Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Thuyết phạm tội thừa kế của Richard Louis Dugdale

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (58.87 KB, 9 trang )

Thuyết phạm tội thừa kế của Richard Louis Dugdale
Ngay từ thời cổ đại, người xưa đã có giải thích về nguyên nhân của
tội phạm, tuy nhiên các giải thích này còn mang nặng tính thần bí,
siêu nhiên. Theo vòng quay của lịch sử, xã hội ngày càng phát
triển. Lịch sử đã bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đầu tiên liên
quan đến tội phạm học. Tuy nhiên, trong suốt một thời kỳ lâu dài,
vẫn chưa xuất hiện một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
tội phạm học. Chỉ đến khi ra đời tác phẩm. “Tội phạm và hình
phạt” của Cessa Beccara vào năm 1764 đã đánh dấu một bước
ngoặt vô cùng quan trọng cho sự ra đời và hình thành một ngành
khoa học mới của nhân loại – Tội phạm học và mãi đến tận năm
1885, thuật ngữ Tội phạm học mới ra đời. Một trong các thuyết giải
thích về nguyên nhân của tội phạm là thuyết tội phạm thừa kế.
Sau đây nhóm chúng em sẽ đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, nội
dung và sự đóng góp của học thuyết tội phạm thừa kế trong ngành
khoa học tội phạm học, qua đó nêu lên khả năng ứng dụng của
học thuyết ở Việt Nam.
B.GIẢI THÍCH VẤN ĐỀ
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của thuyết phạm tội thừa kế

Thuyết phạm tội thừa kế là một trong những thuyết sinh học điển
hình tồn tại cho đến nay. Ngay từ đầu thế kỷ XVIII, một số nhà
nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về vấn đề nguyên nhân phạm tội
là do gen di truyền. Tuy nhiên, phải đến khi Richard Louis Dugdale
(1841 – 1883) nghiên cứu và cho ra đời công trình khoa học của


mình thì khi đó mới hình thành thuyết phạm tội thừa kế trong tội
phạm học.

► Về hoàn cảnh ra đời và nội dung của thuyết phạm tội thừa kế, ta


có những vấn đề sau:
● Thời gian: thuyết phạm tội thừa kế là một dạng cụ thể của
thuyết sinh học điển hình, tồn tại từ năm 1930 đến nay
● Học giả tiêu biểu cho thuyết này là: Richard Louis Dugdale
(1841- 1883); Henry Goddard (1866 - 1957).
● Nội dung của thuyết là: khẳng định sự phạm tội là đặc điểm
được thừa kế thông qua gen, nguyên nhân của tội phạm chính là
do người phạm tội đã thừa kế gen tồi tệ của thế hệ trước.
Nguyên nhân tội phạm được giải thích theo quan điểm của những
người đi theo thuyết phạm tội thừa kế được chứng minh cụ thể qua
các nghiên cứu của hai đại diện tiêu biểu là Richard Louis Dugdale
và Henry Goddard.
Nghiên cứu của Dugdale: ông đã tiến hành nghiên cứu và cho ra
đời công trình khoa học “Dòng họ Juke: Sự nghiên cứu về tội phạm,
tình trạng bần cùng, bệnh tật và sự di truyền” (1875). Ta có thể
hình dung thí nghiệm của Dugdale qua sự mô tả sau: ông nghiên
cứu cuộc đời của hơn 1000 thành viên gia đình của dòng họ Juke.
Ông đã bắt đù quan tâm đến gia đình dòng họ Juke khi ông tiến
hành kiểm tra các nhà tù và phát hiện ra dòng họ này đang có sáu
người ở trong các nhà tù ở ngoại ô New York. Trong quá trình tiến


hành nghiên cứu một chi của những hậu duệ của Ada Jukes (ông
đã cho rằng đây là mẹ của tội phạm- lấy Ada Jukes làm mốc), ông
đã tìm thấy trong số gần 1200 thành viên gia đình là hậu duệ của
Ada Juke có tới 280 người bần cùng, 60 người phạm tội trộm cắp
tài sản, 7 người phạm tội giết người, 90 người phạm tội khác , 40
người mắc bệnh hoa liễu, 50 người hành nghề gái điếm. Cuối cùng
ông đưa ra kết luận: một vài dòng họ sinh ra những thế hệ tội
phạm, họ chắc đã được di truyền một đặc điểm thoái hoá dọc theo

giống. Đồng thời, ông đã tiến hành nghiên cứu và so sánh dòng họ
Ada Juke với dòng họ Jonathan Edwards (một dòng họ có tiếng là
trong sạch khi đó). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Jonathan
Edwards từng làm việc tại một trường đại học – giữ chức hiệu
trưởng. Hậu duệ của Edwards có người từng làm tổng thống và phó
thổng thống Mỹ, nhiều người thành công trong kinh doanh và điều
đáng lưu ý là không một ai trong dòng họ Edwards được xác định
là có vi phạm pháp luật.
Henry Goddard đã nghiên cứu về gia phả dòng họ của chiến sỹ
cách mạng Martin Kallikak. Cách thức nghiên cứu đó là: ông tiến
hành cuộc nghiên cứu của mình theo hai nhánh nghiên cứu khác
nhau. Trong đó, nhánh nghiên cứu thứ nhất là về hậu duệ cuộc tình
ngoài giá thú của Martin Kallikak với một cô gái bán bar. Còn
nhánh nghiên cứu thứ hai là hậu duệ người con trai của Martin
Kallikak với người vợ hợp pháp sau này. Kết quả cuối cùng là ông
đã tìm thấy tỉ lệ phạm tội đặc biệt cao trong các hậu duệ của
người con trai ngoài giá thú của Martin Kallikak trong khi ở nhánh
thứ hai ông thấy được hậu duệ của nhánh nà hầu như không có
người phạm tội. Cuối cùng, Henry Goddard đi đến kết luận rằng:
rất nhiều tội phạm trong số những hậu duệ của người con ngoài


giá thú của Kallikak hơn là những hậu huệ của người con trai sinh
ra bởi cuộc hôn nhân sau đó với “một phụ nữ trong cùng tầng lớp”.
Ngoài những nghiên cứu của hai nhà đại diện tiêu biểu nói trên,
thuyết phạm tội thừa kế còn được làm rõ qua nghiên cứu của
Arthur H. Estabrook về một chi khác của dòng họ Ada Jukes. Chi
khác của dòng họ này có tất cả 715 người thì sau quá trình nghiên
cứu đã cho thấy: có tới 378 người trong số đó hành nghề mại dâm,
170 người ở tình trạng bần cùng và 118 người khác là phạm tội.

Như vậy ngay cả khi đã nghiên cứu ở một chi khác nhưng dòng họ
Ada Jukes vẫn có tỉ lệ người phạm tội, người hành nghề mại dâm,
người trong tình trạng bần cùng rất cao.
Tất cả những công trình nghiên cứu trên đã giúp ta làm sáng tỏ
nhận định ban đầu về nội dung thuyết phạm tội thừa kế.
II. Sự đóng góp của thuyết tội phạm thừa kế trong tội phạm học
Từ kết quả nghiên cứu của Richard Louis Dugdale đã chỉ ra rằng có
một số dòng họ đã sản sinh ra những thế hệ tội phạm, họ chắc
chắn đã di truyền một số đặc điểm thoái hóa nào đó từ đời này
sang đời khác. Đồng thời ông lại nghiên cứu dòng họ này với một
dòng họ khác có tiếng là trong sạch – dòng họ Jonathan Edwards,
không ai trong dòng họ này bị xác định là tội phạm và vi phạm
pháp luật.
Sau đấy vào năm 1916, Arthur H. Estabrook đã xuất bản công
trình nghiên cứu của mình sau công trình của Dugdale cũng khẳng
định một chi khác của dòng họ Ada Jukes cũng có những đặc điểm


của tội phạm thừa kế. Sau đấy Henry Gorddard đã phát triển mạnh
mẽ hơn nữa thuyết.
Sự ra đời và phát triển của thuyết phạm tội thừa kế đã dẫn đến sự
ra đời và phát triển của phong trào ưu sinh những năm 1920 và
đến đầu năm 1930. Phong trào này sau đó đã phát triển mạnh mẽ
và dẫn đến sự ra đời của tội phạm học ưu sinh. Quan điểm của tội
phạm học ưu sinh đã giải thích nguyên nhân tội phạm là do một số
người của thế hệ sau đã di truyền gen tồi tệ của thế hệ trước. Và
phải phòng ngừa bằng cách không để cho các đặc điểm của người
phạm tội được di truyền sang thế hệ sau. Vì vậy, một số cơ quan
chuyên trách nghiên cứu gia phả những dòng họ phạm tội đã được
thành lập. Đầu thế kỉ XX, ở Mỹ, ra đời văn phòng lưu trữ ưu sinh

liên bang. Chính sách xã hội ưu sinh được trợ giúp ko chỉ riêng cơ
quan này mà vào năm 1927, Tòa án tối cao Mỹ cũng đã lên tiếng
ủng hộ. Vào năm 1924, Bang Virginia (cũng như phần lớn các ban
g lớn khác của Mỹ) đã ban hành Đạo luật triệt sản đối với những
người phạm tội. Trong vụ án Buck v,Bell, thẩm phán Tòa án tối cao,
ông Oliver Wendell Holmes, Jr., đã ủng hộ Bang Virginia ủng hộ
biện pháp triệt sản đối với người phạm tội. Ông đã tuyên bố: “Sẽ là
tốt hơn cho toàn thế giới nếu thay vì việc chờ đợi sự thoái hóa của
con cháu họ về các đặc điểm tội phạm, hoặc để hệ chết đói về
hành động ngu dại của mình, xã hội có thể ngăn chặn những người
rõ ràng không thích hợp bằng việc triệt sản…” Sau khi Buck bị triệt
sản, hơn 8000 người phạm tội khác ở Bang Virginia cũng bị triệt
sản vì bị cho rằng có chứa gen tồi tệ (Đạo luật này sau đó bị sửa
đổi vào năm 1974, Thông đốc bang Virginia đã phải xin lỗi những
gia đình có người bị triệt sản vì hành vi này). Phong trào ưu sinh
phát triển và lan rộng khắp nước Mỹ cho đến trước chiến tranh thế


giới thứ hai và sau đó lan rộng ra Châu Âu. Phong trào này sau đó
đã bị phát xít Đức triệt để lợi dụng để tàn sát người Do Thái.
Những quan điểm của tội phạm học này đã có những đóng góp rất
quan trọng đối với bộ môn tội phạm học. Quan điểm này đã giải
thích nguyên nhân của tội phạm là do một số người của thế hệ sau
đã kế thừa (di truyền những gen tồi tệ của thế hệ trước). Do vậy,
để kiểm soát được tội phạm cần phòng ngừa bằng cách không để
cho đặc điểm của người phạm tội được di truyền sang thế hệ sau
(cần triệt sản đối với người phạm tội) .
Như vậy, theo thuyết này thì nguyên nhân chính của tội phạm
chính là hệ quả di truyền của các gen xấu từ thế hệ trước truyền
cho thế hệ sau. Nó đã góp phần mở rộng thêm các nguyên nhân

của tội phạm vào đóng góp thêm vào ngành khoa học tội phạm.
Đồng thời thuyết cũng chỉ ra một khía cạnh nguyên nhân của tội
phạm là do di truyền học để lại. Điều này cũng giải thích phần nào
những gì về tội phạm mà từ trước tới nay các nhà nghiên cứu tội
phạm học chưa lí giải được.
Hơn nữa, việc nghiên cứu thuyết tội phạm thừa kế đã đưa công
trình nghiên cứu tội phạm lên một bước phát triển mới. Đây cũng
là một công trình nghiên cứu khoa học giá trị, mang tính học liệu
cao. Nhất là đối với bộ môn tội phạm học của Việt Nam, một môn
học còn non trẻ nhưng đã đạt được không ít thành tựu.
Tuy nhiên, thuyết tội phạm thừa kế đã đưa ra biện pháp triệt sản
đối với tội phạm, việc làm này là vô nhân đạo và vi phạm nhân
quyền của con người. Chính vì vậy, thuyết này cho đến ngày nay


không được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên những giá trị nghiên cứu
mà nó đề lại sẽ còn mãi.
III. Khả năng ứng dụng của học thuyết phạm tội thừa kế vào Việt
Nam
Ở Việt Nam, thuyết phạm tội thừa kế vẫn được ứng dụng để giải
thích nguyên nhân của tội phạm trong một số vụ án cụ thể. Tuy
nhiên, sự ứng dụng này ở Việt Nam là không nhiều, không phổ
biến và rộng rãi và cũng không được các nhà nghiên cứu tội phạm
học Việt Nam đồng tình ủng hộ. Vì cách giải lí giải về nguyên nhân
của tội phạm theo thuyết phạm tội thừa kế còn rất hạn chế khi nó
chỉ nhấn mạnh tới đặc tính sinh học của người phạm tội – tức là
vấn đề “người phạm tội thừa kế gen tồi tệ của thế hệ trước”. Các
nhà tội phạm học của Việt Nam đã bác bỏ quan điểm của thuyết
phạm tội thừa kế khi thuyết này chỉ đề cập tội phạm với tư cách là
hiện tượng cá nhân mà chưa đề cập tội phạm với tư cách là một

hiện tượng xã hội.
Con người không chỉ là thực thể tự nhiên mà còn là một thực thể
xã hội. Trong mỗi con người, quá trình xã hội hóa do tính tích cực
và khả năng cảm nhận môi trường của người đó trở thành thuộc
tính cá nhân. Không thể giải thích nguyên nhân của tội phạm
thuần túy dựa vào tính duy truyền của con người. Thuyết phạm tội
thừa kế cũng đã phủ nhận vai trò của môi trường sống cũng như
tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường sống khi lí giải về
nguyên nhân của tội phạm. Khi tìm hiểu bất kì vụ án cụ thể nào, ta
sẽ thấy tội phạm phát sinh là do tác động của nhiều nhân tố khác
nhau và không phải là tác động chỉ từ nhân tố nào đó. Các nhân tố
được coi là “tác nhân” làm phát sinh tội phạm có sự tác động qua


lại với nhau và trong tình huống cụ thể, nhất định mới có thể làm
phát sinh tội phạm. Chính vì vậy, chúng ta không thể kết luận
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm là do thế hệ sau đã kế thừa
những gen tồi tệ của thế hệ trước.
Sự ra đời và phát triển của “thuyết phạm tội thừa kế” đã dẫn đến
sự hình thành và phát triển của phong trào ưu sinh. Đặc biệt, biện
pháp phòng ngừa tội phạm mà trường phái “tội phạm học ưu sinh”
đưa ra do ảnh hưởng của “thuyết phạm tội thừa kế” là rất cực
đoan, vô nhân đạo, chà đạp lên quyền con người. Chính vì vậy,
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã không còn áp dụng
trên thực tế biện pháp này để phòng ngừa tội phạm.
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, luôn đặt lợi ích của nhân
dân lên hàng đầu, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Do
vậy,khả năng áp dụng của thuyết tội phạm học thừa kế áp vào
Việt Nam là rất hạn chế vì thuyết đã phủ nhận hết tất cả vai trò
của môi trường sống cũng như sự giáo dục của gia đình, xã hội,..

không phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước ta.
Để tiến tới xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
cần phải có các biện pháp đấu tranh và phòng ngừa tội phạm một
cách hiệu quả, lí giải đúng bản chất nguyên nhân của việc thực
hiện tội phạm bằng cách tiếp cận nhiều yếu tố mang tính khách
quan, có căn cứ rõ ràng phục vụ cho công tác phòng ngừa tội
phạm, dự báo tội phạm,...
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ


Tội phan học là ngành khoa học xã hội có vai trò đắc lực trong
kiểm soát, đẩy lùi tội phạm, duy trì an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Với tính chất là khoa học đa ngành nghiên cứu về tội phạm, việc
nghiên cứu về tội phạm nói chung, nguyên nhân của tội phạm nói
riêng để làm sáng tỏ vấn đề tại sao con người ta phạm tội cũng
như tìm ra hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm hữu hiệu.



×