Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Các quy định về đối tượng nốp thuế thu nhập doanh nghiệp thwo luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (89.76 KB, 16 trang )

Bình luận các quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở thực tiễn áp dụng
trong năm 2012; ý kiến pháp lí nhằm thực hiện tốt thuế thu nhập
doanh nghiệp
Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà
nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Về bản chất, thuế là loại quan hệ phân
phối gắn với nhà nước, là loại quan hệ giữa nhà nước với người nộp thuế. Lí luận và
thực tiễn chỉ ra rằng, thuế ra đời và tồn tại là khách quan, là điều kiện vật chất quan
trọng để nhà nước tồn tại và phát triển. Để tạo cơ sở pháp lí ổn định và vững chắc
cho nguồn thu thuế, thực hiện mục đích kinh tế - xã hội đòi hỏi nhà nước cần phải
ban

hành

hệ

thống

pháp

luật

thuế

đồng

bộ.

Ở Việt Nam, cùng với ự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật
thuế được hình thành và ngày càng triển. Pháp luật thuế có hệ thống quy phạm phức
tạp, chi tiết và thường xuyên được sửa đổi, thay thế, bổ sung để đáp ứng với yêu cầu


của nhà nước và phù hợp với đời sống kinh tế xã hội. Thuế thu nhập doanh nghiệp
là một trong những loại thuế trong hệ thống thuế của nước ta. Đây là loại thuế trực
thu, một loại thuế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thu vào ngân sách nhà
nước. Chính vì vậy, việc quản lí của nhà nước đối với loại thuế này là vô cùng quan
trọng. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 ra đời thay thế những quy định của
luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 là một trong những bước tiến quan trọng
nhằm đáp ứng những yêu cầu cơ bản để phù hợp với những thay đổi của tình hình
kin tế - xã hội trong những năm gần đầy. Và trong một số năm thực hiện Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp 2008, bên cạnh những ưu điểm, cũng có thể thấy tồn tại
những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Để cso thể thấy rõ được những
quy định cụ thể trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 cùng với mục đích
định hướng thay đỏi trong thời gian tới, em xin lựa chọn đề tài “Bình luận các quy
định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật thuế thhu nhập doanh
nghiệp trên cơ sở thực tiễn áp dụng trong năm 2012; ý kiến pháp lí nhằm thực hiện


tốt thuế thu nhập doanh nghiệp” trong bài tập học kì của mình. Vì lí do thời gian
cũng như kiến thức còn hạn hẹp, bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được những ý kiến đống góp từ thầy cô để bài viết của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I/ Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Căn cứ vào đối tượng nộp thuế thu nhập, hệ thống luật thực định về thuế ở các nước
phân chia thuế thu nhập ra làm hai loại thuế: thuế thu nhập công ty và thuế thu nhập
cá nhân. Ở Việt Nam, thuế thu nhập cũng được chia làm hai loại thuế: thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế thhu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhập cá
nhân). Cách phân chia này ở Việt Nam có điểm khác biệt so với các nước khác ở
chỗ, việc phân chia thuế thu nhập dựa vào cả tiêu chí đối tượng nộp thuế thu nhập

và nguồn gốc làm phát sinh thu nhập để phân chia (thu nhập đó có nguồn gốc từ
kinh doanh hoặc không kinh doanh của cá nhân).
Có thể đưa ra một khái niệm được pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác thừa
nhận: Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trư thu đánh trực tiếp vào thu nhập
của cơ sở kinh doanh trong kì tính thuế sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến
thu nhập đó.
Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lí cao, là
khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp, thuế TNDN còn có những đặc
điểm riêng, cụ thể là:


Thứ nhất, do là loại thuế trực thu nên đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế thu
nhập là một, không có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế sang người
chịu thuế.
Thứ hai, là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh nên mức
động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh
doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thu nhập
chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại, doanh nghiệp có thu nhập thấp hoặc
gặp khó khăn sẽ được nộp thuế ít, thậm chí được giảm thuế, miễn thuế.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã
trừ đi các chi phí liên quan để tạo ra thu nhập đó.
Thứ tư, về nguyên tắc, thuế có tính chất lũy tiến. Tuy nhiên, do những điều kiện cụ
thể mà một số nước trong đó có Việt Nam áp dụng thuế suất thống nhất đối với thuế
thu nhập doanh nghiệp.
2.Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường của nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển
như Việt Nam thì sự tồn tại của thuế thu nhập doanh nghiệp là tất yếu khách quan
bởi những vai trò sau đây của nó:
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà
nước. Điều này được thể hiện bởi phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là

rất rộng. Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế có tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mợi địa bàn. Mặt khác,
cùng xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh doanh ngày
càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao, tích lũy từ nội bộ doanh
nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân
sách quốc gia càng lớn.


Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc
điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi và các chế độ miễn giảm
góp phàn định hướng cho các nhà đầu tư trong nhiều ngành, lĩnh vực mà nhà nước
cần khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lí theo ngành và theo địa
bàn.
Thuế thu nhập doanh nghiệp còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
thong qua các hình thức hỗ trợ về thuế đối với các cơ sở mới thành lập hoặc cơ sở
khó khăn trong kinh doanh.
II/ Các quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật thuế thu
nhập doanh nghiệp trên cơ sở thực tiễn áp dụng trong năm 2012
1.Các quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật thuế thu
nhập doanh nghiệp 2008
Tại Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định về đối tượng nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp bao gồm các đối tượng sau:
“ Ðiều 2. Người nộp thuế
1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là
doanh nghiệp), bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam ;
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây
gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường
trú tại Việt Nam;

c) Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
d) Ðơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam ;
đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.”


Cụ thể như sau:
a/ Doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 124/2008/NĐ – CP thì doanh
nghiệp thành laapjntheo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm các doanh
nghiệp được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà
nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, các tổ chức tín dụng, Luật
kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và quy
định tại các văn bản pháp luật khác dưới các hính thức: công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn; công ty nha nước, các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh,
các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí,
công ty điều hành chung.
Đối với các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
phải nộp thuế đối với phần thu chị thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế
phát sinh ngoài Việt Nam ( điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNDN 2008 ).
b/ Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại
Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì cơ sở thường
trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở
này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất,
kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập bao gồm:
- Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm
mở, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;
- Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
- Cơ sở cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay
một tổ chức, cá nhân khác;



- Đại lí do doanh nghiệp nước ngoài;
- Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền kí kết hợp đồng
đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền kí kết hợp
đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền kí kết
hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc
giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Tuy nhiên, trong trường hợp hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam kí kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo
quy định của hiệp định đó ( khoản 1 Điều 1 Thông tư 130/2008/TT – BTC ).
Doanh nghiệp nước ngoài nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
• Đối với doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam:
- Nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chụ thuế
phát sinh ngoài Việt Nam lien quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó.
- Nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập
này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú.
• Đối với doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp
thuế đối với thu nhập chịu thuế suất phát sinh tại Việt Nam.
c/ Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã
Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã nộp thuế với thu nhập chịu thuế phát
sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.


d/ Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm
các đơn vị công lập, ngoài công lập sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu
nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Nghị định 124/2008/NĐ-CP. Đơn vị sự
nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng phải nộp thuế
với toàn bộ phần thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

đ/ Các tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
Là các tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và có thu nhập
chịu thuế ngoài các đối tượng đã nêu ở trên.
*Đối tượng được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế
Để khuyến khích tổng thể nền kinh tế, đảm bảo công bằng, thu hút đầu tư vào các
địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số ngành, lĩnh vực quan trọng theo
chính sách phát triển của nhà nước, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định
ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn giảm thuế đối với các đối tượng:
- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội
đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ
dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của nhà nước, sản xuất
phần mềm được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian 15 năm, được miễn thuế tối
đa không quá 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp không quá 9 năm tiếp theo.
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn
hóa, thể thao và môi trường ( lĩnh vực xã hội hóa ) được áp dụng thuế suất 10%
trong suốt thời gian hoạt động. Đối với doanh nghiệp thành lập trong lĩnh vực xã
hội hóa được thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc


biệt khó khăn quy định tại phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 124/2008/NĐ – CP
thì được miễn thuế tối đa 4 năm, giảm 50% thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Còn các doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa thuộc địa bàn không
thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó
khăn thì được miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo.
- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội
khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian 10 năm, được miễn thuế tối
đa không quá 2 năm và giảm 50% thuế phải nộp không quá 4 năm tiếp theo.
- Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất
20% trong suốt thời gian hoạt động.

Ngoài ra, còn một số trường hợp được giảm thuế:
- Doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ được giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động nữ, gồm: chi phí tiền
lương và phụ cấp ( nếu có ) cho cô giáo dạy ở nhà trẻ, mẫu giáo do doanh nghiệp và
tổ chức quản lí; chi khám sức khỏe thêm trong năm; chi bồi dưỡng cho lao động nữ
sau khi sinh con; lương, phụ cấp trả cho thời gian lao động nữ được nghỉ sau khi
sinh con, nghỉ cho con bú theo chế độ nhưng vẫn làm việc.
- Doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp bằng số chi trả thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số để đào tạo
nghề, hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số
trong trường hợp chưa được nhà nước hỗ trợ theo quy định.
2.Đánh giá các quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật
thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở thực tiễn áp dụng trong năm 2012


Có thể thấy, sự ra đời của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 thay thế cho Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 đã đáp ứng được những thay đổi căn bản, góp
phần quan trọng vào việc quản lí thuế của nhà nước đối với các doanh nghiệp. Sau
hơn 4 năm thực hiện, những quy định về đối tượng nộp thuế được áp dụng trong
thực tế, đặc biệt trong năm 2012, có thể nhận thấy được những ưu điểm cũng như
tồn tại một số hạn chế về đối tượng nộp thuế như sau:
• Về ưu điểm
Thứ nhất, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định đối tượng nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp chỉ bao gồm các tổ chức, các doanh nghiệp thuộc thành phần
kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Như vậy, so với luật cũ,
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã loại bỏ đối tượng là cá nhân có hoạt động sản
xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ra khỏi đối tượng nộp thuế. Quy định này là
hoàn toàn phù hợp bởi ngày 21/11/2007, Quốc hội đã thông qua Luật thuế thu nhập
cá nhân, do đó, đối tượng nộp thuế thu nhập là cá nhân, hộ kinh doanh được chuyển
sang nộp thuế thu nhập cá nhân theo Luật thuế thu nhập cá nhân 2007. Và trên cơ sở

thực tiễn năm 2012 cũng cho thấy, việc chuyển đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nộp thuế thu nhập cá
nhân là hoàn toàn phù hợp với thực tế và cơ quan thuế có thể làm tốt hơn trong vấn
đề thu thuế và quản lí các vấn đề liên quan đến thuế đối với đối tượng này cũng như
các đối tượng phải nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008.
Thứ hai, về đối tượng được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế thu nhập
doanh nghiệp 2008 đã có sự thống nhất trong cơ chế ưu đãi thuế, đáp ứng yêu cầu
không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 cũng đã khắc phục những hạn
chế trong các quy định ưu đãi dàn tải của luật cũ. Thực tế trong những năm trước
đó đặc biệt trong năm 2012 khi thực thi luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 cho
thấy, những thay đổi trong đối tượng được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đã
góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta, phù hợp với xu thế


của các nước trong khu vực và trên thế giới, nâng cao tính cạnh tranh của cộng
đồng doanh nghiệp và nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có những
bước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, việc quy định các đối tượng được hưởng ưu đãi về thuế một cách rõ
ràng, cụ thể đã giúp các doanh nghiệp dễ dàng xác định mình có thuộc đối tượng
được ưu đãi về thuế hay không.
• Về nhược điểm
Bên cạnh nhứng ưu điểm đã nêu ở trên, có thể thấy, qua thực tiễn thực hiện luật
thuế thu nhập doanh nghiệp 2012, có thể thấy, trong các quy định về đối tượng nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp của luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 còn bôc lộ
những hạn chế đòi hỏi cần khắc phục:
Thứ nhất, tại điểm c khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 có đề
cập đến doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế với thu
nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà các khoản thu nhập này không liên quan
đến hoạt động của cơ sở thường trú còn không rõ ràng. Về mặt lí thuyết, luật pháp

cũng như quyền đánh thuế của luật quốc gia thì khi một chủ thể tiến hành hoạt động
kinh doanh trên lãnh thổ quốc gia khác, nếu có thu nhập phát sinh do hoạt động
kinh doanh thì chủ thể kinh doanh đó phải nộp thuế. Như vậy, tức là khi doanh
nghiệp nước ngoài có thu nhập phát sinh tại Việt Nam thì đều phải nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp mà không phân biệt thu nhập chịu thuế có liên quan đến cơ sở
thường trú hay không. Việc tách riêng thu nhập chịu thuế có liên quan đến hoạt
động của cơ sở thường trú và thu nhập không liên quan đến hoạt động của cơ sở
thường trú là không cần thiết.
Thứ hai, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định đối tượng nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp là tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Trong thực tiễn ở
nước ta hiện nay đã xuất hiện các tổ chức thuộc Hội khuyến nông, Hội khuyến học,


Hội bảo trợ người tàn tật…và các tổ chức phi chính phủ được phép hoạt động tại
Việt Nam như Hội đồng Anh, cộng đồng pháp ngữ… Đây là các tổ chức tham gia
tích cực vào một số hoạt động của đời sống xã hội, cung cấp một số dịch vụ mang
tính tự nguyện, từ thiện như đào tạo, tư vấn, hoạt động giao lưu phát triển văn hóa,
nghiên cứu khoa học… Thu nhập từ hoạt động của các tổ chức này được sử dụng
cho các mục đích nêu trên mà không phân chia. Tuy nhiên, theo quy định của pháp
luật hiện hành thì các tổ chức này vẫn pahir nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như
các daonh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh khác. Điều này có ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển hoạt động của các tổ chức đó.
Thứ ba, bất cập trong quy định về đối tượng nộp thuế với những tổ chức có hoạt
động dặc thù ví dụ như báo chí. Có thể thấy, các cơ quan báo chí không phải là
những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy mà đây là một hoạt động đặc thù về tư
tưởng, văn hóa, giáo dục… Sản phẩm báo chí là sản phẩm tư tưởng – văn hóa,
không thể tính bằng tiền một cách cụ thể. Tuy nhiên, báo chí hiện nay lại là một
trong những đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và bị áp dụng các quy định
về thuế giống như tất cả các doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh

doanh hàng hóa, dịch vụ khác. Đây là một trong những vấn đề chưa hợp lí trong
việc quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Là một ngành đặc thù,
báo chí cần được áp dụng chính sách tài chính đặc thù, cần có những chính sách ưu
tiên, hỗ trợ hoạt động của báo chí theo đúng quy định của pháp luật.
III – Một số ý kiến pháp lí nhằm thực thi tốt pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.Thực trạng áp dụng Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta
Trong hơn 4 năm thực hiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã phát huy
những hiệu quả tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội, đảm bảo nguồn thu cho
ngân sách nhà nước, góp phần khuyến khích đầu tư, giúp nhà nước nắm được tính
hình của các doanh nghiệp để có những chính sách đúng đắn trong quản lí vĩ mô,


sắp xếp lại doanh nghiệp, thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hoạch toán kinh
doanh, nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được đó, thuế thu nhập doanh nghiệp còn
bộc lộ nhiều điểm bất cập đặc biệt là hiện tượng trốn thuế của các doanh nghiệp rất
phổ biến. Các thủ đoạng của doanh nghiệp sử dụng để trốn thuế như: thành lập
doanh nghiệp ma để kinh doanh hóa đơn, hạch toán kinh doanh đầu ra thấp hơn đầu
vào và hiện nay nổi bật là hiện tượng kê khai lỗ liên tiếp để trốn thuế thu nhập
doanh nghiệp. Theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì khi xác định
thu nhập chịu thuế được trừ các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi dụng quy định này, đặc biệt là những
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã liên tục báo cáo thuế lỗ nhiều năm liền
để tránh không phải nộp thuế. Với nhiều hình thức nâng các loại chi phí đầu vào,
thiết bị máy móc, tiêu hao vật tư, nâng giá trị nguyên vật liệu…đồng thời tìm mọi
cách để tăng khai chi phí quảng cáo, khuyến mại để nhằm mục đích triệt tiêu lợi
nhuận. Đến khi bán hàng hóa lại bán cho các đơn vị trực thuộc các vùng, lãnh thổ
có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn ở Việt Nam. Khi doanh nghiệp
bán hàng hóa ra nước ngoài với giá thấp hơn đồng nghĩa với giá đầu vòa ở nước
ngoài sẽ thấp hơn giá đầu ra, mang lại lãi cho các doanh nghiệp ở nước ngoài trong

khi các doanh nghiệp trong nước sẽ lỗ. Từ đó lợi nhuận sẽ được chuyển ra nước
ngoài nhằm tránh thuế thu nhập tại Việt Nam gây thất thu cho ngân sách nhà nước
và khó khăn cho quản lí thuế của cơ quan thuế.
Bên cạnh đó, các quy định về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng bộc lộ hạn
chế. Mặc dù Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã điều chỉnh thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 25% ( Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
2003 thuế suất là 28% ) nhưng so với các nước trên thế giới thì mức thuế 25% của
Việt Nam chưa đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, trong
khi nước ta điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng giảm dần ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp thì các nước trong khu vực mặc dù có thuế suất phổ thông
cao hơn nhưng lại có nhiều chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế. Ví dụ như: In-đô-nê-


xi-a có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 30% nhưng thực hiện miễn thuế đối
với nhứng doanh nghiệp mới thành lập thuộc một số ngành nghề ưu đãi thuế đối với
vùng khó khăn, cho phép giảm tối đa 5% giá trị thực tế tài sản đã đầu tư trong vòng
6 năm… Còn Trung Quốc mặc dù thu hẹp đối tượng ưu đãi thuế nhưng chỉ áp dụng
thuế suất 20% đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, 15% đối với doanh nghiệp sử dụng
công nghệ cao, công nghệ mới và mở rộng ưu đãi với doanh nghiệp đầu tư mạo
hiểm, dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, nước sạch bảo vệ môi trường…
2.Một số ý kiến pháp lí nhằm thực thi tốt pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Để khắc phục những hạn chế nói trên, trong thời gian tới cần thực hiện những giải
pháp:
• Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế
Điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp theo lộ trình để nâng
cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài,
khuyến khích doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư
phát triển, khuyến khích cá nhân, hộ gia đình đang kinh doanh và nộp thuế thu nhập
cá nhân chuyển sang thành lập doanh nghiệp. Có thể thấy, yêu cầu này đã được đáp
ứng phần nào trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 sửa đổi, bổ sung năm

2013 ( có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng năm 2014 ) với quy định thay đổi về
thuế suất như sau:
“Điều 10. Thuế suất
1. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 22%, trừ trường hợp quy định tại khoản
2, khoản 3 Điều này và đối tượng được ưu đãi về thuế suất quy định tại Điều 13 của
Luật này.
Những trường hợp thuộc diện áp dụng thuế suất 22% quy định tại khoản này
chuyển sang áp dụng thuế suất 20% kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.


2. Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá hai mươi tỷ đồng áp dụng thuế
suất 20%.
Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được áp dụng thuế
suất 20% tại khoản này là doanh thu của năm trước liền kề.
3. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai
thác dầu, khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% phù hợp
với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.”
Như vậy, với quy định thay đổi này, với xu hướng giảm dần thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp sẽ góp phần tích cực cải thiện những hạn chế đã nêu ra ở trên, góp
phần thực hiện tốt pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian sắp tới.
- Đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến
khích đầu tư vào các ngành sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các
ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ
chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và
đặc biệt khó khăn.
- Cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lí thuế, đặc
biệt là vấn đề quản lí lỗ giả, có mức chế tài đủ mạnh đối với các doanh nghiệp có
hành vi vi phạm trong giao dịch liên kết và chuyển giá.
• Giải pháp về thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

- Về quy trình tổ chức tiến hành thu phải được rà soát và điều chỉnh nhằm xây dựng
hệ thống thủ tục thuế thống nhất, đơn giản. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
về thuế, thực hiện cơ chế “một cửa” trong, đơn giản hóa thủ tục kê khai và nộp thuế
cho các doanh nghiệp.


- Cần chú trọng công tác đào tạo và bỗi dưỡng cán bộ, công chức ngành thuế để
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Từng bước áp dụng tin học vào công tác quản lí thuế để tăng cường hiệu quả quản
lí thuế thhu nhập doanh nghiệp, xây dựng và củng cố hệ thống thông tin từ đối
tượng nộp thuế đến cơ quan thuế và từ các tổ chức, cá nhân có liên quan; thực hiện
nộp hồ sơ thuế đến cơ quan thuế thông qua phương tiện Internet; sử dụng hóa đơn
điện tử. Điều này nâng cao hiệu quả quản lí, kiểm soát các laoij chứng từ, hóa đơn,
nhanh chóng phát hiện đối tượng trốn thuế, gian lận thuế.
- Tăng cường sử dụng thanh toán qua tài khoản ngân hàng thay vì sử dụng tiền mặt.
Khi thanh toán qua tài khoản ngân hàng, việc theo dõi, đối chiếu các khoản thu chi
của chủ thể trong xã hội dễ dàng hơn vì có thể hạn chế được việc gian lận thuế và
việc nộp thuế qua tài khoản khiến việc nôp thuế của doanh nghiệp nhanh chóng,
chính xác, thuận tiện, đơn giản và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
- Tiến hành thỏa thuận giá trước và có sự tăng cường hợp tác quốc tế, phối hợp với
cơ quan thuế nước bạn để phát hiện, ngăn chặn hiện tượng chuyển giá của các
doanh nghiệp, học tập các kinh nghiệm của cơ quan thuế nước ngoài về quản lí
chuyển giá. Cơ quan thuế cũng cần có sự phối hợp với các cơ quan chức năng ( cơ
quan hải quan, cơ quan công an, ngân hàng…) để phòng chống chuyển giá, truy đòi
số tiền thuế phải nộp.
- Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra về thuế. Đây là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm nhằm ngăn ngừa và xử lí kịp thời những hành vi vi phạm thuế thu nhập
doanh nghiệp. Việc thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trên cơ sở
phân lợi đối tượng thanh tra, kiểm tra. Cần tập trung nhiều vào các đối tượng có
nhiều độ rủi ro về thuế hoặc độ tín nhiệm không cao, thường xuyên gian lận về

thuế.


- Đẩy mạnh tuyên truyền chính sách pháp luật về thuế, hỗ trợ đối tượng nộp thuế.
Thông qua công tác tuyên truyền giúp các doanh nghiệp hiểu rõ về chính sách thuế
và nghiêm túc chấp hành. Cần có kế hoạch hỗ trợ, động viên đối với những doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế.

KẾT LUẬN
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đóng vai trò quan trọng trong chính
sách thuế trực thu nói riêng và hệ thống thuế nói chung. Trải qua quá trính phát
triển, thuế thu nhập daonh nghiệp đã không ngừng sửa đổi bổ sung, cải cách và đổi
mới để thích nghi với sự vận động của nền kinh tế trong đó có đổi mới trong quy
định về đối tượng nộp thuế thu nhập daonh nghiệp. Với những đổi mới trong quy
định, qua hơn 4 năm thực hiện, đặc biệt trên cơ sở thực tiễn thực hiện trong năm
2012, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã phát huy vai trò tích cực trong các mặt
của đời sống kinh tế xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bộc lộ những hạn chế
không thể không tránh khỏi. Hi vọng, với những sửa đổi, bổ sung trong Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp 2008 sửa đổi bổ sung năm 2013 có thể khắc phục đáng kể
những hạn chế đã nêu trên đây, để vẫn đề quản lí thuế không còn gặp nhiều khó
khăn và để nguồn thu từ thuế sẽ đóng vai trò tích cực như bản chất tất yếu của nó.



×