Tải bản đầy đủ (.doc) (39 trang)

Phan tich nhung tac dong cua can can thanh toan quoc te va cac chinh sach cau chinh phu doi voi su on dinh kinh te vi mo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (600.58 KB, 39 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) là một trong những tài khoản kinh
tế vĩ mô quan trọng phản ánh hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với
phần còn lại của thế giới, ghi lại toàn bộ các giao dịch kinh tế của một nước với
phần còn lại của thế giới. Nó có quan hệ chặt chẽ với các tài khoản kinh tế vĩ mô
khác như bản cân đối ngân sách, cân đối tiền tệ, hệ thống tài khoản quốc gia.
Chính vì vậy, cán cân thanh toán đã trở thành công cụ quan trọng để đề ra các
chính sách phát triển kinh tế và những diễn biến trong cán cân thanh toán của
một nước là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách. Thực tế
trong thời gian qua, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, một
lượng lớn vốn nước ngoài đã và đang đổ vào Việt Nam, cùng với nó là thâm hụt
cán cân vãng lai (CCVL) có xu hướng ngày càng tăng. Trong luồng vốn vào
Việt Nam, ngoài vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển (ODA), vốn
đầu tư gián
tiếp (FPI) và vốn ngắn hạn có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng ngày càng
cao. Những biến động về xuất nhập khẩu cùng với những biến động về luồng
vốn sẽ luôn là những nguy cơ gây bất ổn cho nền kinh tế. Từ trước đến nay, các
biện pháp điều chỉnh CCTTQT chủ yếu là các biện pháp điều chỉnh trực tiếp
như chính sách thương mại và ngoại hối. Theo yêu cầu hội nhập quốc tế, các hạn
chế đối với thương mại và ngoại hối sẽ dần dần được rỡ bỏ theo các cam kết của
Việt Nam ký với các tổ chức quốc tế. Trong khi đó việc sử dụng các
biện pháp điều chỉnh gián tiếp CCTTQT của Việt Nam như chính sách tỷ giá,
chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá còn mới mẻ đối với Việt Nam.Việc
phân tích các tình trạng và đưa ra các giải pháp điều chỉnh cán cân thanh toán
trong từng thời kì phát triển kinh tế của một quốc gia cũng là việc khó do các
khu vực trong nền kinh tế có quan hệ tác động lẫn nhau.
Trước những đòi hỏi của thực tế nói trên, em đã lựa chọn đề tài: “ Phân
tích những tác động của và các chính sách của Chính phủ đối với sự ổn định
Trang 1



nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?” cho chuyên đề của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận về các biện pháp điều chỉnh CCTTQT.
- Đánh giá thực trạng các biện pháp điều chỉnh CCTTQT của Việt Nam từ
2010- nay.
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng một hệ thống
các biện pháp điều chỉnh CCTTQT đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp điều chỉnh CCTTQT
của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu thực trạng CCTTQT và các biện pháp điều chỉnh CCTTQT
của Việt Nam từ 2010- nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, so sánh tổng hợp và phân
tích, kết hợp những kết quả thống kê để đánh giá thực trạng và vận dụng lý
thuyết và tư duy logic để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu .
Trong phạm vi của một bài tiểu luận, bài làm sẽ không tránh khỏi những
hạn chế nhất định. Em rất vui lòng đón nhận những ý kiến đóng góp của quý
thầy cô và bạn học để đề tài được hoàn thiện hơn. Qua đây, em cũng xin chân
thành cảm ơn đến giảng viên T.S Dương Văn Bạo, giảng dạy bộ môn Kinh tế
quốc tế đã hướng dẫn em hoàn thành đề tài này!

Trang 2


CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CCTTQT


1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của CCTTQT
1.1 Khái niệm
Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of payment - BOP) được hiểu là bảng
kế toán tổng hợp các luồng vận động về hàng hoá dịch vụ , tư bản… của một
quốc gia với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất định. Những giao
dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong
nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng
hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ
xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch
đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài
nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía
người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài
sản có.
Vậy, CCTTQT là một bản đối chiếu giữa các khoán tiền thu được từ nước
ngoài với các khoản tiền trả cho nước ngoài của một quốc gia trong một thời kỳ
nhất định.
Theo Nghị định số 16/2014/NĐ-CP ngày 03/3/2014 của Chính phủ về quản
lý của Việt Nam, của Việt Nam được quy định là báo cáo thống kê tổng hợp
các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất
định. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao là cơ quan chịu trách
nhiệm chủ trì lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán.
1.2 Ý nghĩa kinh tế của CCTTQT.
Thực chất của là một tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai
đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tích những quan hệ kinh tế tài
Trang 3


chính của một nước với nước ngoài trong một thời gian xác định. Do đó,
CCTTQT là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô.

Thông qua, trong một thời kỳ, Chính phủ của mỗi Quốc gia có thể đối chiếu
giữa những khoản tiền thực tế thu được từ nước ngoài với những khoản tiền mà
thực tế nước đó chi ra cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Từ đó, đưa ra
các quyết sách về điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất
nhập khẩu.
Ngoài ra, cán cân thanh toán (CCTT) là công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế
của một quốc gia, giúp các nhà hoạch định kinh tế có định hướng đúng đắn.
CCTT bộc lộ rõ ràng khả năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về kinh tế
bằng việc đo lường chính xác kết quả xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của
đất nước đó.
CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính
trị. Ví dụ, nếu một nước có thặng dư có nghĩa là có nhiều đầu tư từ nước ngoài
đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất khẩu nhiều tiền tệ
ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ.
2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của CCTTQT
2.1. Các thành phần của CCTT
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu do IMF đề ra năm 1993, của một
quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
+ Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa,
dịch vụ và một số chuyển khoản.
+ Tài khoản vốn: Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài
sản tài chính.
+ Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước: Mức tăng hay giảm trong dự
trữ ngoại hối của Ngân hàng trung ương. Do tổng của tài khoản vãng lai và tài
khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm là do tăng giảm
dự trữ ngoại hối tạo nên.
+ Mục sai số
Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi
Trang 4



chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi
trong như là mục sai số.
2.2. Các bộ phận của CCTTQT
+ Cán cân vãng lai (current balance)
+ Cán cân vốn (capital balance)
+ Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)
+ Cán cân cơ bản (basic balance)
+ Cán cân tổng thể (overall balance)
2.2.1. Cán cân vãng lai
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong của một quốc gia
ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú trong nước
với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người
cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ". Còn
những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư
trú trong nước được ghi vào bên "có". Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi
bên có lớn hơn bên nợ.
Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo quốc gia do IMF soạn năm 1993,
tài khoản vãng lai bao gồm:
- Cán cân thương mại hàng hóa
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của . Cán cân
thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc
gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh
lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0,
thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0,
thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân
thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương
mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại
mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng

dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
Trang 5


Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng,
thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các
trong cách xây dựng bảng biểu bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
+ Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng
nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập
khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho
nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân
có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá
cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước
ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì
nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại.
+ Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc
gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy
nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng.
Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố
tự định.
+ Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh
hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên
thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả
của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở
nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên
sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất
khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có
lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên.
Tác động của cán cân thương mại đến GDP :

Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan
trọng: xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu
tư tư nhân và số nhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ"
qua thương mại quốc tế.
Trang 6


- Cán cân dịch vụ :
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm,
bưu chính, viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác
giữa người cư trú với người không cư trú. Giống như xuất nhập khẩu hàng hoá
xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên nó được ghi vào bên có và có
dấu dương; nhập khẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu ngoại tệ. Các nhân tố ảnh
hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng
lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá.
- Cán cân thu nhập:
+ Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các
khoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú
hay ngược lại. Các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động ở nước
ngoài.
+ Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ
đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vay giữa
người cư trú và không cư trú.
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều :
Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản
chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư
trú chuyển cho người không cư trú và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng
lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú với người
không cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được
ghi vào bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào

bên nợ (-). Nhân tố chính ảnh hưởng lên chuyển giao vãng lai một chiều là lòng
tốt, tình cảm giữa người cư trú và người không cư trú.
Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một
chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô
hình (invisible). Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :
Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình
Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm
Trang 7


phát sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho
người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả
các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp
chung vào trong tính toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương
mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với
một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng
từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất
khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước,
nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành .
Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay
khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc
gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn
hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và
đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài
khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có
mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh.
2.2.2. Cán cân vốn
Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của của một quốc

gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động
sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú
trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản
nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước
của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng
vốn vào ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản
vãng lai.
Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản
vốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính.
Tài khoản vốn và lãi suất:
Trang 8


Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất trong
nước r. Khi lãi suất tăng lên mức r’, tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi suất
hạ xuống mức r, tài khoản vốn trở nên thâm hụt. Vì vốn có quan hệ mật thiết với
lãi suất. Vì thế, cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với lãi suất.
Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế
dòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản
vốn, nhờ đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán
cân vốn sẽ bị xấu đi.
Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và,
khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện.
Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:
Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá
hối đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng
lên. Hậu quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất
giá (tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện.
2.2.3. Cán cân cơ bản
Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thu

nhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sản giữa
người cư trú với người không cư trú. Chính vì vậy tình trạng của cán cân vãng
lai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt là lên tỉ giá
hối đoái của nền kinh tế.
Trang 9


Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ bản. Tính
chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉ giá hối
đoái. Chính vì vậy cán cân cơ bản được các nhà phân tích và hoạch định chính
sách kinh tế quan tâm.
Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn
Những hạng mục hay thay đổi như vốn ngắn hạn và thay đổi dự trữ ngoại
2.2.4. Cán cân tổng thể (overall balance)
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và sai
sót bằng không ) thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai và cán cân
vốn. Trong thực tế do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trình
thu nhập số liệu và lập CCTTQT do đó thường phát sinh những nhầm lẫn và sai
sót. Do đó cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai
và cán cân vốn và hạng mục sai sót trong thống kê. Ta có :
Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai +cán cân vốn + nhầm lẫn và sai sót
2.2.5. Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)
Cán cân bù đắp chính thức (OFB) bao gồm các hạng mục :
- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR)
- Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L)
- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiền của
quốc gia lập (≠)
OFB = ΔR + L + ≠
Một thực tế rằng, khi dự trữ ngoại hối tăng thì chúng ta ghi nợ (-) và giảm
thì ghi có (+), do đó nhầm lẫn thường xảy ra ở đây. Điều này được giải thích

như sau :
Chúng ta hình dung, quốc gia Việt Nam được chia thành hai bộ phận gồm
NHTW và phần còn lại không bao gồm NHTW (gọi là nền kinh tế - NKT). Tiêu
chí để phân thành NHTW và NKT là: NHTW có chức năng can thiệp lên cung
cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, còn nền kinh tế thì không có chức năng
can thiệp. Theo quy tắc CCTTQT được lập trên cơ sở của nền kinh tế, do đó, các
hoạt động can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm
Trang 10


tác động lên nền kinh tế, được xem là quan hệ giữa người cư trú với người
không cư trú. Khi NHTW can thiệp bán ngoại tệ ra, làm cho dự trữ ngoại hối
giảm, đồng thời làm tăng cung nội tệ cho nền kinh tế, do đó ta phải ghi có(+) .
Khi NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào làm cho dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời
làm tăng cầu ngoại tệ đối với NKT , do đó ta phả ghi nợ (-)
2.2.6. Nhầm lẫn và sai sót
OB + OFB = 0
→OB = - OFB
→CA+K+OM= - OFB
→OM =-(CA+K+OFB)
Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót
chính là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và
cán cân vốn. Bởi vì cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn
luôn được xác định (luôn thể hiện là một số cụ thể trên CCTTQT ), do đó đẳng
thức trên được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập CCTTQT trong thực tế.
3. Thặng dư và thâm hụt CCTTQT
CCTT được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán
ghi có luôn bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này
có nghĩa là, về tổng thể thì CCTTQT luôn được cân bằng. Do đó nói đến thặng
dư, thâm hụt CCTTQT là nói đến thặng dư thâm hụt của một hoặc của một

nhóm các cán cân bộ phận chứ không nói đến toàn bộ cán cân.
Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của CCTTQT được xác định
theo hai phương pháp:
+ Phương pháp xác định thặng dư thâm hụt của từng cán cân bộ phận.
+ Phương pháp tích lũy.
3.1. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại
TB=X-M
Như vậy cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị
nhập khẩu về hàng hóa
Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết:
Trang 11


- Thu từ người không cư trú > chi cho người không cư trú
- Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ
Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú < chi cho người không cư trứ
- Cung ngoại tệ < cầu ngoại tệ
Việc phân tích diễn biến cán cân thương mại có vai trò to lớn trong nền
kinh tế, bởi vì: Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãng lai,
Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng của
cán cân vãng lai. Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động của
cán cân vãng lai. Điều này xảy ra là vì, cơ quan hải quan thường cung cấp kịp
thời các số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa, trong khi đố việc thu thập các số
liệu về dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai thường diễn ra chậm hơn, tức
là có một độ lệch về thời gian nhất định.
Do tầm quan trọng của cán cân thương mại, cho nên hầu hết các nước
phát triển thường công bố tình trạng cán cân này hàng tháng.
Để cân bằng cán cân thương mại, các biện pháp chủ yếu thường được áp
dụng sẽ tác động vào lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua các hình thức

thuế quan, quotas, v.v… và tác động vào tâm lý tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu
của công chúng.
3.2 Thặng dư và thâm hụt cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai bao gồm cán cân “Hữu hình” và “Vô hình’, nên nhìn
tổng thể thì nó quan trọng hơn cán cân thương mại.
Công thức xác định:
CA = TB + Se + Ic + Tr = Kl + Ks+ R
- Cán cân vãng lai thặng dư khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) > 0
Cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa thu từ người không cư trú
lớn hơn so với chi cho người không cư trú. Điều này có nghĩa là giá trị ròng của
các giấy tờ có giá do người không cư phát hành nằm trong tay người cư trú tăng
lên, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ.
- Cán cân vãng lai thâm hụt khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) < 0
Trang 12


Cán cân vãng lai thâm hụt ( CA < 0) có nghĩa là thu nhập của người cư trú
từ người không cư trú là thấp hơn so với chi cho người không cư trú. Điều này
có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú phát hành
nằm trong tay người cư trú giảm xuống. cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ.
- Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lý
tưởng để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia. Lý do có thể được giả
thích như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp với trạng thái
tổng nợ nước ngoài của một quốc gia. Cán cân vãng lai cân bằng nói lên rằng
tổng nợ nước ngoài của quốc gia là không đổi (quốc gia không là chủ nợ và
cũng không là con nợ). Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tài sản có ròng của
quốc gia đối với phần thế giới còn lại được tăng lên (vị thế quốc gia là chủ nợ ).
Ngược lại cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của quốc gia đối
với nước ngoài tăng lên (vị thế quốc gia là con nợ).
CA = 0, trong dài hạn

Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:
( X- M + Se + Ic + Tr ) = 0
Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó
chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức: R= 0
- Kl + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra
+ TH1: Kl < 0 và Ks > 0. nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực thanh toán
của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng áp suất và giảm giá
nội tệ
+ TH2: Kl > 0 và Ks < 0. nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định hơn để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất va thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế quốc gia.
CA = 0 trong ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các khoản đầu tư dài hạn coi như không đổi, nghĩa là
Kl=0, Ks + R = 0 có 2 khả năng xảy ra:
Trang 13


+ TH1: R > 0 và Ks < 0. Dây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy ra
được bù đắp bởi sự giảm sút của dự trữ ngoại hối quốc gia. Trong thực tế tình
huống này có thể xảy ra trong ngắn hạn, khi NHTW nỗ lực cân đối các luồng
vốn ngắn hạn có tính đầu cơ chảy ra nước ngoài bằng cách can thiệp bán dự trữ
trên thị trường noại hối nhằm bảo vệ tỷ giá, tức ngăn ngừa nội tệ giảm giá. Do
vậy cho dù trang thái cán cân vãng lai là cân bằng, nhưng vẫn tồn tại áp lực
giảm giá nội tệ hoặc phải tăng lãi suất nội tệ, nếu NHTW không tiếp tục can
thiệp bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
+ TH2: R < 0 và Ks > 0. Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy vào
làm tăng ngoại hối dự trữ quốc gia. Trong thực tế, tình huống này có thêr xảy ra,
khi NHTW tăng mức lãi suất của nội tệ để ngăn ngừa các luồng vốn ngắn hạn

chạy ra và thu hút thêm các luồng vốn ngắn hạn chạy vào nhằm bảo vệ cho tỷ
giá không tiếp tục tăng nữa ( tức ngăn không cho nội tệ tiếp tục giảm giá).
Phân tích cán cân vãng lai có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế
vĩ mô vì tình trạng của cán cân này tác động trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng
trưởng kinh tế, lạm phát và cuối cùng tác động đến cán cân tổng thể. Để tác
động đến tình trạng của cán cân vãng lai, cần phải có thêm các giải pháp tổng
thể về tài khoá và tiền tệ hơn là chỉ các giải pháp về chính sách thương mại quốc
tế và tác động vào tâm lý tiêu dùng.
3.3.Thặng dư và thâm hụt cán cân cơ bản (BB)
BB = CA + Kl
Khi CA < 0 nhưng (CA + KI )> 0 thì quốc gia không hề chịu rủi ro thanh
toán. Chính vì thế mà nhiều nhà kinh tế cho rằng, cán cân cơ bản phản ánh tổng
quát hơn về trạng thái nợ nước ngoài của một quốc gia so với cán cân vãng lai.
Điều này xảy ra là vì; vốn dài hạn có đặc trưng của sự phân phối lại thu nhập
tương đối ổn định trong một thời gian dài giữa một quốc gia và thế giới.
- Thông thường người ta cho rằng một sự xấu đi của cán cân cơ bản là tín
hiệu xấu của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải như vậy,
nghĩa là cho dù cán cân cơ bản bị thâm hụt nhưng đây chưa hẳn đã là điều xấu.
Ví dụ, một quốc gia có thể đang bị thâm hụt cán cân vãng lai & đồng thời có
Trang 14


các luồng vốn dài hạn chảy ra, điều này khiến cho cán cân cơ bản trở lên thâm
hụt nặng; nhưng các luồng vốn chảy ra sẽ hứa hện những thu nhập như lãi suất,
cổ tức hay lợi nhuận trong tương lai; những thu nhập mày sẽ góp phần cải thiện
thâm hụt hay tạo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai. Ngược lại thặng dư
cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà luồng vốn ròng dài hạn chảy
vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán cân cơ bản trở lên thặng dư.
+ Tình trạng cán cân cơ bản có tác động một cách không rõ ràng đến nền
kinh tế tuỳ theo cách tiếp cận.

+ Đối với các nước đang phát triển, vốn là yếu tố cần thiết để thực hiện
công nghiệp và hiện đại hoá, thặng dư cán cân cơ bản nhìn chung được coi là
dấu hiệu tích cực.
+ Các chính sách thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp là giải pháp
cơ bản cho vấn đề này.
Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà
luồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán
cân cơ bản trở lên thặng dư. Có hai cách để nhìn nhận vấn đề thặng dư của cán
cân cơ bản như sau:
- Cách thứ nhất cho rằng, do được phía nước ngoài tin tưởng nên quốc gia
có khả năng nhập khẩu được nhiều vốn dài hạn, do đó không có vấn đề gì phải
lo lắng khi cán cân vãng lai bị thâm hụt.
- Cách thứ hai cho rằng, thặng dư cán cân cơ bản là một vấn đề phải xem
xét, bởi vì việc một quốc gia nhập khẩu vốn dài hạn sẽ phải thanh toán các
khoản lãi suất, cổ tức và lợi nhuận trong tương lai. Điều này có thể làm cho cán
cân vãng lai trở lên xấu đi trong tương lai.
3.4. Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể
Cán cân tổng thể phản ánh bức tranh các hoạt động của Ngân hàng Trung
ương trong việc tài trợ cho sự mất cân đối cuối cùng của nền kinh tế.
OB= X - M + Se + Ic +Tr + Kl + Ks
OB = - OFB
Cán cân tổng thể có ý nghĩa vì: (i) Nếu thặng dư nó cho biết số tiền có sẵn
Trang 15


để một quốc gia có thể sử dụng để tăng dự trữ ngoại hối; (ii) Nếu thâm hụt nó
cho biết số tiền một quốc gia phải hoàn trả bằng việc bán ngoại hối.
Khái niệm thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể chỉ thích hợp đối với
quốc gia áp dụng tỷ giá cố định mà không thích hợp đối với quốc gia áp dụng tỷ
giá thả nổi. Sở dĩ vậy là do, nếu áp dụng tỷ giá thả nổi thì tỷ giá hoàn toàn tự do

biến động và như thế thì cán cân tổng thể luôn có xu hướng vận động về trạng
thái cân bằng , vì Ngân hàng trung ương không can thiệp mua vào hay bán ra
đồng tiền của mình, do đó dự trữ ngoại hối không thay đổi.
Trong tỷ giá thả nổi, nếu cầu về một đồng tiền lớn hơn cung của đồng tiền
đó thì tỷ giá của nó sẽ tăng và ngược lại , do đó thông qua cơ chế biến đổi tỷ giá
mà cán cân tổng thể sẽ luôn có xu hướng chuyển về vị trí cân bằng.
Tuy nhiên, cán cân tổng thể là rất quan trọng đối với tỷ giá cố định vì nó
cho biết áp lực dãn đến phải phá giá hay nâng giá đồng tiền như thế nào. Trong
hệ thống tỷ giá cố định một quốc gia có thâm hụt cán cân tổng thể phải chịu áp
lực cung nội tệ lớn hơn cầu, do đó để tránh phá giá, Ngân hàng trung ương phải
tiến hành bán dự trữ
+ Tình trạng của cán cân tổng thể là rất quan trọng và tác động trực tiếp
đến nền kinh tế và sự vận hành các chính sách vĩ mô, đặc biệt khi cán cân tổng
thể ở tình trạng thâm hụt
+ Các giải pháp cân bằng đối với cán cân tổng thể khi ở tình trạng thặng
dư không những không khó mà luôn mang lại những hiệu ứng tích cực, kể cả
trong ngắn hạn và dài hạn
+ Ngược lại, các biện pháp cân bằng khi ở tình trạng thâm hụt không
những khó khăn hơn mà tác động mặt trái thường rất nặng nề, thậm chí có thể
mang lại những hậu quả trong dài hạn
+ Cân bằng cán cân tổng thể cần lựa chọn và thực hiện các giải pháp một
cách hết sức thận trọng.

Trang 16


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CCTTQT & CÁC CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI
VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NỀN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
Trong phạm vi nghiên cứu, em chỉ xin đề cập tới thực trạng của cán cân

thanh toán quốc tế của Việt Nam từ năm 2010 trở lại đây, giai đoạn mà Việt
Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Sau đây là thực trạng của
cán cân vãng lai và cán cân vốn, hai thành phần chủ chốt trong cán cân thanh
toán của Việt Nam, để có thể thấy rõ hơn những biến động cũng như nguyên
nhân của những biến động đó đối với cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
trong thời gian qua.
Cán cân thanh toán 2010-2013
(Đơn vị tính: tỷ USD_Nguồn: SBV, IMF, WB)
Khoản mục

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

I. Cán cân vãng lai

-4.2

-3.0

8.7

- Cán cân thương mại

-7.1

-6.0


9.9

- Cán cân thu nhập và dịch vụ
- Chuyển giao
II. Cán cân vốn
- FDI ròng

-5.8
8.7
5.6
7.1

-6.0
9.0
8.6
10

-9.4
8.2
8.0
7.2

- Đầu tư gián tiếp
- Nợ ngắn hạn
- Vốn vay trung và dài hạn
- Đầu tư khác
III. Lỗi và sai sót

2.4
2.8

1.0
-7.7
-3

1.0
0.5
2.6
-5.5
-4

2.0
1.3
3.5
-6.0
-4.7

IV. Cán cân tổng thể

-1.6

1.6

12

1. Cán cân thương mại
1.1.Cán cân vãng lai
Cán cân thương mại năm 2010
Biểu đồ cán cân thương mại Việt Nam năm 2009-2014
Đơn vị: triệu USD
Trang 17



Nguồn GSO
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2010 có dấu hiệu khởi
sắc hơn so với năm 2009. Tính chung cả năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu
đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009 trong khi tổng kim ngạch nhập
khẩu đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, cán cân
thương mại năm 2010 mặc dù vẫn thâm hụt khá cao, khoảng 12,4 tỷ USD nhưng
thấp hơn so với mức nhập siêu 12,85 tỷ USD của năm 2009 và chỉ bằng 16,9%
tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010.
Về cơ cấu xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu dầu thô sụt giảm khá mạnh
trong khi kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô lại có mức tăng
trưởng ấn tượng. Lý do của việc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu dầu thô là do khả
năng khai thác chưa cao và nhu cầu sử dụng dầu thô cho nhà máy lọc dầu Dung
Quất tăng cao. Bên cạnh đó, giá dầu trên thế giới có xu hướng giảm cũng đã ảnh
hưởng đến khối lượng và giá trịdầu thô xuất khẩu. So với cùng kỳ năm 2009,
khối lượng dầu thô xuất khẩu giảm 40,3% làm cho giá trịxuất khẩu sụt giảm
20,2%. Nhưvậy, có thể thấy rằng, sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu năm
2010 chủ yếu dựa vào việc tăng xuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô với giá
trị lên tới 66,69 tỷ USD. Xét về kim ngạch nhập khẩu, một số nguyên liệu thô và
Trang 18


đầu vào trung gian cho các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu như bông, sợi dệt
và nguyên phụ liệu dệt may giày dép có tốc độ tăng khá cao, lần lượt là 69,2%,
43,5% và 36%. Tuy thị trường xuất khẩu năm 2010 không có gì khác biệt nhiều
so với năm 2009. Thị trường Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam, chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp theo là thị trường các
nước EU, ASEAN và Nhật Bản. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu sang các nước thị
trường mới nổi cũng đang được tăng cường đáng kể, bao gồm Châu Mỹ la tinh,

châu Phi, Trung Đông và Trung Quốc. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của
Việt Nam từ thị trường Trung Quốc cũng tăng lên khá cao, chiếm khoảng 24%
trong năm 2010, và Trung Quốc chính thức trở thành đối tác thương mại lớn
nhất của Việt Nam trong năm 2010, thay thế vị trí các nước ASEAN

Cán cân thương mại năm 2011:
Năm 2011, hoạt động xuất nhập khẩu có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với
năm 2010. Tính chung cả năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 96,3 tỷ USD,
tăng 33% so với năm cùng kỳ 2010 trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu đạt
105,8 tỷ USD, tăng 24,7%.
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản
chiếm 35,2% tỷ trọng, nhóm hàng công nghiệp nhẹ chiếm 40,6% còn nhóm hàng
nông, lâm, thủy sản chiếm 21,9%, và vàng tái xuất chiếm 2,3%. Trong cơ cấu
hàng nhập khẩu, nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 90,6%, nhóm hàng vật phẩm
tiêu dung chiếm 7,6%, và nhóm vàng tăng 1,8%. Theo đó, thâm hụt cán cân
Trang 19


thương mại năm 2011 là 9,5 tỷ USD, và bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất
khẩu. Mức nhập siêu này thấp hơn mức mục tiêu 16% mà chính phủ đã đề ra,
đồng thời là mức thấp nhất trong vòng 5 năm và là năm có tỷ lệ nhập siêu thấp
nhất so với kim ngạch xuất khẩu kể từ năm 2002.

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2011

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2011

Cán cân thương mại năm 2012:
Về xuất khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 114,6 tỷ
USD, tăng 18,3% so với năm 2011. Khu vực kinh tế trong nước đạt 42,3 tỷ

USD, tăng 1,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 72,3 tỷ
USD, tăng 31,2%. Kim ngạch xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu nhờ vào các
mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện, hàng dệt may, giày dép…

Trang 20


Về nhập khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch trong năm 2012 đạt 114,3 tỷ
USD, tăng 7% so với năm trước.

Trang 21


Về cơ cấu, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay cũng có sự thay đổi
so với năm 2011. Nhóm tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng cao nhất với 93,2%, tăng
so với mức 90,6% của năm 2011. Nhóm hàng tiêu dùng chiếm 6,8%, giảm so với
mức 7,6% của năm 2011 cũng cho thấy cầu tiêu thụ trong nước sụt giảm.
Đặc thù của nền kinh tế Việt Nam gia công nhiều, do vậy tốc độ tăng
trưởng của nhập khẩu thường sẽ đi đôi với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Như
vậy, năm 2012 là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu (284 triệu USD) sau gần 20
năm liên tục nhập siêu. Trạng thái xuất siêu trong năm vừa qua là một tín hiệu
đáng mừng, giúp giảm áp lực cho cán cân thanh toán, góp phần kiềm chế lạm
phát. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, xuất siêu trong năm vừa qua chủ yếu đến
từ khu vực đầu tư nước ngoài trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu
gần 12 tỷ USD. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện
tượng xuất siêu là do suy giảm của sản xuất và tiêu dùng trong nước nên nhập
khẩu nguyên vật liệu, thiết bị tăng thấp chứ không hẳn do xuất khẩu đă tăng bền vững.
Cán cân thương mại năm 2013:
Về xuất khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 132,13
tỷ USD, tăng 15,3% so với năm 2012 bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt

43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt
88,4 tỷ USD, tăng 22,4%. Kim ngạch xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu nhờ
vào các mặt hàng như: Điện tử, điện thoại, máy tính và linh kiện, hàng dệt
may, giày dép…
Trang 22


Về kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2013 đạt 131,3 tỷ USD, tăng
15,4% so với năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 56,8 tỷ USD,
tăng 5,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 74,5 tỷ USD, tăng 24,2%. Nếu
loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2013 tăng 18,3% so với
năm 2012. Như vậy năm 2013, cán cân thương mại nước ta một lần nữa đạt giá
trị thặng dư là: 132,13-131,3 =0,83 tỷ USD. Năm 2014, cán cân thương mại
hàng hóa cả nước thặng dư 2,14 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và là
năm thứ 3 liên tiếp.
1.2. Cán cân thu nhập và dịch vụ
Phần thu từ đầu tư của Việt Nam chủ yếu là tiền lãi của các khoản tiền gửi
của người cư trú Việt Nam ở các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên những khoản
tiền lãi đó rất nhỏ, thậm chí còn giảm đi vì ta rút ngoại tệ về cho vay trong nước.
Ngược lại, những khoản phải thanh toán ngày càng tăng lên do phải trả lãi cho
các khoản nợ nước ngoài. Những khoản nợ này khá lớn, hàng năm Việt Nam
phải trả lãi khoảng mấy trăm triệu USD. Thêm vào đó những khoản chuyển lợi
nhuận đầu tư cũng tăng lên do các dự án FDI được thực hiện dần. Tuy các khoản
lãi tiền gửi có tăng lên nhưng các khoản chuyển lợi nhuận và trả lãi nợ nước
ngoài tăng mạnh dẫn đến thu nhập đầu tư ngày càng bị thâm hụt.
Quy mô xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam nói chung còn rất nhỏ. Xét trên khía
cạnh về tỷ trọng của xuất khấu dịch vụ trong tổng kim ngạch của xuất khẩu nói
chung (bao gồm cả hàng hóa dịch vụ) thì tỷ trọng của xuất khẩu dịch vụ vừa nhỏ lại
vừa có xu hướng giảm đi, nguyên nhân chính là do sức cạnh tranh của ngành dịch vụ
nước ta trên thị trường thế giới còn chưa cao, tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu

dịch vụ luôn thấp, còn thấp hơn tốc độ tăng của xuất khấu hàng hóa.
Mặt khác, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ còn một số điểm bất hợp lí và chuyển
dịch chậm. Dịch vụ du lịch (xuất khẩu tại chỗ) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất
(55,2% tống kim ngạch xuất khấu dịch vụ) nhưng tốc độ tăng còn thấp và "mật
độ" khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực,
ở Châu Á và trên thế giới.

Trang 23


Ngoài du lịch, một số dịch vụ khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, như dịch vụ
bảo hiểm, chỉ chiếm 1,1%, dịch vụ bưu chính viễn thông chiếm tỷ trọng 1,7%,
dịch vụ tài chính chỉ chiếm 5,5%. Về mặt tổng thể, cán cân dịch vụ của nước ta
hầu hết đều thâm hụt qua các năm.
Như vậy, Tổng cán cân thu nhập và dịch vụ liên tục thâm hụt và từ bảng
số liệu trên ta thấy thâm hụt tăng dần, từ mức 5,9 tỷ USD năm 2008 lên mức
5,8% năm 2010 và thâm hụt nặng khoảng 9,428 tỷ USD vào năm 2012.
1.3. Cán cân chuyển giao
Trong cán cân chuyến giao vãng lai của Việt Nam thì bộ phận chiếm tỷ
trọng chủ yếu là chuyển giao tư nhân, còn bộ phận chuyển giao chính phủ chiếm
tỷ trọng không đáng kể và thường xu hướng ổn định. Chuyển giao tư nhân của
Việt Nam chủ yếu là chuyển tiền của người Việt Nam sống ở nước ngoài (kiều hối).
Từ bảng số liệu ta thấy cán cân chuyển giao giai đoạn này luôn có thặng
dư, cũng góp phần đáng kể cải thiện tình trạng thâm hụt của cán cân vãng lai.
Năm 2008, cán cân chuyển giao là 8,1 tỷ USD. Đến năm 2009, tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế sẽ khiến cho đại bộ phận thu
nhập của người lao động trên thế giới giảm xuống, cuộc sống trở nên khó khăn
hơn, trong đó có bộ phận người Việt Nam sống ở nước ngoài, do đó khiến cho
dòng kiều hối chảy về Việt Nam trong những năm gần đây giảm sút, chỉ bằng
80,25% của năm 2008. Năm 2011, cán cân chuyển giao đạt cao nhất trong giai

đoạn 2008-2012 với mức 9,0 tỷ USD, nguyên nhân là do nền kinh tế đang dần
được phục hồi, những việt kiều thất nghiệp do khủng hoảng đã có thể tìm được
các công việc mới dẫn đến dòng kiều hối tăng. Năm 2012, cán cân chuyển giao
ở mức 8,246 tỷ USD, giảm nhẹ so với năm 2011. Qua các năm, ta thấy cán cân
chuyển giao nhìn chung là ổn định, có một số biến động qua các năm do ảnh
hưởng của tình hình kinh tế thế giới và trong nước song không đáng kể.
2. Cán cân vốn và tài chính
2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cán cân vốn

2009
6,7
Trang 24

(Đvt: tỷ USD)
2010
5,6

2011
8,6

2012
7,901


FDI ròng
FII
Nợ ngắn hạn
Vốn vay trung dài hạn
Đầu tư khác

Năm 2010:

6,9
0,2
4,4
-4,8

7,1
2,4
2,8
1,0
-7,7

10
1,0
0,5
2,6
-5,5

7,168
1,999
1,294
3,483
-6,043

Mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi khả
quan, nhưng dòng vốn ngoại tệ đổ vào Việt Nam vẫn chưa có nhiều chuyển biến
tích cực. Thu hút trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến cuối tháng 12 đạt
18,595 tỷ USD, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2009, và chỉ bằng 26% so với
cùng kỳ năm 2008.

Trong số này, vốn đăng ký của 969 dự án được cấp phép mới đạt 17,9 tỷ
USD (giảm về vốn và giảm về số dự án) còn vốn đăng ký bổ sung của 269 dự án
được cấp giấy phép từ các năm trước chỉ tăng thêm được 1,3 tỷ USD.
Về tổng thể, số lượng các dự án FDI khiêm tốn hơn, trong đó, cấp mới chỉ
có 1.155 dự án, bằng 83,9% và xin bổ sung vốn, chỉ có 351 lượt dự án, bằng
76,6% so với năm 2009.
Tuy nhiên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được trong năm đạt
khoảng 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009 và cao hơn khoảng 0,7
tỷ USD so với năm 2008. Nguyên nhân giảm sút của đầu tư nước ngoài có thể là
do môi trường kinh tế thế giới chưa thực sự thuận lợi, tuy nhiên, nhiều yếu tố
liên quan đến nguồn lực (như thiếu lao động có kỹ năng, thiếu điện, hạ tầng giao
thông yếu kém) và chính sách vĩ mô chưa nhất quán, rõ ràng và thiếu khả năng
dự báo cũng đang là những yếu tố
tác động đến tâm lý các nhà đầu tư
nước ngoài. Tuy nhiên, so với một
số nước trong khu vực, Việt Nam
vẫn đang được đánh giá là “địa
điểm đáng chú ý của nhà đầu tư
quốc tế” (World Bank,2010).
Năm 2011:
Trang 25


×