. Dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông. Các hộ định cư 2 bên
đường ĐT 603 và ĐT 607 hiện đang chuyển sang làm dịch vụ, kinh doanh, thương
mại. Khu vực buôn bán mạnh nhất gần trước cổng khu công nghiệp –
và ngã

. Thu nhập bình quân đầu người của khu vực này khoảng 1.000.000
đồng/người/tháng.
Trong bức tranh chung của thị xã Điện Bàn, đây là vùng kinh tế đang phát
triển mạnh mẽ với động lực là khu công nghiệp – . Ngoài ra, hoạt động dịch

8


vụ phát triển mạnh mẽ ở vùng giáp ranh giữa Đà Nẵng và Quảng Ngãi, các trường
cao đẳng, đại học ở Hòa Hải, Hòa Quý (Đà Nẵng) và Trường Đại học Nội vụ cơ sở
miền Trung tại đô thị mới – .
Với đặc điểm tình hình kinh tế trên, huyện Điện Bàn đã lập đề án quy hoạch
chung đô thị Điện Bàn tầm nhìn đến 2020 theo định hướng khơng gian đô thị từ

Đông sang Tây, khớp nối với đô thị mới

, xây dựng phường Vĩnh Điện
thành trung tâm thị xã Điện Bàn, là hạt nhân kết nối chuỗi đô thị từ Điện Phương
đến Điện Thắng Bắc hình thành vệt đô thị trải dài trên tuyến quốc lộ 1A (cũ). Ở
khu vực phía Đơng Điện Bàn, lấy đơ thị mới –
làm trung tâm, mở rộng không
gian đô thị hết 5 xã vùng cát. Từng bước hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng đô thị, tạo
thành chuỗi đô thị ven biển khai thác du lịch, dịch vụ.
Đô thị mới –
hiện nay đã cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 về hạ tầng kỹ
thuật theo quy hoạch được duyệt. Tổng số dự án tại đô thị mới

đến thời
điểm hiện nay: 54 dự án. Tổng giá trị đầu tư trong 9 tháng đầu năm 2015 khoảng
195,5 tỷ đồng. Tổng diện tích đất đã giao cho các Chủ đầu tư hơn 460ha, diện tích
đã giải phóng mặt bằng trên 340ha, tổng số hộ đã được bố trí tái định cư 540 hộ.
Tổng giá trị đã đầu tư trên toàn dự án hơn 1.450 tỷ đồng, tổng mức đầu tư của các
dự án hơn 3.000 tỷ đồng.
Từ ban đầu là 5 xã vùng cát với điều kiện hạ tầng kỹ thuật hoang sơ, đến nay
đô thị mới –
đã hình thành nhiều khu dân cư có hạ tầng đồng bộ, các tuyến
giao thơng chính được nâng cấp, mở rộng, khớp nối quy hoạch với các khu vực lân
cận. Tháng 3/2015 Chính phủ ra quyết định thành lập thị xã Điện Bàn. Thị xã Điện
Bàn hiện nay có 7 phường và 13 xã thì có đến 5 phường thuộc đô thị mới – .
1.3. Những thuận lợi và khó khăn
1.3.1. Thuận lợi
Các dự án liên quan đến khu vực nghiên cứu hiện nay đã và đang đi vào hoạt
động như: Khu cơng nghiệp –
đã xây dựng hồn thành giai đoạn 1 ở khu vực

phía Bắc và đang mở rộng sang giai đoạn 2, các dự án du lịch, khách sạn, resort
ven biển
, Điện Dương, Hà My đang được triển khai, các dự án thuộc làng Đại
học Đà Nẵng, các dự án Trường Đại hội Nội vụ cơ sở miền Trung, Trường Cao
đẳng Đông Á. Đây là cơ sở quan trọng để tạo động lực phát triển kinh tế xã hội của
khu vực.
Vị trí quy hoạch đơ thị mới –
có các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ
thuật như: giao thơng đường bộ, đường sơng, đường biển. Ngồi ra khu vực nghiên
cứu còn tận dụng được sự phát triển cơng trình hạ tầng từ thành phố Đà Nẵng như
9


sân bay, bến cảng, giao thông đối ngoại… Khu nghiên cứu chỉ cách Trung tâm
thành phố Đà Nẵng 15km và cách Trung tâm thành phố Hội An 5km. Việc kết nối
hạ tầng đến các khu vực khác hết sức thuận lợi.
Khu vực nghiên cứu có quỹ đất xây dựng lớn. Chủ yếu là đất cát nên đầu tư
vào sản xuất nông nghiệp không hiệu quả do chất lượng đất xấu, năng suất thấp.
Việc chuyển sang xây dựng đô thị là hoàn toàn hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất.
Là nơi bằng phẳng, đất hoang nhiều, dân cư thưa thớt, các cơng trình kiến
trúc, cơng trình hạ tầng kỹ thuật chưa được xây dựng nhiều.
Điều kiện địa hình thuận lợi có khối lượng đào đắp, san lấp khơng lớn nên
chi phí đầu tư hạ tầng thấp. Có nhiều ao hồ tự nhiên do đó dễ dàng tổ chức các khu
công viên, hồ điều tiết, các hồ tạo cảnh quan sinh thái.
Đất thổ cư tuy chiếm diện tích lớn nhưng chủ yếu là đất vườn.
Điều kiện phát triển đô thị rất thuận lợi do việc phát triển khu công nghiệp,
các khu du lịch, các dự án liên quan tới khu vực nghiên cứu đã và đang triển khai.
1.3.2. Khó khăn
Khu vực có một số cơng trình cơng cộng bám sát ven đường nên khi quy

hoạch cần phải tiến hành giải tỏa nên kinh phí đền bù, giải tỏa lớn. Tập quán cư trú
và sinh hoạt của cư dân theo kiển nơng thơn dân trí thấp nên khi quy hoạch xây
dựng đơ thị cịn gặp một số khó khăn trong cơng tác giải phóng mặt bằng.
Một số cơng trình hạ tầng mới xây dựng không phù hợp cần phải xây dựng
lại gây tốn kém chi phí.
Việc tái định cư, chuyển đổi nghề cho các hộ dân ổn định cuộc sống sinh
hoạt đảm bảo mức sống ngang bằng và cao hơn so với trước khi có dự án là vấn đề
cần quan tâm đối với lãnh đạo các ban ngành và địa phương.
Các nghĩa trang nằm trải rác trong tồn khu đơ thị gây khó khăn cho việc
quy hoạch đơ thị. Tâm lý người dân không muốn di dời mồ mã nên việc quy hoạch
lại thành các khu nghĩa trang tập trung rất khó khăn. Những người ở các thành phố
lớn khi chết có tâm lý muốn về chơn tại q hương làm cho quỹ đất nghĩa trang
ngày càng mở rộng.
2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI –
TRONG
THỜI GIAN QUA
2.1. Thực trạng về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng
10


Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đô thị mới –
được đồng
hành thực hiện từ các dự án do ban quản lý làm chủ đầu tư và các dự án do các
doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư. Trên cơ sở quuy hoạch chung đơ thị mới

được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 124/1999/QĐ-TTg,
Ban Quản lý Phát triển đô thị mới –
đã tổ chức lập quy hoạch chi tiết 1/2000
chia tồn diện tích dự án thành 3 giai đoạn để thuận lợi cho việc quản lý và kêu gọi

đầu tư. Quy hoạch chi tiết 1/2000 đã cụ thể hóa quy hoạch chung, quy định cụ thể
hướng phát triển không gian, tổ chức các phân khu chức năng, định hướng phát
triển giao thơng, thốt nước, cấp nước, vị trí thu gơm và xử lý nước thải, cấp điện
sinh hoạt và chiếu sáng, cây xanh, cơng viên, khu vui chơi giải trí… Đây là các cơ
sở quan trọng trong quá trình quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị.
Những dự án do Ban Quản lý làm chủ đầu tư là các dự án hạ tầng khung,
hiện nay đang đầu tư 2 tuyến đường trục chính của đơ thị là tuyến ĐT603 nối dài
và tuyến nối ĐT603A với ĐT607A. Hai tuyến này được tổ chức theo tuyến đường
hiện có, đầu tư xây dựng theo hướng khơng làm ảnh hưởng đến các cơ sở trường
học, cơ sở quân sự, một số khu vực dân cư đông đúc hai bên đường. Hiện trạng hai
tuyến đường có mặt cắt nhỏ, đã xuống cấp nghiêm trọng do các phương tiện vận
tải vật liệu thi công vào các dự án bên trong. UBND tỉnh đã cấp ngân sách để thực
hiện công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư. Trong điều kiện ngân sách tỉnh hạn
hẹp, Ban Quản lý đã tham mưu UBND chấp thuận đầu tư theo hình thức hợp đồng
BT. Nhờ vào các nguồn vốn ngoài ngân sách, đến nay các tuyến đường đã cơ bản
hoàn thành một số km đầu tuyến.
Với phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng, sự mềm dẻo linh hoạt về cơ chế chính sách đã kêu gọi được nhiều nhà đầu tư
vào đô thị. Nhà đầu tư được nhà nước giao đất để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ
thuật, được khai thác quỹ đất để bù đắp chi phí đầu tư và có lợi nhuận. Hiện nay đã
có gần 45 nhà đầu tư với các dự án về nhà ở, khu đô thị, y tế, giáo dục, thể dục –
thể thao… Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở giai đoạn 1 (530ha) đã hình thành. Các khu đô
thị mới như khu 1A, khu đô thị 1B, Khu đô thị số 6, Khu phố chợ , Khu phố chợ
Trung đã hình thành với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, là nơi sống lý tưởng. Tuy nhiên,
một số dự án năm ở giai đoạn 2, giai đoạn 3 do khó khăn về nguồn vốn đầu tư, tình
hình bất động sản thời gian qua lắng đọng và khó khăn trong cơng tác giải phóng
mặt bằng nên cơng tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật còn thấp. Hiện trạng các

11



tuyến đường giao thông chật hẹp, thường xuyên ngập úng cục bộ gây ảnh hưởng
đến sinh hoạt của người dân.
2.2. Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về xây dựng phát triển
kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
2.2.1. Về quản lý quy hoạch
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, sự quản lý chặt chẽ của
Ban Quản lý, công tác nghiên cứu quy hoạch ở đô thị mới –
được chú trọng
đầu tư và đạt nhiều kết quả tốt. Ngay sau khi thành lập, Ban Quản lý đã tổ chức
triển khai lập quy hoạch chi tiết 1/2000 chia đô thị ra thành 3 giai đoạn, tổ chức
cắm mốc ranh giới và công bố quy hoạch trong vùng dự án. Hiên nay, Ban Quản lý
đang kết hợp với UBND thị xã Điện Bàn quy hoạch mở rộng đơ thị về phía Tây,
hướng đến việc xây dựng một cơ sở hạ tầng đồng bộ trong cả khu vực phía Bắc
Quảng Ngãi. Đây là điều kiện hết sức cơ bản để hoạch định chiến lược, chính sách
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói riêng.
Trong những năm qua, Ban Quản lý luôn luôn chú trọng tăng cường và nâng
cao hiệu quả công tác quản lý quy hoạch thông qua các nội dung cụ thể như:
- Củng cố, tăng cường chất lượng cán bộ làm công tác quy hoạch, phát huy
vai trò của các phường trong định hướng phát triển quy hoạch xây dựng kết cấu hạ
tầng kỹ thuật theo vùng, lãnh thổ (UBND các phường), phối hợp với quản lý theo
ngành (Sở Xây dựng, Phòng Hạ tầng – Kinh tế, cán bộ địa chính – xây dựng các
phường). Vai trò quản lý quy hoạch xây dựng của các địa phương được từng bước
nâng cao.
- Tổ chức giới thiệu, công khai các đồ án quy hoạch đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt cho nhân dân biết thơng qua các phương tiện thơng tin đại chúng,
pano ngồi trời… hoặc trực tiếp tại UBND các phường, nhà văn hóa khối phố.
- Phổ biến, giới thiệu và phát hành tương đối kịp thời tới các ngành, địa
phương hệ thống văn bản pháp quy của nhà nước về quản lý quy hoạch và quản lý

xây dựng đô thị, kết hợp với tuyên truyền vận động các tổ chức cá nhân thực thi
đúng pháp luật trong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý quy hoạch xây dựng nhằm
nâng cao năng lực phục vụ đối với các nhu cầu đầu tư phát triển, từng bước khắc
phục những hạn chế, tồn tại của nhiều năm trước như hiện tượng cửa quyền, gây
sách nhiễu, phiền hà trong việc giải quyết các thủ tục thỏa thuận địa điểm, thẩm
định quy hoạch, thỏa thuận về kiến trúc…

12


2.2.2. Về quản lý xây dựng các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được UBND giao, Ban Quản lý là cơ quan
trực tiếp quản lý chất lượng các cơng trình hạ tầng kỹ thuật về mặt thiết kế cũng
như chất lượng thi cơng. Các cơng trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn đô thị cơ bản
được quản lý theo quy hoạch và thiết kế được duyệt. Tất cả các khâu từ chuẩn bị
đầu tư, thẩm tra phê duyệt dự án, đấu thầu chọn đơn vị thi công đến giám sát chất
lượng và tiến độ thực hiện cơng trình … để được chú trọng chỉ đạo thực hiện theo
quy định pháp luật.
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật được chú trọng nâng cao chất lượng, tính khả thi, giảm tối đa các
sai sót. Ban Quản lý đã dựa trên quy định của cơ quan nhà nước cấp trên để cụ thể
hóa một số quy định phù hợp với đặc điểm của địa phương, như quy định trình tự
thủ tục, thời gian hoàn tất việc xin thỏa thuận địa điểm xây dựng, xin cấp phép xây
dựng,… quy định rõ về mối quan hệ trách nhiệm giữa các phòng ban chức năng có
liên quan và UBND các phường, UBND huyện trong quản lý xây dựng các cơng
trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn. Nhờ đó, trong những năm qua, những vi phạm
lớn trên lĩnh vực quản lý xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật giảm đáng kể so với
trước đây.
Ban Quản lý đã tích cực chỉ đạo và tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các cơ

quan chuyên ngành, quản lý các lĩnh vực khác nhau thuộc về kết cấu hạ tầng đô thị
phối hợp khá chặt chẽ và đồng bộ trong quá trình triển khai xây dựng như giữa
Điện Lực Quảng Ngãi, Cơng an Phịng cháy chữa cháy, Cơng ty Môi trường – Đô
thị và các đơn vị thi cơng cơng trình… nhất là trong việc xây dựng các tuyến
đường giao thông đô thị, từng bước giảm bớt hiện tượng cơng trình bị đào lên, lấp
xuống nhiều lần. Nhiều cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật được triển khai xây
dựng khá đồng bộ, sớm phát huy hiệu quả sử dụng trong thực tiễn.
2.2.3. Về quản lý đầu tư và huy động các nguồn vốn
Từ năm 2004 đến nay, tổng giá trị đã đầu tư trên toàn dự án hơn 1.450 tỷ
đồng. Trong đó, Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện công tác quy hoạch chung,
quy hoạch chi tiết xây dựng 1/2000 các giai đoạn xây dựng đô thị. Những dự án
xây dựng hạ tầng khung luôn được lãnh đạo UBND tỉnh quan tâm, hiện nay đang
đầu tư 2 tuyến đường trục chính của đơ thị là tuyến ĐT603 nối dài và tuyến nối
ĐT603A với ĐT607A theo hình thức BT, đã được ngân sách cấp gần 40 tỷ đồng
để giải phóng mặt bằng.

13


Ban Quản lý đã huy động khá tốt nguồn vốn từ khai thác quỹ đất với phương
thức “giao đất có thu tiền sử dụng đất”, tiền sử dụng đất nộp ngân sách tỉnh trên
địa bàn đô thị đến nay khoảng 200 tỷ đồng. Điểm nổi bậc trong công tác huy động
vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật của Ban Quản lý là đã đề ra chính sách “xã
hội hóa” đầu tư, huy động mạnh mẽ sự đóng góp từ các nguồn vốn tư nhân vào q
trình xây dựng đơ thị. Hiện nay đã có 53 dự án lấp đầy 2.000ha đất đô thị, một số
dự án đã hình thành với cơ sở đồng bộ từ nguồn vốn ngoài ngân sách.
2.2.4. Về quản lý sử dụng và khai thác các cơng trình hạ tầng kỹ thuật đơ thị
Các cơng trình hạ tầng kỹ thuật đơ thị sau khi xây dựng đều được tổ chức
nghiệm thu đúng theo quy định. Các nội dung về quản lý sử dụng và khai thác
được hầu hết các ngành, đơn vị thực hiện tốt, như: cơng tác lập và lưu trữ hồ sơ

hồn cơng xây dựng cơng trình; các hư hỏng được phát hiện và có biên pháp sửa
chữa tương đối kịp thời, đảm bảo cho cơng trình được vận hành; chế độ duy tu, bảo
dưỡng… được quan tâm thực hiện; thủ tục ký kết hợp đồng, thanh tốn kinh phí sử
dụng các cơng trình cơng cộng được các đơn vị quản lý chuyên trách thực hiện khá
tốt và từng bước cải thiện theo xu hướng phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhu cầu
của nhân dân.
Việc quản lý sử dụng đúng mục đích các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật,
nhất là các cơng trình cơng cộng được chính quyền các cấp và các cơ quan chuyên
trách thường xuyên kiểm tra, các hiện tượng vi phạm xây dựng không đúng chỉ
giới, sử dụng vỉa hè, lịng lề đường, cơng trình cơng cộng vào mục đích riêng từng
bước được khắc phục.
2.2.5. Quản lý vệ sinh môi trường
Bảo vệ môi sinh, môi trường đô thị là vấn đề hết sức bức xúc của các đơ thị
hiện nay, nếu khơng giải quyết tốt thì khó có thể phát triển đơ thị bền vững. Nhận
thức rõ điều đó, Ban Quản lý đã hết sức chú trọng chỉ đạo thực hiện nội dung này.
Công tác đánh giá tác động môi trường được xem xét ngay từ bước lập quy
hoạch chi tiết 1/500, các vấn đề về ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải được các
cấp, các ngành xem xét trước khi phê duyệt.
Trong những năm qua, Ban Quản lý đã kết hợp với UBND các phường trong
vùng dự án tổ chức tuyên truyền giáo dục các tổ chức và cá nhân nâng cao nhận
thức về tầm quan trọng của vấn đề môi trường đối với cuộc sống, từng bước nâng
cao vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quản lý, bảo vệ mơi trường sinh thái,
thực hiện một đô thị “Xanh, sạch, đẹp, sáng, hiện đại”. Các cam kết về bảo vệ môi

14


trường được quy định chặt chẽ với từng dự án, thể hiện rõ trong các quy ước khu
dân cư văn hóa do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Qua đó, 100% cán bộ
chủ chốt ở phường, các tổ dân phố được quán triệt chủ trương, nghị quyết, chỉ thị

để triển khai thực hiện đến từng hộ gia đình, cơ quan trên địa bàn. Hiện nay, phong
trào đang dần đi vào cuộc sống và bước đầu mang lại hiệu quả nhất định, góp phần
quan trọng vào q trình xây dựng và chỉnh trang đô thị.
2.2.6. Tăng cường bộ máy quản lý nhà nước đảm bảo năng lực thực hiện việc
xây dựng và phát triển đơ thị
Việc rà sốt, củng cố và kiện tồn bộ máy hành chính được Ban quản lý hết
sức chú trọng thực hiện. Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý hiện nay gồm 3 phòng
chuyên môn của Ban và 2 đơn vị trực thuộc là Trung tâm Tư vấn xây dựng và
Trung tâm Giải phóng mặt bằng & Môi trường đô thị. Tổng số công chức, viên
chức của Ban quản lý hiện nay là 56 người trong đó có 04 người có trình độ thạc
sỹ, 44 người có trình độ đại học, 5 người có trình độ cao đẳng. Trình độ lý luận
chính trị từ cao cấp trở lên 6 người, 12 người đã học lớp quản lý Nhà nước chương
trình chuyên viên. Chi bộ Ban quản lý đã có 35 đảng viên.
Điểm khá nổi bậc trong bộ máy của Ban Quản lý là đã thành lập được hai
đơn vị trực thuộc tự chủ hoàn tồn kinh phí hoạt động, vừa làm cơng tác tư vấn vừa
làm công tác tham mưu cho Ban quản lý. Hiện nay, Ban Quản lý chỉ có 13 chỉ tiêu
biên chế công chức, số lượng cán bộ không đủ để quản lý một khu vực quá rộng
với nhiều dự án với các mục tiêu khác nhau về y tế, giáo dục, khu đô thị… Việc
thành lập hai Trung tâm đã tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động xúc tiến đầu
tư, giải phóng mặt bằng. Trong q trình hoạt động, hai Trung tâm đã hổ trợ cho
hoạt động quản lý nhà nước của Ban Quản lý trong công tác quy hoạch sử dụng
đất, khớp nối hạ tầng kỹ thuật tồn khu đơ thị, giám sát q trình thi cơng xây dựng
cơ sở hạ tầng đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Ban Quản lý cũng đã thành lập Tổ tiếp nhận và giao trả hồ sơ trực
thuộc Văn phòng Ban theo mơ hình “Một cửa” góp phần cải cách thủ tục hành
chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức, cá nhân đến giao dịch công tác.
Các thủ tục hành chính được niêm yết cơng khai tại đây.
Nhận xét chung: Trong những năm qua, trong điều kiện ảnh hưởng chung
của suy thối kinh tế tồn cầu, hoạt động xây dựng cơ bản hầu như bị đình trệ do
thiếu vốn trên toàn quốc. Tuy nhiên, việc xây dựng tại đô thị mới –

đạt được
nhiều kết quả quan trọng về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị. Nhiều dự án
đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Trường Đại học Nội vụ cơ sở miền Trung,
15


Khu đô thị 1A, Khu đô thị 1B, Khu dân cư phố chợ , Khu phố chợ Trung và
nhiều dự án đã triển khai hạ tầng đồng bộ như Khu đô thị số 3, Khu đô thị Đất
Quảng Green City,… Phần lớn là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu
đô thị để khai thác quỹ đất. Tuy thị trường bất động sản lắng đọng thời gian qua
nhưng công tác đầu tư vào đô thị không ngừng phát triển. Các cơng trình hạ tầng
khung, các trục xương sống đang dần hình thành. Nhiều dự án về y tế, giáo dục,
vui chơi giải trí đang được triển khai đầu tư góp phần hình thành một khu đơ thị
với đầy đủ chức năng phục vụ các nhu cầu phát triển xã hội.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển một thị xã tỉnh lỵ thì những kết quả ấy
chỉ là bước đầu. Bên cạnh những ưu điểm cơ bản, vấn đề quản lý nhà nước về xây
dựng phát triển hạ tầng kỹ thuật đơ thị vẫn cịn một số tồn tại, khuyết điểm cần
nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, tìm ra ngun nhân để từ đó xây dựng những biện
pháp khắc phục hiệu quả nhất.
3. NHỮNG HẠN CHẾ, TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY
DỰNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI – , TỈNH
QUẢNG NGÃI
3.1. Những hạn chế, tồn tại
Trong công tác quy hoạch đô thị
Mặc dù quy hoạch tổng thể của đô thị mới

đã được phê duyệt sớm, quy
hoạch chi tiết 3 giai đoạn được phê duyệt từ năm 2004 nhưng đến nay một số khu
vực quy hoạch chi tiết còn nằm trên giấy, chưa triển khai thực hiện gây phản ứng
trong nhân dân. Việc khớp nối quy hoạch giữa các khu chưa thống nhất, mỗi đơn

vị tư vấn lập hồ sơ một khu, đến khi vào thi công mới phát hiện chồng lấn diện tích
dẫn đến phải điều chỉnh lại quy hoạch hoặc phá dỡ cơng trình hạ tầng kỹ thuật gây
lãng phí về thời gian và tài chính. Nhiều dự án khi giao mốc trên thực địa bị chồng
lấn, không khớp với tọa độ trên bản vẽ quy hoạch gây khó khăn trong cơng tác giải
phóng mặt bằng, làm các hồ sơ giao đất sau này. Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã
hội chưa được bổ sung. Quy chế quản lý đô thị và quy hoạch xây dựng chậm được
ban hành.
Một số hồ sơ quy hoạch còn thiếu nội dung so với yêu cầu, đặt biệt bản đồ
kiến trúc cảnh quan chưa thể hiện rõ thiết kế đô thị. Cá biệt vẫn cịn có trường hợp
quy hoạch các dự án thành phần chưa tuân thủ quy hoạch chung nhằm giảm thiểu
chi phí giải phóng mặt bằng làm cho tính đồng bộ của cơ sở hạ tầng một số nơi
chưa cao. Tình trạng xây dựng các cơng trình kết cấu hạ tẫng kỹ thuật đô thị không

16


tuân thủ quy hoạch vẫn diễn ra ở một số nơi. Nhiều dự án đã thi công nhưng chưa
được duyệt thiết kế bản vẽ thi công.
Việc đầu tư xây dựng các cơng trình hạ tầng kỹ thuật đơ thị
Do các dự án triển khai manh muốn, không liên kết dẫn đến nhiều cơng trình
hạ tầng kỹ thuật đơ thị khơng biết kết nối vào đâu. Chẳn hạn, việc thoát nước của
tồn đơ thị hướng ra sơng Cổ Cị nhưng hiện nay dự án này vẫn nằm trên giấy,
chưa biết khi nào thực hiện.
Hai tuyến đường xương sống của đô thị là đường trục chính ĐT 603 nối dài
và tuyến nối ĐT 603A với ĐT 607A mới xây dựng được đoạn đầu tuyến, gây khó
khăn trong cơng tác khớp nối hạ tầng đô thị về phần lớn các dự án thành phần đều
có tuyến giao thơng và thốt nước đấu nối ra hai con đường lớn này. Một số khu
vực ở giai đoạn 2, giai đoạn 3 nhìn chung các cơng trình hạ tầng kỹ thuật như giao
thơng, cấp nước, cấp điện… còn nghèo nàn, chưa đáp ứng yêu cấu phát triển một
đô thị loại III. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì tồn đơ thị

sử dụng nước sạch từ Nhà máy cấp nước của đô thị nhưng hiện tại vẫn chưa tìm
được nhà đầu tư, nguồn vốn đầu tư, nhân dân vẫn phải sử dụng nguồn nước ngầm
tại chỗ.
Tình trạng vi phạm trong xây dựng các cơng trình hạ tầng kỹ thuật vẫn cịn
xảy ra ở nhiều nơi, nhất là việc khơng tn thủ quy trình, quy phạm, sai thiết kế,
lấn chiếm lề đường,…
Nguồn vốn ngân sách nhà nước dùng để xây dựng các cơng trình trọng điểm
đơ thị cịn thấp, hầu như chỉ có giải phóng mặt bằng các tuyến trục chính, gây ảnh
hưởng đến tiến độ xây dựng chung tồn đơ thị.
Nhiều cơng trình hạ tầng kỹ thuật có thời gian thi cơng kéo dài, ảnh hưởng
đến chất lượng, tiến độ, vệ sinh môi trường, gây lãng phí và mất lịng tin trong
nhân dân. Đáng chú ý là cơng tác giải phóng mặt bằng để có mặt bằng sạch thi
cơng các cơng trình thực hiện quá chậm, bị ách tắt ở nhiều khâu, thiếu nhất quán
giữa các dự án… vừa làm chậm tiến độ xây dựng, gây tâm lý bất bình trong nhân
dân, làm nảy sinh nhiều hiện tượng khiếu kiện.
Các hoạt động quản lý khác
Vệ sinh môi trường, nhất là vấn đề xử lý rác thải đô thị tuy được chú trọng
chỉ đạo thực hiện nhưng vẫn cịn nhiều tồn tại, cơng tác thu gôm rác chủ yếu tập
trung ở các tuyến giao thơng chính chưa đi sâu vào các khu dân cư. UBND tỉnh đã
thành lập Trung tâm Giải phóng mặt bằng & Môi trường đô thị, tuy nhiên lĩnh vực

17


mơi trường đơ thị chưa được cấp kinh phí để có thể đầu tư phương tiện và dụng cụ
thu gom và xử lý rác thải. Trong khi đó nhu cầu này ngày càng tăng. Diện tích đất
dành cho cây xanh và khu vui chơi giải trí trong đơ thị vẫn cịn mất cân đối, phân
bổ khơng hợp lý so với diện tích xây dựng nhà ở. Hệ thống hạ tầng thốt nước
chưa đồng bộ dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ diễn ra khá phổ biến trong mùa
mưa.

Công tác thanh tra, kiểm tra việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại đô thị
mặc dù đã được chú ý, quan tâm xong hiệu quả còn thấp và còn một số tồn tại, hạn
chế, như: làm dối, làm ẩu, khơng đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đơ thị
tuy có được cải cách một bước nhưng vẫn còn nhiều bất cập, đặt biệt là các thủ tục
chuẩn bị đầu tư cịn rườm rà, gây khơng ít phiền hà cho các tổ chức, cá nhân có
liên quan.
Việc quản lý, sử dụng và khai thác các cơng trình hạ tầng kỹ thuật đơ thị cịn
một số hạn chế. Có tình trạng sau khi hồn thành đưa vào sử dụng nhưng khơng có
đơn vị nào được giao trách nhiệm đứng ra quản lý, đồng thời chưa có cơ chế để thu
hút sự tham gia của nhân dân vào quá trình này. Ngồi ra các chính sách để tạo vốn
cho quá trình duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa hầu như chưa được đề cập mà chủ yếu
dựa vào nguồn ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, một số nội dung khác trong quản lý nhà nước về xây dựng phát
triển hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa được chú trọng chỉ đạo thực hiện hoặc có thực
hiện nhưng hiệu quả khơng cao, như: Công tác thu tiền sử dụng đất để tái đầu tư
vào đơ thị, các loại thuế trong q trình kinh doanh bất động sản mà các nhà đầu tư
phải nộp. Việc phối hợp kiểm tra, giám sát, đôn đốc trong q trình thi cơng các
cơng trình của chủ đầu tư và đơn vị thiết kế, giám sát còn hạn chế.
3.2. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
3.2.1. Nguyên nhân khách quan
Do khu vực dự án có xuất phát điểm thấp, nông nghiệp – nông thôn chiếm tỷ
trọng lớn, quy hoạch chi tiết chậm được công bố. Nguồn vốn đầu tư phát triển còn
hạn chế nên kết cấu hạ tầng kỹ thuật chậm được xây dựng, nâng cấp.
Nếp nghĩ, cách làm của một bộ phận cư dân đơ thị cịn mang nặng tư tưởng
của những người nông dân – sản xuất nhỏ, nếp sống văn minh đô thị chưa được
xác lập một cách đầy đủ. Một số không nhỏ chưa hiểu rõ tầm quan trọng của phát
triển hạ tầng kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, mà thơng qua đó họ sẽ là

18



những người được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp. Do vậy, chưa có sự đồng
thuận cao trong nhân dân trong quá trình xây dựng phát triển hạ tầng kỹ thuật đơ
thị, nhất là cơng tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, vệ sinh mơi trường… Trong
khi đó, những kết quả đạt được trong công tác dân vận mới chỉ là bước đầu; sự
phối hợp giữa Cấp ủy Đảng, chính quyền và các đồn thể quần chúng trong cơng
tác vận động nhân dân chưa đồng bộ, các giải pháp đề ra cịn nhiều hạn chế, hiệu
quả thấp.
Cơ chế chính sách ở tầm vĩ mơ cịn nhiều bất cập, gây khó khăn trong quá
trình thực hiện. Tỉnh chưa ban hành kịp thời những quy định về quản lý quy hoạch,
quản lý xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, cũng như các quy định về xử lý vi phạm
còn nhiều điểm chưa cụ thể và chưa phù hợp với tình hình địa phương. Vấn đề
phân cấp ngân sách, tỷ lệ điều tiết cịn nhiều bất cập; bộ máy chính quyền đơ thị
khơng có sự ưu tiên bổ sung, mặc dù khối lượng công việc quản lý nhiều hơn…
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Quy hoạch tổng thể đô thị được phê duyệt nhưng việc triển khai quản lý quy
hoạch còn nhiều bất cập. Việc phân cấp quản lý giữa tỉnh và Ban Quản lý trên một
số lĩnh vực chưa rõ ràng, phối hợp giữa các ngành của tỉnh, của huyện Điện Bàn
với Ban quản lý chưa chặt chẽ: như trong công tác quản lý quy hoạch, quản lý hiện
trạng, phê duyệt dự án đầu tư, thủ tục giao đất, xác định mức thu tiền sử dụng đất
từng dự án … Ngoài ra, các nguyên tắc trong quá trình lập đồ án quy hoạch chưa
được tn thủ nghiêm túc, ví dụ như khơng tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư ở
các khu vực có liên quan hay cịn xem nhẹ ý kiến đóng góp của chính quyền cơ sở,
nhất là cấp xã phường. Các bước chuẩn bị đầu tư còn quá nhiều thủ tục rườm rà,
bất hợp lý mà chưa được tập trung giải quyết. Việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc các
đơn vị thi cơng cịn thiếu kịp thời, sâu sát.
Xây dựng và phát triển đô thị là một nhiệm vụ rất quan trọng nhưng tổ chức
bộ máy chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Ban Quản lý chưa thật sự chủ động, năng
động triển khai các giải pháp tập trung vào các khâu đột phá để khai thác tiềm năng

lợi thế. Năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấp, các
ngành từ thị xã đến cơ sở cịn có những mặt hạn chế nhất định.
Nền kinh tế trong khu vực chậm phát triển và cịn nhiều khó khăn, một mặt
làm hạn chế nguồn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng từ nguồn ngân sách và các
nguồn đóng góp của dân cư, mặt khác nó cũng làm hạn chế đáng kể hiệu quả khai
thác, sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật được xây dựng – nhiều cơng trình đường

19


giao thơng có quy mơ khá lớn nhưng mật độ người đi thấp, hiệu quả sử dụng
không cao.
Một số Sở, ngành ở tỉnh chưa thể hiện trách nhiệm cao trong việc xây dựng
phát triển đô thị. Việc phân công, phân cấp quản lý và quy định chức năng, nhiệm
vụ quyền hạn chưa rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm giữa các ngành của tỉnh với Ban,
Ban Quản lý phải gánh nhiều trách nhiệm nặng nề, nhưng lại ít quyền hạn để đảm
đương trách nhiệm đó… Nhìn chung, Ban Quản lý là đơn vị phải chịu nhiều sức ép
từ phía các ngành ở tỉnh.
Ban Quản lý chưa thật sự năng động trong việc huy động các nguồn vốn cho
đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị. Việc tranh thủ vốn ngân
sách Trung ương, ngân sách tỉnh chưa mạnh; chưa có cơ chế thơng thống để thu
hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là vốn ODA, FDI, NGO và các nguồn
vốn khác từ bên ngoài. Trong khi đó khả năng vốn Nhà nước cịn hạn chế. Khơng
có giải pháp hữu hiệu để huy động mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư trong nhân dân.
Chưa xây dựng được hành lang pháp lý thật sự thơng thống, thuận lợi để nhân dân
mạnh dạn đầu tư hoặc đóng góp cùng Nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
kỹ thuật đơ thị.
Chính sách và q trình thực hiện công tác đền bù giải tỏa để phục vụ xây
dựng các cơng trình hạ tầng kỹ thuật thực hiện chưa nhất quán, chưa kiên quyết và
thiếu đồng bộ giữa các ngành chức năng kể cả các đoàn thể quần chúng… Công

tác tuyên truyền vận động nhân dân nhằm tạo ra sự “đồng thuận” cao trong các
cộng đồng dân cư khi tiến hành công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Việc
thực hiện một số nội dung quan trọng như áp giá đền bù, bố trí tái định cư cho các
khu vực giải tỏa trắng, hổ trợ ổn định đời sống nhân dân… còn nhiều bất cập.
Ban Quản lý chưa có phương án thực hiện “xã hội hóa” trong lĩnh vực vệ
sinh mơi trường; cịn xem nhẹ cơng tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ý thức
tự giác bảo vệ, giữ gìn vệ sinh mơi trường cũng như chấp hành các quy định của
Nhà nước trên lĩnh vực này. Chưa làm tốt việc điều tra về hiện trạng mơi trường để
có quy hoạch tổng thể, hướng xử lý, kiểm tra, giám sát để bảo vệ môi sinh, môi
trường một cách cơ bản.
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhất là các lĩnh
vực thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn nhiều hạn chế; hơn nữa trang thiết bị và các
điều kiện vật chất kỹ thuật bất cập, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ quản lý
phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đơ thị trong tình hình mới. Bộ máy tổ chức tuy
được củng cố một bước nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như: Chưa có bộ phận
20


chuyên trách làm công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm về vệ sinh mơi trường; chưa
có cơ quan quản lý kiến trúc đô thị (tham mưu cho UBND tỉnh)… Đội quy tắt của
thị xã Điện Bàn (có chức năng kiểm tra, tham mưu UBND thị xã xử lý các vi phạm
về quy hoạch, xây dựng) hoạt động cầm chừng, hiệu quả thấp nhưng trong thời
gian khá dài vẫn chưa được củng cố, kiện toàn. Một số tổ chức cần phải có của một
đơ thị như cơng ty mơi trường đơ thị, cơng ty cơng trình cơng cộng, điện chiếu
sáng đơ thị … chưa được thành lập. Các phịng ban chun mơn ở thị xã và chính
quyền cơ sở ở phường chưa có sự phối hợp chặt chẽ; cịn tư tưởng trông chờ, ỷ lại,
chưa thật sự năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… đã
làm cho hiệu lực quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc phát triển kết cấu hạ
tầng kỹ thuật đô thị chưa đạt hiệu quả như mong đợi.
Trật tự kỹ cương trên lĩnh vực hành chính chưa nghiêm. Việc kiểm tra, phát

hiện và xử lý vi phạm trong quá trình xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị chưa được chú trọng chỉ đạo thực hiện một cách đúng mức; Chưa kiên quyết
trong việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính trong quản lý quy hoạch,
quản lý sử dụng đất đai, vệ sinh môi trường… Sự phối hợp giữa thanh tra nhà nước
với thanh tra chuyên ngành để tạo ra tính đồng bộ và hiệu quả trong công tác thanh
tra của nhà nước chưa được chú trọng thực hiện, mà trái lại có nhiều trường hợp
các cơ quan chức năng thanh tra của Nhà nước lại chồng chéo dẫn đến hiệu quả
thấp hoặc gây ảnh hưởng đến quá trình quản lý đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật đô thị.
Việc tổ chức hội thảo, tổng kết rút kinh nghiệm sau khi công trình thi cơng
hồn thành từng cơng trình, hoặc tổng kết theo những mốc thời gian định kỳ chưa
được chú trọng thực hiện, nếu có làm thì thường chỉ là qua loa, đại khái. Việc tranh
thủ ý kiến của các chuyên gia đầu ngành trong quản lý nhà nước về xây dựng phát
triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị hầu như chưa được quan tâm.

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ
MỚI – , TỈNH QUẢNG NGÃI

21


1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY
DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐƠ THỊ MỚI

, TỈNH
QUẢNG NGÃI
Quan điểm 1: Đơ thị mới –
phải phát triển theo khuynh hướng “phát

triển bền vững”, vừa tập trung cho phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giải quyết các
vấn đề xã hội, an ninh quốc phịng, mơi trường sinh thái… Xây dựng và phát triển
đơ thị mới –
khơng chỉ có ý nghĩa phát triển “tại chỗ” mà còn là động lực kết
nối, vừa để thúc đẩy sự phát triển của các vùng trong tỉnh, vừa kết nối với các đô
thị khác trong khu vực tạo thành chuỗi đô thị trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung. Sự phát triển nhanh, bền vững của đô thị cũng chính là sự phát triển của thị
xã Điện Bàn, của tỉnh Quảng Ngãi, của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Do
vậy, cần phải có sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của các ngành các cấp từ trung ương
đến địa phương, đặt biệt là sự nổ lực của Ban Quản lý, chính quyền và nhân dân
khu đơ thị mới có thể phát triển nhanh và bền vững được.
Quan điểm 2: Xây dựng và phát triển đô thị phải căn cứ vào quy hoạch đô
thị và phải đáp ứng yêu cầu phát triển đồng bộ về kinh tế - xã hội và kết cấu hạ
tầng kỹ thuật theo hướng cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa, đảm bảo cơng bằng xã
hội và các yếu tố khoa học kỹ thuật, mỹ quan đô thị, môi sinh môi trường… để đô
thị thực sự trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa – khoa học kỹ thuật của
tỉnh. Kết hợp chặt chẽ cải tạo với xây dựng mới, từng bước mở rộng đơ thị, trong
đó đầu tư nâng cấp cải tạo chỉnh trang khu vực trung tâm để tạo bộ mặt đô thị là
nhiệm vụ thường xuyên. Bên cạnh đó chú trọng đầu tư phát triển khu vực lân cận
đơ thị, khớp nối với quy hoạch phía Đơng do Điện Bàn quản lý, đồng thời mở rộng
quy hoạch về phía Tây theo quy hoạch tổng thể. Phấn đấu đến năm 2020 đạt chuẩn
đô thị loại III.
Quan điểm 3: Quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật phải gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa –
hiện đại hóa, tăng thu ngân sách, ưu tiên phát triển các loại hình sản xuất kinh
doanh và dịch vụ… tạo môi trường thu hút đầu tư, cải thiện đời sống nhân dân.
Huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp nhiều nguồn lực để xây dựng và phát
triển đô thị. Ngân sách nhà nước tăng thêm mức đầu tư cho đô thị, đồng thời phát
huy tối đa nội lực, khai thác tốt nguồn lực của các thành phần kinh tế và của nhân
dân. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương “xã hội hóa” đầu tư trên các lĩnh vực thuộc

kết cấu hạ tầng kỹ thuật, với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” hay
“dân làm nhà nước hổ trợ”, gắn liền với công tác chỉ đạo, kiểm tra sâu sát quá trình
22


thực hiện. Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm lực về đất đai hiện có. Tranh thủ
các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài: vốn Trung ương, vốn vay, vốn viện trợ và các
nguồn vốn huy động hợp pháp khác.
Đầu tư có trọng điểm để tập trung vốn, sớm hồn thành cơng trình đưa vào
sử dụng. Chú trọng giải quyết những vấn đề cấp bách với việc thực hiện các mục
tiêu cơ bản lâu dài, xác định đúng trọng tâm, đột phá, có bước đi giải pháp năng
động, hiệu quả, sáng tạo nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị.
Quan điểm 4: Quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật đô thị phải tuân thủ đầy đủ và triệt để nguyên tắc, quy tắt về quản lý đơ thị,
đảm bảo tính khoa học và hiện đại, kỹ thuật và mỹ thuật, chất lượng và hiệu quả,
phù hợp giữa trước mắt và lâu dài… đáp ứng yêu cầu phát triển của một đô thị loại
III trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa , hiện đại hóa. Đồng thời phát triển kết
cấu hạ tầng kỹ thuật phải có sự kết hợp hài hịa với những nét văn hóa truyền thống
có tính chất đặc trưng của địa phương hạn chế sự pha tạp quá mức, bảo tồn được
những di sản văn hóa của địa phương. Bên cạnh đó phải đặt biệt chú trọng đảm bảo
vệ sinh môi trường, cảnh quan đơ thị trong q trình xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, làm cho khu vực phát triển thành một đô thị “Xanh, sạch, đẹp và hiện đại”
Quan điểm 5: Nâng cao hiệu quả của quá trình quản lý sử dụng và khai thác
các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thông qua nhiều biện pháp khác nhau, như
phân cấp quản lý, sử dụng cụ thể và hợp lý hơn (nhất là giữa quản lý theo ngành và
quản lý theo vùng); có biện pháp thích hợp để nhân dân tham gia nhiều hơn vào
việc quản lý sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhân dân phải có trách nhiệm trong
việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (kể cả các
cơng trình phục vụ cơng cộng); nghiên cứu áp dụng chính sách khấu hao đối với

các cơng trình và hạng mục cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị.
2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ
MỚI – , TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Đổi mới công tác quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Những tổng kết của các nước trên thế giới cho thấy hiệu quả đầu tư cho một
đơ thị phụ thuộc vào đóng góp của quy hoạch và đầu tư là 60%, thiết kế và thi cơng
cơng trình là 20%, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là 15%, năng suất lao động
để thi cơng cơng trình là 5%. Sai lầm trong cơng tác quy hoạch sẽ làm cho giá
thành xây dựng tăng và có thể gây hậu quả khơn lường về ơ nhiễm môi sinh, môi
23


trường của đơ thị, thậm chí gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đô
thị ở hiện tại và tương lai.
Đô thị mới nằm trong một khu vực đầy tiềm năng phát triển, xong cũng cần
xem lại tính khả thi trong công tác lập quy hoạch. Điều này nhằm tránh trường hợp
các dự án thành phần phê duyệt xong nhưng khơng thực hiện được do cơng tác giải
phóng mặt bằng q khó khăn, chi phí phá dở các cơng trình cũ q lớn gây lãng
phí cho xã hội, chi phí xây dựng hạ tầng q lớn khơng thể kêu gọi các nhà đầu tư
vào đây. Do vậy, vấn đề đặt ra là Ban Quản lý phải tiến hành rà xét lại toàn bộ quy
hoạch về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện có, tìm ra những điểm chưa phù
hợp, những điểm khơng mang tính khả thi… Từ đó,bổ sung, điều chỉnh quy hoạch
kết cấu hạ tầng kỹ thuật từ nay đến năm 2020 đảm bảo phù hợp với đặc điểm của
thị xã, đảm bảo các yêu cầu về phát triển theo hướng nếu trên. Công việc này cần
có sự tham gia của các ngành thuộc tỉnh như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi
trường, Sở Khoa học Cơng nghệ… Trong q trình thực hiện, tiêu chí “xanh – sạch
– sáng” phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình ra xét, điều chỉnh, bổ sung
quy hoạch tổng thể cũng như quy hoạch chi tiết và các dự án thành phần.
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đơ thị, mốn có một đơ thị đẹp thì

việc nghiên cứu định hướng tổ chức khơng gian kiến trúc tồn đơ thị. Các khu
trọng điểm, các nút giao thơng và qng trường chính của đơ thị phải được đề cập
đến một cách rõ ràng trong quy hoạch tổng thể mặt bằng chung dài hạn và quy
hoạch xây dựng ngắn hạn.
Ngoài ra, trong các đề án quy hoạch chi tiết đối với từng cơng trình kết cấu
hạ tầng kỹ thuật đô thị, cần chú trọng dành những khoảng đất dự trữ nhằm để trồng
cây xanh, xây dựng các công trình cơng cộng (như khu vui chơi trẻ em, cơng viên
xanh mini…), tránh tình trạng các nhà đầu tư chỉ muốn tạo ra càng nhiều đất để
bán, làm cho mật độ xây dựng tăng, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và mỹ quan đô
thị.
2.2. Đẩy mạnh việc phân cấp trong quản lý nhà nước về xây dựng phát triển
kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Phân cấp quản lý giữa các địa phương và các ngành chức năng trong đô thị
là việc làm hết sức cần thiết, nhằm tăng cao tinh thần trách nhiệm, tăng tính chủ
động, sáng tạo cho các ngành, địa phương trong quá trình thực hiện chức năng
quản lý của mình trên các lĩnh vực được phân cơng, phân nhiệm. Do vậy, đơ thị
phải có phương án phân cấp quản lý đối với các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật
thuộc thẩm quyền quản lý của mình, theo các hướng chủ yếu sau đây:
24


- Ban Quản lý Phát triển đô thị mới



quản lý các nội dung công việc

sau:
+ Quản lý kiến trúc, quy hoạch: Điều tra thu thập số liệu, số liệu phục vụ
việc lập quy hoạch xây dựng đô thị tổng thể và quy hoạch định hướng mở rộng đô

thị, thẩm định quy hoạch chi tiết 1/500 các dự án thành phần. Hướng dẫn việc lập
hồ sơ xin cấp chứng chỉ quy hoạch, xin cấp giấy phép xây dựng cơng trình. Thẩm
định và quyết định cấp phép sửa chữa, xây mới công trình theo phân cấp của
UBND tỉnh. Tham gia xác định chỉ giới xây dựng cơng trình, và chỉ đạo thực hiện
đền bù giải phóng mặt bằng.
+ Quản lý các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật: Xây dựng kế hoạch phát
triển các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn. Tổ chức thẩm định thiết
kế cơ sở kết cấu hạ tầng kỹ thuật cơng trình, giao nhiệm vụ các phịng ban chun
mơn giám sát q trình thi công xây dựng, tổ chức nghiệm thu, bàn giao cơng
trình.
- UBND thị xã Điện Bàn: phối hợp trong cơng tác giải phóng mặt bằng, thực
hiện cưỡng chế đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc chây ỳ, gây xáo
trộn trong nhân dân. Duyệt hồ sơ cấp phép xây dựng và hậu kiểm, xử phạt các tổ
chức cá nhân không thực hiện đúng thiết kế đã duyệt.
- Thẩm quyền và trách nhiệm của UBND các phường và các đơn vị chức
năng chịu trách nhiệm quản lý các nội dung như: quản lý quy hoạch chi tiết được
duyệt, những trường hợp nào vượt quá thẩm quyền thì phối hợp cùng đội quy tắc
đô thị huyện tham mưu UBND thị xã Điện Bàn giải quyết. Quản lý hiện trạng
những khơng vực đã có thơng báo thu hồi đất để làm dự án. Quản lý hệ thống thu
gôm rác thải, cây xanh (đã được xây dựng hoàn chỉnh theo quy hoạch và đưa vào
sử dụng), hệ thông đường kiệt nội thị, đường giao thông nông thôn; Chịu trách
nhiệm thu nộp các khoản đóng góp của nhân dân để xây dựng và sửa chữa, duy tu,
bảo dưỡng các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (trừ khoản thu thông qua một số
ngành chức năng khác như phụ thu tiền điện, thu lệ phí đường bộ). Có quyền khai
thác mang tính nhỏ lẻ (như khai thác đối với diện tích đất cịn lại trong các khu dân
cư hiện có, phù hợp với quy hoạch) để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô
thị…
- Để công tác phối hợp được chặt chẽ, cần xây dựng Quy chế phối hợp giữa
Ban Quản lý với các Sở Ban ngành thuộc tỉnh (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi
trường, Sở Giao thông Vận tải,… ) trong quá trình quản lý xây dựng các cơng trình

kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn đô thị.
25


×