Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (474.75 KB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TÁC GIẢ: TRẦN NGỌC BÁU

HÀ NỘI - 2015

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TÁC GIẢ: TRẦN NGỌC BÁU

CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN


HÀ NỘI2 - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết, nghiên cứu khảo sát
tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến. Các
số liệu, kết quả trong bài luận văn là trung thực và chưa từng được công bố.
Học viên

Trần Ngọc Báu

3


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến đã tận tình hướng dẫn và
quý thầy cô khoa sau đại học Viện đại học mở Hà Nội đã truyền dạy những kiến thức
quý báu trong chương trình cao học và giúp đỡ kinh nghiệm cho tôi để hoàn thành bản
luận văn này.

Học viên

Trần Ngọc Báu

4


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực
sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình
độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển
của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các
nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực. Nhìn lại các
loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt
động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần
nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích
của mình; nhưng chúng ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình
doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chính những
ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào
hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo
hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ
phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ
phần tại Việt Nam nói riêng có điều kiện thuận lợi để phát triển, Luật Doanh nghiệp số
68/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa
XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015 sẽ thay thế cho Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật Doanh nghiệp số
37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013. So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật
Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã
và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa
đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ,
tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Một trong những sửa đổi quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2015 là những quy định


5


về vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là vốn trong công ty cổ phần. Sự ra đời của Luật
doanh nghiệp 2014 là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, vốn của công ty cổ phần
là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà
còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần trên thị
trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển
nhượng, thế chấp. Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ
sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty
cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý
của nó. Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất.
Như vậy, vốn trong doanh nghiệp nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng là
một vấn đề hết sức quan trọng, nó là yếu tố cơ bản để quyết định sự ra đời và tồn
tại của doanh nghiệp. Trong khi đó, , dưới góc độ pháp lý, quy định về vốn trong
công ty cổ phần còn nhiều phức tạp, nó chưa được quy định một cách chi tiết, cụ
thể dẫn đến chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng luật. Vì vậy, việc nghiên cứu
để góp phần hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về vốn của doanh nghiệp
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014 đặc biệt là công ty cổ phần, đồng thời đưa
ra những định hướng cơ bản cho sự phát triển của Luật Doanh nghiệp Việt Nam là
điều cần thiết. Điều đó không chỉ có ý nghĩa thiết thực cho người làm công tác
nghiên cứu khoa học pháp lý, các cơ quan quản lý nhà nước mà còn đối với các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư đang và sẽ quan tâm tới hệ thống pháp luật về doanh
nghiệp Việt Nam. Với cách tiếp cận như vậy cho nên, chúng tôi chọn đề tài Chế độ
pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam" để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, có nhiều đề tài, công trình cũng như tài liệu liên quan đến doanh
nghiệp, công ty cổ phần nói chung và trong đó có đề cập đến vấn đề vốn trong công
ty cổ phần. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

(i)

Cấu trúc vốn và sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ cấu tổ chức quản
lý của công ty cổ phần, luận văn thạc sĩ luật học, Hoàng Thị Giang ;
PGS. TS. Lê Hồng Hạnh hướng dẫn, Hà Nội, 2003

(ii)

Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hoà Pháp, luận văn thạc sĩ luật
học , Bạch Thị Huệ Thoa ; Người hướng dẫn: TS. Phan Chí Hiếu, GS.
Herve Lecuyer, Hà Nội, 2004

6


(iii)

Những khía cạnh pháp lý cơ bản về vốn trong công ty cổ phần theo Luật
Doanh nghiệp 2005, khoá luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Thuỳ Dương; TS.
Trần Bảo Ánh hướng dẫn, Hà Nội, 2006

(iv)

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn của công ty cổ phần ở Việt
Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đào Thị Hằng ; TS. Đoàn Trung Kiên
hướng dẫn, Hà Nội, 2012

Hầu hết, các công trình nghiên cứu nhiều vấn đề về doanh nghiệp dưới nhiều
góc độ, nhưng nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về chế độ pháp lý

về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu dưới
góc độ Luật doanh nghiệp 2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số nội dung về chế độ
pháp lý về vốn trong công ty cổ phần hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhằm làm
rõ những quy định mới về vốn của công ty cổ phần đồng thời hoàn thiện về mặt lý
luận những vấn đề mà hiện đang còn bỏ ngỏ hoặc mới chỉ đề cập ở mức khái quát
và đưa ra những định hướng phát triển của luật pháp Việt Nam.
Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau: làm rõ
những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần; thực
trạng chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam; xây
dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan chế độ pháp lý
về vốn trong công ty cổ phần.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ đề cập một trong những vấn đề cơ bản trong quy chế điều chỉnh
vốn đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của Luật Doanh
nghiệp 2014, đó là chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần bao gồm cơ chế góp
vốn; chuyển nhượng, mua lại cổ phần; thay đổi vốn và vấn đề sở hữu vốn trong công
ty cổ phần.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp đó, luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh,
thống kê.
6. Kết luận của luận văn

7


Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công
ty cổ phần.
Chương 2: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh
nghiệp 2014.
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện những vấn đề pháp
lý về vốn trong công ty cổ phần ở Việt Nam.

8


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Bản chất của công ty cổ phần
Cũng giống như các hiện tượng kinh tế - xã hội khác, công ty ra đời, tồn tại và
phát triển trong những điều kiện xã hội nhát định. Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các
thành phố lớn của một số nước Châu Âu - nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc
giao lưu buôn bán đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân đầu tiên. Lúc này, các
thương gia liên kết dưới hình thức một hãng buôn hay một công ty để hùn vốn đóng
những con thuyền vượt đại dương, hoặc buôn bán xa hơn ở những lãnh thổ mới khám
phá. Trong quá trình cùng nhau kinh doanh, buôn bán theo phường hội, các thương gia
rất cần niềm tin, sự sống chết có nhau. Yếu tố về nhân thân, sự quen biết mang tính
chất "chọn mặt gửi vàng" được đặt lên hàng đầu. Càng về sau, sự giao lưu thương mại
được rộng mở, nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát triển, với mục tiêu tìm
kiếm lợi nhuận cao nhất, nhiều nhà kinh doanh đã bắt đầu cạnh tranh quyết liệt nhằm
tìm kiếm thị trường, nên mục tiêu nâng cao năng lực về vốn luôn được các nhà kinh
doanh chú ý. Đến lúc này, yếu tố về vốn đã chi phối mạnh mẽ hoạt động của các công
ty. Vì thế, bước sang thế kỷ thứ XVIII và XIX cùng với sự phát triển của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật đã có rất nhiều công ty cổ phần đã lần lượt ra đời ở Châu Âu
và Bắc Mỹ. Sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, công ty

ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động, nổi
lên là những công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành
lập và trong suốt quá trình hoạt động các thành viên công ty không quan tâm đến nhân
thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần góp vốn của họ. Bởi vì đối với loại hình
công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định
các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định
trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ. Công ty cổ
phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng. Với tính chất này, công ty cổ
phần là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn
thông qua các giao dịch trên sàn chứng khoán.
Từ những phân tích trên, luận văn có thể đưa ra khái niệm và đặc điểm công ty

9


cổ phần như sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn. Vốn của công
ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ
phiếu. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá
trị cổ phiếu mà họ sở hữu. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính chất
chất tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng để huy động vốn.
Đặc điểm của công ty cổ phần:
Về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng thành
viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa (theo quy định của Luật Công ty 1990
của Việt Nam thì số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của công ty
cổ phần là 7 và theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh
nghiệp 2014 thì số lượng thành viên tối thiểu của công ty cổ phần là 3). Đặc điểm này thể

hiện đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn nên có sự liên kết
của nhiều cổ đông tham gia góp vốn vào công ty cổ phần.
Về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua
cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận của được hằng năm từ cổ phần gọi là cổ tức. Việc
góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có
thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
Về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, công ty cổ phần được
quyền phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán
ra công chúng để huy động vống. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: đối với công ty
trách nhiệm hữu hạn khi muốn tăng vốn điều lệ của mình thì phải thực hiện bằng cách
tăng thêm phần vốn góp của các thành viên, hoặc kết nạp thành viên mới, công ty trách
nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. Trong khi đó khả năng huy động
vốn để tăng thêm vốn điều lệ của công ty cổ phần là rất lớn, công ty cổ phần được phát
hành các loại chứng khoán để huy động vốn. Đây là quyền năng chỉ có ở CTCP
Về chuyển nhượng phần vốn góp: Phần vốn góp của các cổ đông được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu. Nếu như trong công ty TNHH việc chuyển nhượng phần vốn
góp của các thành viên bị hạn chế nhất định thì trong CTCP, cổ phiếu do công ty cổ
phần phát hành được xem là “hàng hóa" nên người sở hữu các "hàng hóa" này có

10


quyền tự do chuyển nhượng (chỉ trừ một số trường hợp đặc biện mới bị hạn chế
chuyển nhượng). Các cổ đông muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu
của mình cho các cổ đông khác đều được thực hiện một cách dễ dàng theo quy định của
điều lệ công ty, trừ những trường hợp pháp luật hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phiếu.
Như vậy, so sánh với các loại hình công ty khác thì công ty cổ phần có nhiều ưu
việt hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và công ty
trách nhiệm hữu hạn. Với loại hình công ty cổ phần có thể huy động được nguồn vốn

lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả,
mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người có vốn, đồng thời chia nhỏ rủi ro cho các
thành viên. Tuy vậy, do công ty cổ phần thường có quy mô kinh doanh lớn, số lượng
thành viên đông nên quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp. Kết quả hoạt động của
công ty có ảnh hưởng nhiều đến ổn định xã hội vì công ty được công khai phát hành cổ
phiếu huy động vốn trong xã hội và số đông các thành viên góp vốn có thể là người lao
động.
1.2. Vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần
1.2.1. Khái niệm vốn trong công ty cổ phần
Đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, vốn đóng một vai
trò hết sức quan trọng. Nó là điều kiện, là cơ sở thiết yếu để công ty ra đời và hoạt
động trên thương trường. Công ty cổ phần có quy mô càng lớn thì số vốn càng nhiều,
số vốn càng nhiều thì khả năng cạnh tranh và uy tín của công ty trên thị trường càng
cao. Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ và quan hệ với các
đối tác bên ngoài. Trong mối quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn
của quyền lực. Quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai giữ phần lớn số
vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần chỉ rõ thực
lực tài chính của công ty. Khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là
yếu tố năng động nhất. Các quy luật kết quả thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu
thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn. Sự phát
triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh
tế. Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của
các quy luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Điều này đặt
ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn
để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn. Sự linh hoạt trong vận động
của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất

11



đi bản chất vốn có của công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân
công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư
cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau. Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế đi trước C.Mác đã dày
công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là phạm trù
kinh tế.
Kế thừa, chọn lọc tư tưởng của các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự chuyển hóa
của tiền thành tư bản, C.Mác đã khẳng định: "Như vậy là giá trị được ứng ra lúc ban
đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn
cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm gia trị. Chính sự vận động ấy biến
giá trị đó thành tư bản" [6, tr.228].
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn)
trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời.
Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và sinh lời phải trải qua sự vận động. Thông qua sự
vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng.
Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết
đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò quan
trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy, phạm trù vốn
trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó
trên nhềiu bình diện khác nhau.
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm chú giải thuật ngữu kế toán Mỹ,
tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền biểu hiện nguồn
gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức"
[19, tr.29].
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế,
I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yêu tố đầu vào phục vụ
sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để
phục vụ sản xuất tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm
hoặc bán thành phẩm" [25, tr.11].

Ở Việt Nam, cuối Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng chỉ ra rằng:
Vốn là "tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi" [27,
tr.1126].

12


Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều hình thái tồn
tại của vốn. Vốn có thể coi là tiền hay tài sản được giá trị hóa. Mặc khác, vốn tư cách là
vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra
hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn
với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
Bản chất của vốn
Để hiểu rõ hơn bản chất của vốn cần nhận thức dướic góc độ sau:
Thứ nhất, về các hình thái biểu hiện của vốn.
Xét về mặt trừu tượng, vốn là hình thành giá trị. Giá trị của nó được ứng ra để
chuyển hóa nó thành các yếu tố cấu thành quá trình sản xuất, trải qua quá trình sản
xuất, giá trị lớn lên không ngừng.
Xét về mặt cụ thể, vốn được biểu hiện rất phong phú, đa dạng, bao gồm: tài sản
hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính. Những tài sản này tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đồng thời
làm tăng giá trị.
Như vậy, về mặt nhận thức, có thể thấy rằng, vốn tồn tại dưới nhiều hình thái cụ
thể: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính. Nhưng, hình thái giá trị - tiền
tệ với tư cách vốn là linh hoạt, biến hóa nhất trong nền kinh tế thị trường. Thị trường
không những là nơi diễn ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ
khả năng sinh lời của chúng. Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng vừa là đầu
tư kinh doanh đồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô ngày
càng được mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Sự vân động của vốn trên thị
trường tuân thủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Song với khả năng

nhận thức, con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh
huy động vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất - kinh doanh của
mình.
Thứ hai, vốn là hàng hóa đặc biệt
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa. Muốn phát triển sản
xuất - điều kiện đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Nhu cầu vốn đầu tư được xe là cơ sở phát
sinh quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng
trao đổi, mua bán trên thị trường. Với tư cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng; có chủ sỗ hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất.

13


Tính đặc biệt của "hàng hóa vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời. Với
tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sửu hữu vốn và quyển sử dụng vốn tách rời nhau.
Đặc điểm nay của vốn không có ở các loại hàng hóa thông thường. Chủ sở hữu vốn sẽ
không nhận được một khoản lợi tức nào (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi
bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư). Nhà đầu tư khi mua quyền sử
dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn). Nhờ có sự
tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong
lưu thông và sinh lời.
Thứ ba, vốn có quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết: tiền chỉ được đem n hượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay trử
về điểm xuất phát sau một kỳ nhất định, và hai là nó sẽ quay trở về điểm đó ovứi tư
cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được cái giá trị sử dụng của
nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [6, tr.525].
Như thế, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư trong
một khoảng thời gian xác định. Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay
chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn. Đó chính là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay

là lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi sử dụng vốn. Mức lãi suất được tính bằng tỷ lệ
phần trăm so với lượng vốn khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo
đơn vị thời gian (quý, năm...), phù hợp với nền kinh tế thị trường. Sự tách rời giữa
quyền sử hữu vốn và quyển sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định tất yếu
dẫn đến quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ; những đồng
tiền chưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến tay các nhà đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, các nhà
đầu tư luôn chú trọng tới yếu tố thời gian. Các yếu tố như giá cả, lạm phát, lãi suất, tỷ
giá... biến động thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh
của doanh nghiệp. Bất kỳ nhà đầu tư nào, khi xác định hiệu quả đầu tư cũng phải đưa
toàn bộ chi phí và thu thập về cùng một thời điểm để so sánh, tính toàn các chỉ tiêu lợi
nhuận, tỷ suất doanh lợi/vốn, tỷ suất doanh lợi/doanh thu, vòng quay của đồng vốn...
Điều đó cắt nghĩa được tại sao vốn luôn có giá trịvề mặt thời gian (gắn với thời gian).
Từ những phân tích trên dây, có thể hiểu, vốn là tổng giá trị những tài sản (tài
sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
vào quá trình sản xuất - kinh doanh nhằm mục tiêu mang lại thu nhập trong tương lại.
Về khái niệm vốn công ty cổ phần, Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2014 quy

14


định: “Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại.
Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng
giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và ghi trong Điều lệ công ty”.
Như vậy, vốn là những gì mà nhà đầu tư bỏ ra để hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Vốn ở đây có thể là tiền hoặc những tài sản khác.
Đặc biệt khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vôn được xem xét dưới nhiều góc độ
khác nhau và quan niệm về vốn đã có những thay đổi căn bản. Để thực hiện các hoạt
động kinh doanh, ngoài nguồn vốn bằng tiền, còn huy động nhềiu nguồn vốn mà
không phải bằng tiền nhưng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh vì mục

tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của
doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hóa, tài sản, những sở hữu khác nhau
được dùng làm ra lợi nhuận.
Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc quyền tài
sản thì lợi thế, uy tín, danh dự và thị phần trên thị trường mà doanh nghiệp đó đang có
cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy
ngay trước mặt, mà nằm ở lợi thế tương lai có vai trò quan trọng đối với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng
phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao
đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn có nguồn vốn không phải
bằng tiền. Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là
tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi luận đó là
tiền, giấy tờ được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng,
lợi thế của doanh nghiệp.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh
Công ty cổ phần phải có vốn. Vốn của công ty cổ phần là vẫn đề phức tạp, không chỉ
liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế,
năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các
vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp. Không thể không nhận
thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói
sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc
vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý của nó. Những yếu tố đó được các đối tác của
công ty quan tâm đến nhiều nhất.
1.2.2. Cấu trúc vốn trong công ty cổ phần

15


Trong công ty cổ phần, cấu trúc vốn phản ánh vị thế, quy mô, uy tín của công ty
cổ phần trên thị trường. Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu

cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của công ty
cổ phần. Vốn của công ty cổ phần bao gồm: vốn do cổ đông góp dưới dạng mua cổ
phần được xác định là vốn điều lệ và vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng, hoặc
phát hành trái phiếu. Mỗi bộ phận nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần có
những đặc điểm, vai trò và tính chất riêng, thể hiện đúng bản chất của nó, đồng thời có
mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau.
Có thể hiểu, cấu trúc vốn của công ty cổ phần là một chỉnh thể bao gồm các bộ
phận hợp thành vốn của công ty và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xét từ hai phương diện pháp lý và kinh
tế. Ở đây tác giả chỉ làm rõ cấu trúc vốn của công ty cổ phần dưới góc độ pháp lý. Cấu
trúc vốn của công ty cổ phần bao gồm: Vốn điều lệ và vốn vay. Tuy nhiên, hoạt động thực
tế của công ty cổ phần có một loại vốn đó là vốn pháp định, vậy vốn pháp định nằm trong
cấu trúc vốn của công ty cổ phần không?
Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải
có để thành công ty do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề Như vậy, theo quy
định của Luật doanh nghiệp 2005 vốn pháp định là một điều kiện quan trọng để thành
lập công ty. Muốn thành lập công ty các nhà đầu tư bắt buộc phải có vốn điều lệ tối
thiểu phải bằng hoặc lớn hơn mức vốn pháp định quy định đối với ngành nghề đăng ký
kinh doanh.
Thực tiễn thực hiện Luật doanh nghiệp 2005 cho thấy, việc quy định về vốn
pháp định mang tính hình thức, bất hợp lý. Thực chất vốn pháp định của nhiều công ty
chỉ là vỏ bao bên ngoài, không có thật dẫn đến tình trạng vốn pháp định "ma" đã được
hợp pháp hóa khiến cho các đối tác nhầm lẫn. Mặt khác việc quy định vốn pháp định
với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư. Nếu đặt ra mức vốn pháp
định cao thì cản trở đầu tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty. Có những nhà đầu
tư có khả năng quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do mức vốn thấp hơn vốn pháp
định nên đã không thành lập được công ty để thực hiện ý tưởng đầu tư kinh doanh của
mình. Ngược lại, nếu quy định vốn pháp định thấp thì điều này làm mất đi ý nghĩa
thực hiện quản lý Nhà nước đối với công ty cổ phần trong thành lập, đăng ký kinh
doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Mặt khác, vốn pháp địnhh không phản ánh giá

trị thực của công ty cổ phần khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc

16


vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty. Do đó,
Luật Doanh nghiệp 2014 về cơ bản đã bỏ định nghĩa vốn pháp định. Theo đó,
cơ quan nhà nước quản lý việc đăng ký kinh doanh về lĩnh vực này theo hình thức
"tiền đăng hậu kiểm". Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh
doanh, trong việc gỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những
ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của họ. Việc bỏ bốn pháp định là hoàn
toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực
hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, việc bãi bỏ vốn
pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa với sự buôn lỏng quản lý Nhà
nước. Với một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh
doanh bất động sản vẫn cần có quy định về vốn pháp định. Nghị định số 59/2006/NĐCP của Chính phủ quy định 16 nhóm ngành nghề, dịch vụ đòi hỏi phải có vốn pháp
định. Ví dụ: Trong lĩnh vực chứng khoán như bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn
pháp định quy định là 165 tỷ đồng; kinh doanh dịch vụ đòi nợ vốn pháp định là 2 tỷ
đồng... Đây là những ngành kinh doanh đặc thù, rủi ro cao. Để đảm bảo an toàn cho
các nhà đầu tư, pháp luật quy định vốn pháp định đối với những ngành nghề này.
Như vậy, vốn pháp định không nằm trong cấu trúc vốn cua công ty cổ phần, việc
quy định vốn pháp định chỉ là điều kiện thành lập và đăng ký kinh doanh. Vốn pháp định
không thể phản ánh khả năng tài chính của công ty cổ phần.
Vì vậy, dưới góc độ pháp lý cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xem xét ở
hai bộ phận: Vốn điều lệ và vốn vay.
Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời
hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty. Nó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản
vô hình. Tài sản vô hình không thể nhìn thấy được ngay nhưng có ý nghĩa quan trọng
đối với doanh nghiệp như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, uy tín của doanh

nghiệp. Toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được các cổ đông góp và được ghi
vào điều lệ gọi là vốn điều lệ của công ty cổ phần. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định
Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều
lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị
mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.[
khoản 1, Điều 111]. Trong đó, Cổ phần đã bán là số cổ phần được quyền chào bán đã
được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh

17


nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại đã được đăng ký mua. Cổ phần
được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội đồng
cổ đông quyết định sẽ chào bán để huy động vốn. Số cổ phần được quyền chào bán
của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng số cổ phần các loại mà
công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng ký mua và cổ phần
chưa được đăng ký mua. Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa
được thanh toán. Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là
tổng số cổ phần mà chưa được các cổ đông đăng ký mua.
Như vậy, điểm nhất quán ở đây là tài sản khi được các cổ đông góp và ghi vào
điều lệ công ty cổ phần, gọi là vốn điều lệ của công ty cổ phần.
Trong cấu trúc của công ty cổ phần, vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng, là chỉ
số kinh tế phản ánh năng lực tài chính. Tuy nhiên, vốn điều lệ không hẳn phản ánh giá
trị thực của công ty cổ phần vì giá trị thực của công ty cổ phần có thể cao hoặc thấp
hơn vốn điều lệ. Thực tế, vốn điều lệ chỉ phản ánh một phần giá trị của công ty, giá trị
của công ty phụ thuộc vào nhiều chỉ số khác trong đó có vốn điều lệ. Vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau. Các cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách
mua cổ phần mà hình thức thể hiện là cổ phiếu.
Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty. Chủ thể sở hữu cổ

phần được gọi là cổ đông, có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần. Cổ phần là căn cứ
pháp lý chứng minh tư cách của cổ đông. Quyền, nghĩa vụ của công đông phụ thuộc
vào loại cổ phần và giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Cổ phần có hai loại: cổ phần phổ
thông và cổ phần ưu đãi. Cổ phần phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi
nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại
hội đồng cổ đông.
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ phần phổ
thông gọi là cổ đông phổ thông. Khi thành lập công ty, các cổ đông sáng lập phải dùng
nhau đăng ký mua ít nhất 20% cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời
điểm đăng ký doanh nghiệp và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong thời hạn
chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty có thể phát hành cổ phần ữu đãi. Các loại cổ phần ưu đãi chủ yếu bao
gồm:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ

18


phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ
công ty quy định. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông
sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.

. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ

có hiệu trong 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi
thành cổ phần phổ thông.
- Cổ phần ưu đãi cổ tức: Là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với
mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Cổ tức được chia
hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thường. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào

kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ
tức thường được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức.
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi
nào yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ
phiếu ưu đãi hoàn lại.
Vốn vay
Ngoài vốn góp của các cổ đông, trong cấu trúc của công ty cổ phần còn có vốn
vay. Vốn vay có ý nghĩa quan trọng đối với các công ty đang trong tình trang khó khăn
về mặt tài chính. Vốn vay là số vốn của các đơn vị khác mà công ty cổ phần được
quyền sử dụng trong một thời gian nhất định sau đó phải trả lại cho chủ nợ. Công ty
không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng đó
một khoản lợi nhuận gọi là lợi tức.
Vốn vay bao gồm: Vốn vay từ ngân hàng, các cá nhân tổ chức khác, vay thông
qua thuê tài chính, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu (công ty cổ phần có quyền
phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo). Thực tế,
công ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh mà không có sự huy động
vốn từ bên ngoài. Nguồn vốn vay của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú. So
với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần có lợi thế
hơn trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ
phận quan trọng là vốn vay.
Vậy vay vốn có thuộc quyền sở hữu của công ty cổ phần không? Hiện nay có
nhiều quan điểm khác nhau về vay vốn của công ty cổ phần. Có quan điểm ho rằng
vốn vay không thuộc sở hữu của công ty cổ phần và đặc biệt là vay thông qua hình
thức thuê tài chính. Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ

19


phần, từ vay thông qua hình thức thuê tài chính. Để lý giải vấn đề này, vốn vay được
nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.

Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do công ty cổ phần huy động từ bên ngoài, vốn
vay không phản ánh năng lực của công ty cổ phần. Vì vậy, khó có thể nói vốn vay
thuộc sở hữu của công ty cổ phần.
Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của công ty cổ phần. Vì
vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các
khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để công ty cổ phần có phương án trả nợ. Vốn vay
không phản ánh năng lực tài chính thực sự của công ty cổ phần. Công ty cổ phần được
sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định. Nếu sử dụng đúng mục đích, có hiệu
quả sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty cổ phần.
Dưới góc độ pháp lý "vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận
với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi" [khoản 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN].
Theo quy định của Bộ luật Dân sự bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể
từ thời điểm nhận tài sản đó [3, Điều 472]. Như vậy, vốn vay được công ty cổ phần
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong hoạt động kinh doanh làm tăng lợi nhuận của
công ty. Công ty cổ phần có thể sử dụng vốn vay bổ sung vào vốn lưu động để mở
rộng phạm vi, quy mô kinh doanh hoặc mua sắm tài sản cố định. Những tài sản cố
định được công ty cổ phần mua sắm bằng nguồn vốn vay như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng sẽ thuộc quyền định đoạt của công ty cổ phần và khi các khoản nợ đã đến kỳ
đáo hạn công ty cổ phần phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi. Như vậy, dưới góc
độ pháp lý, vốn vay là vốn của công ty cổ phần từ vay thông qua hình thức tài sản,
thuê tài chính.
Ngoài việc huy động vốn vay trực tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, công ty
cổ phần còn huy động vốn vay thông qua việc phát hành trái phiếu:
Trái phiếu
Llà loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006).
Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ ghi nợ. Việc phát hành trái phiếu ra công
chúng là hình thức vay nợ của Công ty cổ phần. Khác với các hình thức vay khác như
vay của các tổ chức tín dụng, cá nhân tổ chức khác, phát hành trái phiếu là hình thức


20


vay thông qua việc phát hành chứng khoán. Trong các nguồn vốn vay của công ty cổ
phần nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng, thể hiện rõ ưu thế
của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc huy động vốn.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay các công ty cổ phần huy động vốn vay chủ yếu bằng
hình thức vay tín dụng, còn hình thức vay thông qua phát hành trái phiếu các công ty
cổ phần không "mặn mà" lắm. Hiện nay trên thị trường chứng khoán phần lớn chỉ có
trái phiếu Chính phủ.
Tóm lại, vốn là cơ sở thiết yếu để thành lập, "Khai sinh" ra công ty cổ phần. Vì
vậy, việc xác định rõ các nguồn vốn trong công ty cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng về
mặt pháp lý. Nó xác định rõ ràng sở hữu của công ty cổ phần, đồng thời về mặt kinh tế
nhằm xác định phạm vi quy mô, lợi thế, khả năng tài chính thực của công ty cổ phần.
1.3. Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
1.3.1. Định nghĩa chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
Như phần trên đã phân tích, vốn là yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu
khi thành lập doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng. Trong doanh
nghiệp, vốn không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện
khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định quyền, nghĩa vụ
của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của công ty. Với ý nghĩa đó, Luật doanh nghiệp 2005,
và tiếp tục được kế thừa tại Luật doanh nghiệp 2014, các quy định về vốn trong công
ty cổ phần đã được đặc biệt chú trọng. Vì vậy, xét về mặt khách quan, tất cả những
quy định của pháp liật liên quan đến vốn của công ty đã hình thành nên chế độ pháp lý
về vốn của doanh nghiệp.
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn, chuyển nhượng
vốn, thay đổi vốn và những vấn đề khác có liên quan đến vốn trong công ty cổ phần.
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là những quy phạm pháp luật, do

Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho các nhà kinh doanh
điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng vốn trong
công ty cổ phần. Những quy phạm pháp luật này mang tính bắt buộc chung cho mọi
chủ thể kinh doanh.
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần nhằm tạo điều kiện cho vốn và tài
sản của công ty hình thành, phát triển trên cơ sở ý chí và lợi ích của các chủ sở hữu.
Nó là hành lang pháp lý cho hoạt động của các cổ đông trong việc góp vốn, chuyển

21


nhượng cũng như thay đổi vốn trong công ty cổ phần.
1.3.2. Nội dung chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
1.3.2.1. Hình thành vốn trong công ty cổ phần
Hình thành vốn trong công ty cổ phần được hiểu là quá trình hình thành vốn và
hình thành tài sản của công ty. Nó được hiểu là quá trình các cổ đông chuyển tài sản
của mình sang tài sản công ty theo cam kết. Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên mà pháp
luật về doanh nghiệp của bất cứ nước nào cũng đề cập và quy định. Có ba nội dung cơ
bản liên quan đến cơ chế góp vốn, đó là:
- Thứ nhất là chủ thể góp vốn vào công ty. Chủ thể góp vốn vào công ty cổ
phần là một nội dung quan trọng, không thể thiếu được của pháp luật bất cứ nước nào.
Nói đến chủ thể góp vốn tức là nói đến những tổ chức, cá nhân nào có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật để tham gia đầu tư vào CTCP.
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của cá nhân và tổ
chúc kinh doanh được Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thừa nhận nhưng điều đó không có nghĩa ai cũng có quyền góp vốn, đầu tư vào
công ty cổ phần. Do đó, Luật Doanh nghiệp phải có quy định cụ thể để xác định những
cá nhân, tổ chức nào được quyền góp vốn vào công ty và họ sẽ có tư cách như thế nào?
- Thứ hai là tài sản góp vốn. Mặc dù khái niệm tài sản đã được Điều 163 Bộ
luật Dân sự 2005 xác định "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài

sản". Nhưng đây là khái niệm tài sản theo nghĩa rộng. Trong quá trình hình thành vốn,
có phải tất cả những tài sản này đều được pháp luật thừ nhận là vốn góp trong công ty
cổ phần hay không? Những quy định cụ thể của pháp luật sẽ xác định những tài sản
bảo coi là vốn góp trong công ty cổ phần nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích của cổ
đông góp vốn và của chính bản thân công ty.
- Thứ ba là phương thức góp vốn. Phương thức góp vốn là việc các cổ đông góp
vốn như thế nào, cách thức nào, thời hạn, mức góp bao nhiêu? Luật Doanh nghiệp quy
định những vấn đề này chủ yếu do các thành viên công ty thỏa thuận với nhau trong
hợp đồng thành lập công ty hoặc trong Điều lệ công ty. Tuy nhiên, để đảm bảo khả
năng thanh toán của công ty cũng như sự ổn định trong cấu trúc vốn của công ty, pháp
luật của hầu hết các nước cũng như pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đều điều
chỉnh về vấn đề này.
1.3.3.2. Chuyển nhƣợng và mua lại cổ phần
Xét về bản chất, việc chuyển nhượng vốn của thành viên công ty là sự dịch

22


chuyển quyền sở hữu của người đó đối với phần vốn góp của họ trong công ty. Luật
Doanh nghiệp quy định không cho thành viên công ty nói chung và cô đông của công
ty cổ phần nói riêng được rút phần vốn góp của mình ra khỏi công ty. Theo Luật
Doanh nghiệp, việc điều chỉnh vốn góp trong công ty cổ phần được thực hiện dưới các
hình thức sau: Cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình trong những điều
kiện nhất định; chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác thông qua thị trường
chứng khoán.
Ở cách thứ nhất, trong những trường hợp nhất dịnh công ty phải mua lại cổ
phần của một cổ đông nào đó. Trong trường hợp này, các cổ đông công ty có quyền
yêu cầu công ty mua lại giá trị của số cổ phần mà cổ đông sở hữu theo thỏa thuận hoặc
theo giá thị trường. Có thể phần vốn góp của công đông đó so với tổng số vốn hiện tại
của công ty chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, không đáng kể, nhưng nếu công ty mua lại

phần vốn góp đó, có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống cơ cấu vốn và tài chính
của công ty. Ví thế, trên thực tế việc công ty mua lại cổ phần của các cổ đông thường
xảy ra trong những điều kiện nhất định. Do đó, cổ đông muốn thu hồi vốn của mình
thường thực hiện thông qua việc chuyển nhượng cổ phần của mình.
Với cách thứ hai, ở nước ta hiện nay thị trường chứng khoán phát triển rất sôi
động, nó đã tạo ra một thị trường mua bán cổ phiếu, trái phiếu thuận tiện và dễ dàng
hơn. Đặc biệt trong công ty cổ phần quy định cổ đông được quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần của mình cho người khá trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu
quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập.
Có thể nói rằng, chuyển nhượng vốn vóp là quyền của các cổ đông trong công
ty, tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện khi đáp ứng những điều kiện mà pháp luật
hoặc Điều lệ công ty quy định.
1.3.3.3. Các trƣờng hợp thay đổi vốn
Trong quá trình hoạt động, kết quả sản xuất sẽ ảnh hưởng đến vốn của công ty.
Sự thay đổi tư cách cổ đông của công ty cũng dẫn đến sự thay đổi của vốn. Vì vậy,
vốn của công ty có thể tăng hoặc giảm. Tuy nhiên, vốn có vai trò quan trọng không chỉ
đối với công ty mà tác động tới nền kinh tế. Vì vậy, pháp luật đã đưa ra những quy
định cụ thể để điều chỉnh. Khi vốn của công ty cổ phần có sự thay đổi thì công ty phải
có trách nhiệm khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Nói đến chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần là nói đến những quy tắc
mang tính chất pháp lý để điều chỉnh, quy định những vấn đề liên quan đến quá trình

23


hình thành, sở hữu và phát triển vốn. Có thể nói đây là một nội dung vô cùng quan
tọng và phức tạp đối với pháp luật về doanh nghiệp. Và nó càng trở nên quan trọng và
phức tạp hơn, càng cần sự quan tâm, nghiên cứu hơn nữa khi đó là một cơ chế pháp lý
về vốn của công ty cổ phần - một loại hình doanh nghiệp đặc thù được thành lập trên
cơ sở góp vốn của nhiều cổ đông và quyền, nghĩa vụ của các cổ đông được quyết định

bởi tỷ lệ phần vốn góp của họ vào công ty.

24


CHƢƠNG 2
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
2.1 HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1.1 Một số quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật
doanh nghiệp:
Nhắc tới công ty có nghĩa là nhắc tới một thực thể kinh doanh được tạo nên bởi
sự góp vốn của hai hay nhiều thành viên. Bởi vậy góp vốn là nội dung quan trọng có
tính chất quyết định đối với các cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần. Vốn là yếu tố
cơ bản đầu tiên mà thành viên công ty quan tâm đến, là điều kiện không thể thiếu được
đối với bất kỳ một nhà đầu tư nào, khi họ muốn trở thành thành viên công ty. Vốn là
điều kiện bắt buộc để công ty ra đời, nó là nội dung vật chất để công ty tồn tại và phát
triển.
Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “ Góp vốn là
việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để
thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành
lập.” Góp vốn theo hình thức công ty được hiểu là việc một cá nhân hay một tổ chức
chuyển dịch vốn của mình (biểu hiện bằng giá trị, bằng hiện vật hoặc các quyền về tài
sản…) theo một trình tự, thủ tục nhất định vào công ty (thuộc sở hữu công ty) và theo
đó được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ trái quyền góp vốn. Với tư cách là
một thực thể pháp lý độc lập, công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty. Như vậy,
phương thức góp vốn là cơ sở pháp lý để hình thành quyền sở hữu của công ty. Vốn
thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các chủ sở hữu trên toàn
bộ số vốn đã đầu tư vào công ty. Với tư cách là người góp vốn, thành viên công ty
được hưởng quyền tài sản và chịu trách nhiệm rủi ro về phần vốn của mình góp vào

công ty.
Như vậy, hành vi góp vốn là hành vi làm thay đổi chủ thể quyền sở hữu.
Những tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức khi đem góp vốn vào công ty theo
những phương thức nhất định thì phần vốn góp đó đã được chuyển dịch thành sở hữu
của công ty và công ty với tư cách là chủ sở hữu có toàn quyền chi phối đối với những
tài sản thuộc sở hữu của công ty.
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu, để góp vốn thành lập công ty, cụ thể là công ty
cổ phần, cần đảm bảo hai yếu tố: chủ thể góp vốn và tài sản góp vốn.

25


×