Tải bản đầy đủ (.docx) (91 trang)

Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất tại công ty đóng tàu damen sông cấm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.17 MB, 91 trang )

Mục lục

1


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần luôn quan tâm

tới việc trang bị cho mình một cơ sở vật chất bền chắc, đồng thời luôn không
ngừng cập nhật sự phát triển công nghệ của các máy móc, trang thiết bị giúp nâng
cao hiệu suất công việc.
Với sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường hiện nay, khi mà nhu cầu
đòi hỏi của khách hàng ngày càng khắt khe, thời gian bàn giao sản phẩm gắt gao đi
kèm với chất lượng ưu việt và giá thành hợp lý, thì song song với chất lượng
nguồn nhân lực, các doanh nghiệp cũng hiểu rằng cơ sở vật chất cùng các trang
thiết bị máy móc đang và sẽ là yếu tố quyết định tới sự thành công và phát triển
của mình.
Vì lí do trên, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn tìm tòi các phương cách
nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các trang thiết bị máy móc và cơ sở vật chất
của mình nhằm tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có nhằm đạt hiệu quả và lợi nhuận
cao nhất. Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm, một doanh nghiệp non trẻ,
liên doanh giữa Công ty cổ phần Đóng tàu Sông Cấm và Tập đoàn Damen Hà Lan
cũng không nằm ngoài quy luật phát triển đó. Với quy mô lớn và lực lượng máy
móc trang thiết bị cơ sở vật chất hiện đại, các cấp quản lý tại Damen - Sông Cấm
luôn ý thức hoàn thiện dần bộ máy quản lý và nhân sự nòng cốt của mình để đảm
bảo hiệu quả công việc ở mức cao nhất.
Qua thời gian làm việc tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm
dưới chức vụ nhân viên phòng bảo dưỡng và quản lý cơ sở vật chất, nhận thấy vai


trò quan trọng của máy móc, thiết bị và cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng và hiệu quả của công việc, đồng thời với mong muốn hoàn thiện mình để trở
thành nhà quản lý trong tương lai, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số
biện pháp hoàn thiện công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất tại
Công ty Đóng tàu Damen - Sông Cấm”làm luận văn tốt nghiệp.

2


2.

Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài hướng đến bao gồm:

-

Hệ thống hóa lý thuyết về công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất và các
tiêu chí để đánh giá công tác này tại doanh nghiệp.

-

Đánh giá sự ảnh hưởng của công tác này tới quá trình và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp đóng tàu nói riêng.

-

Đánh giá, phân tích thực trạng công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất
trong những năm gần đây tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm.

-


Những thành công, hạn chế còn tồn tại của công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và
cơ sở vật chất, từ đó xây dựng biện pháp góp phần hoàn thiện công tác này tại Công
ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm.

-

3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



Đối tượng nghiên cứu:

Các tiêu chí đánh giá định tính, định lượng của công tác quản lý, bảo dưỡng thiết
bị và cơ sở vật chất.

-

Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất.


-

Phạm vi nghiên cứu:

Lực lượng thiết bị và cơ sở vật chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông
Cấm.


-

Phân tích các dữ liệu được thống kê trong khoảng 05 năm gần đây.
4.



Phương pháp nghiên cứu

Phương phápnghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu vai trò và ảnh hưởng của trang thiết
bị và cơ sở vật chất trong môi trường doanh nghiệp sản xuất hiện nay tới hoạt động
và phát triểncủa doanh nghiệp từ các tư liệu kinh tế học liên quan.



Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát tình hình thực tế, trao đổi kinh nghiệm
với đồng nghiệp, tổng kết kinh nghiệm…



Phương pháp định lượng: sử dụng các dữ liệu được thống kê, áp dụng tính toán các
tiêu chí định lượng để chỉ ra năng lực sử dụng trang thiết bị và cờ sở vật chất tại
doanh nghiệp.
3


5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài hướng đến một nội dung cụ thể trong tổng quan các phương


pháp quản lý và tổ chức hoạt động của một doanh nghiệp lớn, qua đó nhằm đánh
giá một cách khách quan công tác quản lý bảo dưỡng cơ sở vật chất của doanh
nghiệp. Bên cạnh việc nêu ra các thành công, tác giả hi vọng các biện pháp nhằm
cải thiện công tác này tại doanh nghiệp sẽ được ban lãnh đạo doanh nghiệp xem
xét và cân nhắc tính khả thi.
6.

Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận chung, luận văn được chia làm 3 chương:

-

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thiết bị, cơ sở vật chất và công tác quản
lý bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất của doanh nghiệp đóng tàu.

-

Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật
chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm.

-

Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ
sở vật chất tại Công ty Đóng tàu Damen - Sông Cấm.

4


CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THIẾT BỊ, CƠ SỞ

VẬT CHẤT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO DƯỠNG THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ
VẬT CHẤT CỦA DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU
1.1 Doanh nghiệp đóng tàu và phân
1.1.1
Doanh nghiệp đóng tàu

loại doanh nghiệp đóng tàu

Đóng tàu là một trong những lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, sản phẩm
của đóng tàu khá đa dạng, từ những chiếc xuồng con và đầu kéo đơn giản đến
những chiếc tàu chuyên dụng lớn chạy trên các tuyến sông, biển khác nhau. Doanh
nghiệp đóng tàu, tại Việt Nam nói chung và trên thế giới nói riêng, là một nhà máy
tổ hợp các lĩnh vực công nghiệp nặng thường có vị trí nằm tiếp giáp với khu nước
như bể cảng, vịnh, sông, có chức năng chính là đóng mới, sửa chữa, bảo dưỡng tầu
hoặc phương tiện thủy. Thực tế cho thấy , mỗi nhà máy đề có lịch sử hình thành và
phát triển dựa trên những điều kiện, quản điểm khác biệt và cho dù có cùng quy
mô nhiệm vụ và quy trình sản xuất thì sự bố trị phương tiện sản xuất và máy móc
trang thiết bị trên mặt bằng giữa các nhà máy vẫn hoàn toàn khác nhau.
Tại mỗi nhà máy đóng tầu, thông thường có hàng chục hạng mục công trình
to nhỏ khác nhau, hàng trăm thiết bị máy móc và hàng ngàn người tham gia trong
những bước sản xuất trên dây chuyền đặt khắp mặt bằng. Do vậy, việc quản lý tốt
thiết bị và cơ sở vật chất là một trong những điều kiện tiên quyết để đem lại hiệu
suất cao cho hoạt động vận hành và khai thác của nhà máy.
1.1.2
Phân loại doanh nghiệp đóng tàu
Các doanh nghiệp đóng tàu với đặc thù là sự đa dạng trong cơ cấu tổ chức,
quy trình sản xuất và sản phẩm, nên có nhiều cách phân loại khác nhau.
 Phân loại theo vật liệu đóng tàu, bao gồm:
- Nhà máy đóng tàu vỏ thép
- Nhà máy đóng tàu vỏ gỗ

- Nhà máy đóng tàu vỏ xi măng lưới thép
- Nhà máy đóng tàu vỏ hợp kim nhôm
- Nhà máy đóng tàu vỏ chất dẻo
 Phân loại theo vùng hoạt động của tàu, bao gồm:
- Nhà máy đóng tàu chạy biển (tàu viễn dương)
- Nhà máy đóng tàu chạy sông hồ (tàu nội địa)
- Nhà máy đóng tàu chạy hồ
 Phân loại theo phương pháp tổ chức sản xuất, bao gồm:

5


-

Nhà máy đóng tàu tổng hợp: Có chức năng thi công lắp ráp phần vỏ tàu và các
thiết bị trên tàu. Một số loại thiết bị được gia côngtại nhà máy, các thiết bị khác do
chủ tầu cấp hoặc được mua theo chỉ định từ chủ tàu. Các nhà máy đóng tàu ở Việt

-

Nam đa số vận hành theo phương thức sản xuất này.
Nhà máy đóng tàu liên hợp: Phải kết hợp các nhà máy khác để hoàn thành việc
đóng mới một con tàu. Tại một sốquốc gia có ngành công nghiệp đóng tàu phát
triển như Nhật Bản, Hàn Quốc đều áp dụng phương thức sản xuất này, thời gian thi
công và bàn giao sản phẩm được rút xuống đáng kể. Phương thức sản xuất này
cũng đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, sử dụng tối ưu các phần mềm mô phỏng sản

xuất và đóng tàu theo phương pháp sản xuất theo Module.
1.2 Thiết bị và cơ sở vật chất của doanh nghiệp đóng tàu
Thiết bị và cơ sở vật chất là yếu tố rất quan trọng trong các quá trình sản

xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nói chung và doanh
nghiệp đóng tàu nói riêng, có vai trò biến đổi các yếu tố đầu vào, tạo ra sản phẩm
theo yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các doanh
nghiệp sản xuất như doanh nghiệp đóng tàu, máy móc, thiết bị và cơ sở vật chất là
yếu tố sản xuất có giá trị rất lớn trong cơ cấu tổng tài sản của doanh nghiệp.
1.2.1


Khái niệm về thiết bị và cơ sở vật chất
Theo quan niệm chung
Máy móc là vật được chế tạo bao gồm nhiều bộ phận dùng để thực hiện

chính xác một hoặc một số công việc chuyên môn nào đó.
Thiết bị là tổng thể những máy móc, dụng cụ, phụ tùng cho một hoạt động
nào đó. Bộ phận quan trọng nhất về máy móc, thiết bị của doanh nghiệp là thiết bị
gia công bao gồm tất cả các máy công cụ dụng cụ thiết bị phụ trợ và các thiết bị
khác sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, xử lý, kiểm tra và bao gói chi tiết gia
công hay sản phẩm.
Cơ sở vật chất là toàn bộ các phương tiện, các hạng mục nhà xưởng và trang
thiết bị của doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp phản ánh
năng lực hiện có cũng như trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp,
6


đây là điều kiện quan trọng và cần thiết để tăng sản lượng, năng suất lao động đồng
thời giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.


Theo quan niệm dưới góc độ vốn

Máy móc, thiết bị và cơ sở vật chất là tài sản cố định, là cơ sở vật chất kỹ

thuật của mỗi doanh nghiệp. Đó chính là hình thái vật chất của vốn cố định, chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư
mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất là một khoản đầu tư ban đầu
lớn cho việc bắt đầu một quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, máy móc, thiết bị có giá
trị lớn và tham gia vào nhiều quá trình sản xuất nên giá trị của máy móc, thiết bị
chuyển rất chậm vào giá trị của sản phẩm qua công tác khấu hao, điều này có ảnh
hưởng lớn tới quá trình luân chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2

Vai trò của máy móc thiết bị và cơ sở vật chất
Khi nhận xét về vai trò của máy móc, thiết bị, Các Mác đã nhấn mạnh: “Hệ

thống máy móc là xương cốt và bắp thịt của sản xuất”[18]. Tuy thời đại của Các
Mác là cơ khí hóa, máy móc, thiết bị đóng vai trò quyết định nhưng xét trong mọi
thời đại, yếu tố này vẫn không thể thiế. Trang thiết bị ngày càng được hỗ trợ đắc
lực bởi các ngành khoa học mới, đặc biệt là sự hỗ trợ của ngành điện tử, số hoá,
tạo ra các máy móc, thiết bị hoạt động theo cơ chế tích hợp, tự động hoá rất cao.
Qua bản thân tìm hiểu, máy móc thiết bị và cơ sở vật chất có một số vai trò
cơ bản sau:


Sự xuất hiện trang thiết bị máy móc tạo tiền đề cho các phương thức sản xuất mới,
tiến thêm một bước dài trong sự phát triển của nhân loại khi đi từ công trường thủ
công lên thời đại cơ khí hoá trong sản xuất, sức lao động của con người được giải



phóng, tạo ra lượng của cải vật chất vô cùng to lớn.

Đứng trên giác độ doanh nghiệp, có thể thấy trang thiết bị máy mócđược xem là
một phần cơ bản của cơ sở vật chất, là điều kiện tối thiểu cho quá trình sản xuất



kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Máy móc, thiết bị góp phần quyết định tính chất, đặc điểm của quá trình sản xuất
và sản phẩm sản xuất ra của mỗi doanh nghiệp. Vai trò này ảnh hưởng trực tiếp

7


đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời là tác nhân


dẫn tới khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp trong tương lai.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần chấp
nhận yếu tố cạnh tranh. Để khẳng định ưu thế của mình trước các đối thủ, một yếu
tố quan trọng mà các doanh nghiệp cần luôn lưu ý là chất lượng sản phẩm. Trong
đó có thể thấy trang thiết bị máy móc chính là một trong các yếu tố quyết định nhất
tới chất lượng sản phẩm. Do đó chú trọng tới công tác quản lý, sử dụng máy móc,
thiết bị là cũng chính là yếu tố quan trọng để góp phần đảm bảo khả năng cạnh



tranh của doanh nghiệp trong thị trường đầy cạnh tranh như ngày nay.
Trang thiết bị máy móc còn có vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở
rộng của mỗi doanh nghiệp. Sau một thời gian hoạt động, máy móc, thiết bị được
khấu hao hết và tạo ra một khối lượng lợi nhuận nhất định đóng góp vào quỹ đầu
tư phát triển của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng cho việc đầu tư phát




triển quy mô sản xuất của mỗi doanh nghiệp trong tương lai.
Trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp như doanh nghiệp đóng tàu thì trang
thiết bị máy móc là nhân tố nòng cốt để tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy
quản lý trang thiết bị là khâu then chốt trong quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp.
1.2.3
Phân loại máy móc, thiết bị
Do máy móc, thiết bị có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, do đó công tác quản lý và sử dụng máy móc
thiết bị luôn cần được ưu tiên trong mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên để công tác này
đạt hiệu quả cao trước hết cần tiến hành phân loại máy móc, thiết bị.
-

Phân loại theo công dụng
Thiết bị vạn năng: là thiết bị có tính linh hoạt cao trong tính năng để gia công

-

nhiều loại sản phẩm, chi tiết khác nhau trên cùng một loại thiết bị.
Thiết bị chuyên dùng: được thiết kế để đảm nhiệm một hay một vài công việc nào



đó. Thiết bị này được dùng trong các công việc có tính chất đặc thù riêng và
thường có tính chất tự động hóa cao.
Việc phân loại theo công dụng dựa trên đặc điểm mỗi loại máy móc, thiết bị

có những tính năng tác dụng nhất định giúp công ty đưa ra các phương án quản lý
8


và sử dụng một cách hợp lý nhằm phát huy tối đa công suất trang thiết bị, đồng
thời có kế hoạch điều chuyển rõ ràng, tuân thủ đúng các quy trình vận hành máy,
góp phần kéo dài tuổi thọ máy móc, thiết bị và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn vốn
của doanh nghiệp.
-

Phân loại theo kết cấu và cách lắp đặt các đơn vị thiết bị
Dụng cụ cơ khí và thiết bị cố định: bao gồm tất cả các máy móc, thiết bị được lắp

-

đặt trên sàn hay trên bàn thợ: máy phay, máy tiện, máy bào…
Dụng cụ cơ khí và thiết bị di động: là những thiết bị không được lắp đặt cố định

-

như: máy mài, máy cưa cầm tay, máy khoan cầm tay…
Dụng cụ và thiết bị phụ trợ: là những thiết bị đảm bảo cho thiết bị sản xuất cơ bản



có thể vận hành, cho ra sản phẩm.
Việc phân loại theo kết cấu và cách lắp đặt các đơn vị thiết bị mang tính kỹ
thuật cao, do đó có tác dụng nâng cáo tính năng của trang thiết bị. Mỗi loại trang
thiết bị lại đòi hỏi cách thức vận hành khác nhau, nên người vận hành cần nắm rõ
các quy phạm, đặc điểm của từng loại máy móc, thiết bị, từ đó doanh nghiệp có thể

lên kế hoạch và mặt bằng bố trí cơ sở vật chất của mình một cách phù hợp.


Phân loại máy móc, thiết bị theo mức độ sử dụng
Cách phân loại này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý và

sử dụng máy móc thiết bị của các doanh nghiệp. Qua đó có thể đưa ra các phương
hướng sử dụng, kế hoạch sửa chữa, đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị trong thời
gian tới.
Việc phân loại này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1. Phân loại máy móc thiết bị theo mức độ sử dụng

9


Máy móc thiết bị hiện có

Máy móc thiết bị đang sử dụng

Máy móc thiết bị cần dựng

Máy móc thiết bị chưa sử dụng hoặc hư hỏng

Máy móc thiết bị chưa dựng

Chưa cần sử dụng, đã dựng

Máy móc thiết bị thực tế

Đã đủ yếu tố cơ bản


Chưa cần sử dụng, chưa dựng

Bảo dưỡng theo kế hoạch

Chưa đủ yếu tố cơ bản

Chờ thanh lý

Máy móc thiết bị dự phòng

Ngừng việc

Đại tu, sửa chữa

1.2.4
Hao mòn và khấu hao máy móc,
1.2.4.1 Hao mòn máy móc, thiết bị

thiết bị

Hao mòn máy móc, thiết bị là sự giảm dần về giá trị của máy móc, thiết bị
do sử dụng, do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên hoặc tiến bộ của khoa học kỹ
thuật. Đây là quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục đối với máy móc, thiết bị
ngay cả khi dụng và khi không sử dụng. Sự hao mòn này chỉ có thể hạn chế chứ
không thể loại bỏ.
Sự hao mòn của máy móc, thiết bị do hai yếu tố gây nên là yếu tố hữu hình
và yếu tố vô hình, từ đó dẫn tới hai loại hao mòn của máy móc, thiết bị là hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình.
10





Hao mòn hữu hình
Hao mòn hữu hình là hao mòn gắn liền với quá trình sử dụng và sự tác động

của yếu tố tự nhiên. Mức hao mòn này tỷ lệ thuận với cường độ và thời gian sử
dụng trang thiết bị, khiến trang thiết bị mất dần những thuộc tính kinh tế kỹ thuật
của chúng. Các Mác đã nhận xét sự hao mòn này là: “Sự hao mòn vật chất của
máy móc, thiết bị có hai loại: một loại hao mòn là do việc sử dụng máy móc, thiết
bị giống như đồng tiền bị hao mòn trong lưu thông. Một loại khác do sử dụng
giống như lưỡi gươm không bị han gỉ khi nằm trong bao gươm”[18].
Trong điều kiện bình thường, việc sử dụng máy móc, thiết bị gây ra hao mòn
hợp lý và được bù đắp bằng cách chuyển dần giá trị của nó vào giá trị của sản
phẩm mà nó tạo ra. Đó chính là việc khấu hao máy móc, thiết bị.
Hao mòn hữu hình chịu ảnh hưởng từ một số nhân tố phải kể đến như chất
lượng từ khâu chế tạo, chất lượng công tác lắp đặt, các nhân tố thuộc môi trường tự
nhiên của khu vực sản xuất. Sự tác động của những nhân tố này có thể giảm đi
đáng kể nếu doanh nghiệp thực hiện tốt công tác quản lý, bảo dưỡng, bảo quản
trang thiết bị, nhanh chóng đưa trang thiết bị vào quy trình sản xuất kinh doanh,
tuân thủ các nguyên tắc về an toàn kỹ thuật, về bảo quản và vận hành, khai thác
hợp lý, sử dụng tối đa công suất máy để giảm thời gian khấu hao thiết bị, tránh tình
trạng máy móc, thiết bị ngừng hoạt động, gặp trục trặc về mặt kỹ thuật hoặc các sự
cố hỏng hóc trước thời gian quy định.


Hao mòn vô hình
Hao mòn vô hình máy móc, thiết bị là “tổn thất một phần máy móc, thiết bị


không phụ thuộc vào việc chúng mất đi các thuộc tính kỹ thuật”[7]. Hao mòn
thường xảy ra dưới hai hình thức cơ bản:
Hình thức thứ nhất:biểu hiện ở giá trị máy móc, thiết bị bị mất đi do tăng
năng suất trong ngành sản xuất ra chúng. Hình thức này không dẫn đến cần thiết
phải thay thế các thiết bị đang hoạt động bằng thiết bị mới,bởi trình độ của thiết bị
mới và thiết bị đang hoạt động là như nhau. Tuy nhiên việc áp dụng rộng rãi máy
móc, thiết bị mới có giá thấp hơn và thị trường dẫn tới việc máy móc, thiết bị mua
sắm trước đó giờ kém hiệu quả hơn.
11


Hình thức thứ hai:với nền khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc như ngày
nay, các chủng loại, thế hệ máy móc thiết bị tiên tiến và hiện đại hơn lần lượt ra
đời, có tính năng sử dụng hơn hẳn các thiết bị cũ, lầm cho nó trở nên lỗi thời, lạc
hâu, sản phẩm kém tính cạnh tranh và dẫn đến việc các trang thiết bị lỗi thời cần
được thay thế. Đây chính là yếu tố làm cho hao mòn vô hình máy móc, thiết bị
tăng rất nhanh.
1.2.4.2

Khấu hao máy móc thiết bị
Khấu hao máy móc, thiết bị là việc xác định bộ phận giá trị máy móc, thiết

bị tương ứng với hao mòn được chuyển vào giá trị của sản phẩm được tính từ tiền
bán sản phẩm hay từ doanh thu bán hàng và được tích luỹ lại trong quỹ khấu hao
cơ bản. Mục đích của việc tính khấu hao trong doanh nghiệp là để tính toán chính
xác giá thành sản phẩm, bảo toàn vốn cố định của doanh nghiệp và kế hoạch hoá
công tác đầu tư và hoàn lại vốn đầu tư cho doanh nghiệp.
Thông qua khấu hao, một bộ phận vốn có thể tập hợp nhờ số tiền trích khấu
hao từ giá trị của sản phẩm hàng hoá thực hiện. Số tiền này được trích vào quỹ
khấu hao cơ bản của doanh nghiệp và được dùng khi cần để đầu tư cho việc cải

tiến, đổi mới trang thiết bị, máy móc. Quỹ khấu hao được sử dụng với hai mục
đích sau:
Mục đích thứ nhất: Doanh nghiệp sử dụng một phần trong quỹ vốn này khôi
phục một phần giá trị máy móc, thiết bị thông qua việc sửa chữa, hiện đại hoá máy
móc, thiết bị. Đây là công việc được tiến hành thường xuyên trên cơ sở sửa chữa
dự phòng của doanh nghiệp.
Mục đích thứ hai: Doanh nghiệp sử dụng một phần còn lại để mua sắm thiết
bị mới thay thế cho máy móc, thiết bị cũ không còn sử dụng được nữa. Đây không
phải là công việc thường xuyên mà nó được tiến hành theo kế hoạch đổi mới máy
móc, thiết bị của doanh nghiệp.
Tiền tính khấu hao là hình thái tiền tệ của giá trị máy móc, thiết bị đang hoạt
động được chuyển sang sản xuất và tính vào giá thành sản phẩm. Lượng tiền tính
khấu hao hàng năm phụ thuộc vào hai yếu tố:
12





Giá trị trung bình hàng năm của máy móc, thiết bị.
Tỷ lệ khấu hao máy móc, thiết bị. Tỷ lệ này cho biết giá trị của máy móc,

thiết bị được trích bù đắp trong bao nhiêu năm.
1.2.4.3 Các phương pháp tính khấu hao
Việc áp dụng một phương pháp tính khấu hao thích hợp cho máy móc, thiết
bị cũng hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng tới mức khấu hao được tính vào giá
thành sản phẩm. Mỗi phương pháp lại có những ưu, nhược điểm nhất định. Trong
giới hạn luận văn này, tác giả xin trình bày phương pháp tính khấu hao phổ biến
được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp là phương pháp tính khấu hao theo đường
thẳng (khấu hao tuyến tính, hay khấu hao đều).

Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao được tính ở mức
không đổi qua các năm. Tức là việc phân bổ gía trị của máy móc, thiết bị ngang
bằng nhau trong suốt thời gian sử dụng.
Công thức:
Trong đó:
Mk: mức khấu hao cơ bản cố định hàng năm
T: thời gian sử dụng định mức của máy móc, thiết bị
NG: Nguyên giá TSCĐ
Từ đây ta xác định được tỷ lệ khấu hao (Tk) như sau:



Ưu điểm: mức khấu hao được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn, làm cho



giá thành ổn định. Hơn nữa việc tính toán lại đơn giản, chính xác.
Hạn chế: do mức khấu hao là đều nhau nên thời gian thu hồi vốn chậm, máy móc

thiết bị khó tránh khỏi hao mòn vô hình.
1.3 Công tác quản lý bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất của doanh nghiệp đóng
tàu
1.3.1

Vai trò của công tác quản lý bảo dưỡng thiết vị và cơ sở vật chất của

doanh nghiệp đóng tàu
Trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật tại mỗi doanh nghiệp có vị trí hết
sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà đặc biệt
13



là đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nặng như công nghiệp đóng tàu.
Do đó công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng trang thiết bị và cơ sở vật chất có ý
nghĩa to lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó
được thể hiện qua những điểm cơ bản sau đây:


Công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị có ảnh hưởng trực tiếp
tới công tác sử dụng, kế hoạch hoá nguyên vật liệu, kế hoạch nhân lực, vốn…Đây
là yếu tố cơ bản nhất của quá trình sản xuất, trong đó máy móc, thiết bị là yếu tố
“phần cứng”, có vai trò then chốt trong việc chế tạo ra sản phẩm theo kế hoạch của



nhà sản xuất.
Công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị ảnh hưởng tới kế hoạch
quản lý giá thành của sản phẩm. Trong cơ cấu giá thành của sản phẩm, giá trị của
máy móc, thiết bị thường chiếm một tỷ trọng khá lớn. Do vậy quản lý và sử dụng
tốt máy móc thiết bị sẽ làm tăng năng suất của máy móc, thiết bị, giảm chi phí máy



trên mỗi sản phẩm, góp phần hạ giá thành sản phẩm.
Máy móc, thiết bị thường chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng cơ cấu giá
trị TSCĐ của doanh nghiệp, điều này cũng có nghĩa là máy móc, thiết bị chiếm tỷ
trọng rất lớn trong nguồn vốn cố định. Việc tăng cường công tác quản lý, bảo
dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sử




dụng nguồn vốn nói chung và vốn cố định nói riêng của doanh nghiệp.
Do máy móc, thiết bị có giá trị lớn lại ít có điều kiện trang bị mới, việc sửa chữa,
bảo dưỡng định kỳ rất quan trọng và cần thiết, nó đảm bảo quá trình sản xuất được
diễn ra một cách liên tục, đảm bảo chất lượng đầu ra, kéo dài tuổi thọ trang thiết bị.
Công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị chính là khâu đảm bảo
cho những công việc này được thực hiện tốt hơn, bao gồm việc theo dõi, tổ chức



bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ, sửa chữa đột xuất…
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, mức độ cạnh tranh gay gắt,
công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị còn có nhiệm vụ xác
định nhu cầu đổi mới, mua sắm trang thiết bị mới nhằm bắt kịp và vượt trước sự
tiến bộ của ngành. Nhiệm vụ của công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc
thiết bị ở khía cạnh này phải xác định được tốc độ phát triển của công nghệ mới,
xác định chính xác thời gian hoạt động của máy móc, thiết bị hiện tại, tính và trích
14


quỹ khấu hao đầy đủ, chính xác, rút ngắn thời gian hoạt động của máy, giảm thiểu
hao mòn vô hình, nhanh chóng đưa tiến bộ khoa học kỹ thụât mới vào sản xuất.
Tóm lại, vai trò, nhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý, bảo dưỡng và sử
dụng máy móc thiết bị là nhằm phát huy, tận dụng tối đa công suất máy, góp phần
sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn của doanh nghiệp, tạo điều kiện tích luỹ, bảo toàn
và phát triển nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.3.2

Nội dung của công tác quản lý bảo dưỡng thiết vị và cơ sở vật chất của


doanh nghiệp đóng tàu
1.3.2.1 Nội dung về công tác tổ chức bố trí máy móc, thiết bị
Công tác tổ chức bố trí máy móc, thiết bị nhằm tạo ra sự kết hợp chặt chẽ
giữa sức lao động và tư liệu lao động cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh, quy mô và công nghệ sản xuất.
Do đặc điểm sản xuất là doanh nghiệp công nghiệp đóng tàu, hoạt động trên
phạm vi rộng, phối hợp nhiều ngành nghề công nghiệp với chuyên môn khá đa
dạng, một số máy móc, thiết bị lại hoạt động trong điều kiện ngoài trời, nên công
tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị là hết sức phức tạp và khó khăn.
Máy móc, thiết bị phải được lập hồ sơ chi tiết ngay từ khi mua về, phải được
cập nhật hàng ngày về tình trạng kỹ thuật hoạt động. Máy móc thiết bị có sự bàn
giao chặt chẽ về số và chất lượng cho bộ phận sản xuất thông qua biên bản bàn
giao thiết bị. Trong công tác này, điều quan trọng nữa là cần xác định các yêu cầu
về trình độ kỹ thuật, năng lực của người vận hành máy móc, thiết bị.
1.3.2.2 Nội

dung về công tác sử dụng máy móc, thiết bị

Trong công tác sử dụng máy móc, thiết bị lại bao gồm những nội dung như:
kế hoạch hoá công tác điều động và các định mức sử dụng máy móc, thiết bị; giám
sát việc tuân thủ các quy trình, quy phạm, các quy định về an toàn lao động trong
vận hành, sử dụng và sửa chữa máy móc, thiết bị; kế hoạch hoá nhu cầu về đào tạo
đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp vận hành máy móc, thiết bị và thực hiện đầy đủ
các quy định về quản lý và sử dụng máy móc thiết bị; quy định các chế độ trách
nhiệm đối với các xí nghiệp, các tổ, đội và thợ máy về các hỏng hóc và cách thức
xử lý các sai phạm, thiệt hại theo quy định hiện hành…
15


1.3.2.3 Nội


dung về công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị

Nội dung của công tác này bao gồm việc theo dõi, kiểm tra, xác định trạng
thái hoạt động của máy móc, thiết bị nhằm lập kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa máy
móc, thiết bị định kỳ và đột xuất.
Do ít có điều kiện đổi mới máy móc, thiết bị thường xuyên nên công tác bảo
dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị là hết sức cần thiết nhằm duy trì trạng thái sản
xuất ổn định, lâu dài của máy móc, thiết bị, đảm bảo quá trình sản xuất được diễn
ra thường xuyên, liên tục, đảm bảo về cả số và chất lượng của sản phẩm đầu ra.
1.3.2.4 Nội

dung về công tác khấu hao máy móc, thiết bị

Công tác khấu hao máy móc, thiết bị phải xác định được số năm định mức
phục vụ của máy móc, thiết bị, qua đó xác định chính xác mức khấu hao hàng năm
nhằm đảm trích đủ nguyên giá ban đầu của máy móc, thiết bị. Đây là công tác hết
sức quan trọng, nó đảm bảo bảo toàn và phát triển nguồn vốn của doanh nghiệp,
tránh tình trạng ăn vào vốn như nhiều doanh nghiệp mắc phải. Công tác nàymột
mặt phải đảm bảo hạ giá thành sản phẩm mặt khác lại phải đảm bảo khấu hao máy
móc, thiết bị một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất nguyên giá máy móc, thiết bị.
1.3.2.5 Nội

dung về công tác đầu tư và đổi mới máy móc, thiết bị

Kế hoạch đầu tư mua sắm thiết bị mới của doanh nghiệp gắn liền với việc
chi dùng vốn, kế hoạch về thị trường cũng như mục tiêu lợi nhuận lâu dài của
doanh nghiệp. Năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, giá gia công giảm là những
mục tiêu trước nhất gắn với kế hoạch đầu tư mua sắm thiết bị mới. Vì vậy tuỳ theo
điều kiện, khả năng huy động vốn, những yêu cầu phát triển mà có chính sách đầu

tư thiết bị cho phù hợp với mọi mặt của doanh nghiệp. Do đó, việc đầu tư, mua
sắm máy móc, thiết bị cần tuân thủ các yêu cầu sau đây:


Đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phải phù hợp với khả năng huy động vốn và dự



tính được khả năng thu hồi vốn cho doanh nghiệp.
Máy móc, thiết bị mua sắm phải đồng bộ, có kèm theo sự chuyển giao công nghệ
một cách đầy đủ, có thể đưa thiết bị vào sản xuất kịp thời, đúng tiến độ, đảm bảo
nắm bắt được cơ hội kinh doanh.

16




Mua sắm đúng chủng loại máy móc, thiết bị mà doanh nghiệp cần, đảm bảo các
thông số kỹ thuật mà quá trình sản xuất yêu cầu, đảm bảo có nguồn cung cấp vật tư



đầy đủ, phụ tùng thay thế sẵn có cũng như các dịch vụ đi kèm khác.
Lựa chọn thiết bị, dây chuyền công nghệ phù hợp với trình độ mọi mặt của doanh




nghiệp.

Chọn nhà cung cấp sao cho chi phí là nhỏ nhất.
Thiết bị mới phải hiện đại hơn, năng suất, chất lượng cao hơn so với thiết bị hiện

có của doanh nghiệp.
1.4 Các tiêu chí đánh giá hoàn thiện công tác quản lý bảo dưỡng thiết bị và cơ sở
vật chất của doanh nghiệp đóng tàu
Thiết bị và cơ sở vật chất là một bộ phận lớn nhất, chủ yếu nhất trong tư liệu
lao động và có ý nghĩa quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Chính vì vậy, công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy móc thiết bị
đang là vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu bởi lẽ thực trạng
hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đang tồn tại những lãng phí
lớn trong sử dụng máy móc, thiết bị. Để đánh giá hiệu quả của công tác này người
ta thường đứng trên một số tiêu chí sau.
1.4.1

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị theo đúng công dụng
Mỗi loại máy móc, thiết bị có những tính năng, tác dụng và nhiệm vụ riêng

trong quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm. Do đó vấn đề đặt ra là cần phải sử
dụng thiết bị vào những công việc phù hợp với mục đích chế tạo ra nó của nhà
thiết kế, sản xuất. Sử dụng máy móc, thiết bị đúng mục đích, đúng công việc góp
phần nâng cao năng suất máy, tận dụng được công suất thiết kế, giảm lãng phí
công suất máy, giảm hao mòn vô hình bằng việc phân bổ hợp lý giá trị trang thiết
bị vào sản phẩm.
1.4.2

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị theo đúng định mức
Định mức sử dụng máy móc, thiết bị quy định mức tham gia của máy móc,

thiết bị vào quá trình sản xuất trong các giai đoạn nhất định. Mức tham gia này

được tính toán sao cho đó là mức tối ưu nhất, phù hợp với khả năng hiện tại của
máy móc, thiết bị. Việc quản lý và sử dụng máy móc thiết bị theo đúng định mức
không chỉ cho phép sử dụng tối đa năng lực sản xuất hiện có mà còn có ý nghĩa
17


duy trì khả năng sử dụng máy móc, thiết bị lâu dài, hạn chế những tổn thất trang
thiết bị gây ra do việc sử dụng vượt quá định mức cho phép.
1.4.3

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
Chất lượng dây chuyền công nghệ sản xuất có ý nghĩa to lớn và hết sức quan

trọng trong việc quyết định chất lượng đầu ra của quá trình sản xuất. Công tác
quản lý và sử dụng máy móc, thiết bị sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho máy móc thiết bị
hoạt động liên tục trong trạng thái ổn định, đảm bảo tỷ lệ chính phẩm sản xuất ra ở
mức cao nhất. Chất lượng sản phẩm đầu ra phản ánh chính xác nhất chất lượng
máy móc thiết bị, qua đó quyết định trực tiếp khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường đồng thời gián tiếp phản ánh chất lượng công tác quản lý và
sử dụng máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
1.4.4

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị phải nhằm giảm hao mòn hữu hình

và vô hình
Việc làm giảm hao mòn hữu hình thể hiện ở việc tăng hệ số sử dụng máy
móc, thiết bị về thời gian và tăng năng suất hiện tại của máy móc, thiết bị trong
khả năng cho phép. Công tác này chủ yếu là việc sử dụng trang thiết bị hợp lý,
không đểcác trang thiết bị nằm ngoài quá trình hoạt động sản xuất mà vẫn phải tính
và trích khấu hao. Công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị còn cho phép tận

dụng tối đa công suất, cho phép khấu hao nhanh nhất giá trị của máy móc, thiết bị,
nhanh chóng đưa thiết bị mới vào sản xuất, giảm hao mòn giá trị do yếu tố vô hình.
1.4.5

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị theo đúng chế độ bảo dưỡng, sửa

chữa theo kế hoạch
Bảo dưỡng và sửa chữa (định kỳ hay đột xuất, sửa chữa lớn, vừa hay nhỏ) là
một nội dung trong công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị. Tuân thủ đúng
chế độ bảo dưỡng và sửa chữa định kỳ giúp nâng cao tuổi thọ máy móc, thiết bị,
tăng khả năng hoạt động liên tục, thường xuyên của máy móc, thiết bị. Với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, máy móc, thiết bị ngày càng nhanh chóng
lạc hậu, việc sửa chữa lớn, thay thế những yếu tố cơ bản sẽ có tác dụng làm giảm
tính lạc hậu của trang thiết bị, đồng thời có khả năng tận dụng được những cơ sở
18


vật chất kỹ thuật hiện có, tạm thời tiết kiệm được các khoản đầu tư lớn ngay một
lúc cho việc mua sắm mới hoàn toàn máy móc, thiết bị.
1.4.6

Quản lý và sử dụng máy móc thiết bị nhằm thực hiện mục tiêu kinh

doanh tổng hợp
Cho dù mang các hình thức sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng mục tiêu
cuối cùng của các hoạt động của các doanh nghiệp là đều nhằm tối đa hoá lợi
nhuận. Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần phải có sự kết hợp giữa các
yếu tố, trong đó sự kết hợp giữa vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và lao
động là sự kết hợp cơ bản nhất. Trang thiết bị khi được bố trí hợp lý, khoa học, kết
hợp với việc thường xuyên nâng cao tính năng hoạt động của máy, tận dụng công

suất trang thiết bị sẽ góp phần tiết kiệm vốn đầu tư, nguyên vật liệu, lao động…
làm cho giá thành sản phẩm liên tục giảm, tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ hơn cho
doanh nghiệp, mang lại những thuận lợi cho các kế hoạch về thị trường và lợi
nhuận của doanh nghiệp.
1.4.7 Các tiêu chí định lượng
1.4.7.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng về số lượng
Đểphân tích nhóm chỉ tiêu này người ta phân chia máy móc, thiết bị thành:
 Máy móc, thiết bị hiện có: là tất cả những máy móc, thiết bị được tính vào bảng
cân đối TSCĐ và ghi vào danh mục tài sản của doanh nghiệp trong kỳ phân tích và
thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp, không phụ thuộc vào hiện trạng


và vị trí của nó.
Máy móc, thiết bị đã lắp đặt: là những máy móc, thiết bị đã lắp đặt trong dây



chuyền sản xuất,có đủ khả năng sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Máy móc, thiết bị làm việc thực tế: là những máy móc, thiết bị đã lắp đặt và đã
dược sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu được xác định như sau:



Hệ số lắp đặt thiết bị hiện có (Hi):phản ánh trình độ kịp thời của việc lắp đặt số
lượng máy móc, thiết bị hiện có và có thể huy động vào sản xuất.

19





Hệ số sử dụng thiết bị đã lắp đặt vào sản xuất (H sl): phản ánh số lượng máy móc,
thiết bị có khả năng huy động vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp tại thời
điểm đánh giá.



Hệ số sử dụng máy móc, thiết bị hiện có (H s):phản ánh khái quát tình hình sử dụng
số lượng máy móc, thiết bị hiện có của doanh nghiệp.



Mối liên hệ giữa ba chỉ tiêu được xác định như sau:
Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng về thời gian làm việc
Hệ số sử dụng thời gian chế độ (Hcd): là thời gian làm việc của máy móc thiết bị
1.4.7.2



theo chế độ quy định, phụ thuộc vào số giờ máy làm việc theo chế độ một ca máy,
só ca máy làm việc trong một ngày đêm, số ngày làm việc theo chế độ trong kỳ
phân tích của trang thiết bị.


Hệ số sử dụng thời gian làm việc thực tế (H t): là thời gian máy tham gia vào quá
trình sản xuất sản phẩm, bao gồm cả thời gian chuẩn bị cho máy làm việc.
1.4.7.3

Chỉ tiêu phản ánh năng lực sản xuất

Mức năng suất của máy móc, thiết bị là khối lượng sản phẩm được sản xuất

ra trong một đơn vị thời gian máy hao phí (giờ máy, ca máy, ngày máy).
Công thức:
Trong đó:
U: Mức năng suất thiết bị
Q: Khối lượng sản phẩm do thiết bị sản xuất ra
Tm: Thời gian máy hao phí để sản xuất ra khối lượng sản phẩm Q
Để theo dõi tốc độ phát triển năng lực sản xuất của trang thiết bị qua từng
chu kì, người ta áp dụng phương pháp so sánh liên hoàn giữa hai chu kì liền nhau.
Công thức:
Trong đó:
Ti: Tốc độ phát triển liên hoàn qua từng chu kì
Ui+1: Năng suất thực tế kì phân tích
Ui: Năng suất thực tế kì liền trước
1.4.7.4 Chỉ tiêu tổng hợp
Qua ba chỉ tiêu trên, chúng ta xác định một chỉ tiêu tổng hợp như sau:
20


Hệ số sử dụng
tổng hợp
1.4.7.5



=

Hệ số sử dụng
năng suất


*

Hệ số sử dụng
Hệ số sử dụng
*
thời gian
số lượng

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị theo doanh thu và lợi

nhuận
Mối quan hệ giữa giá trị máy móc thiết bị theo doanh thu:
Hiệu quả sử dụng
máy móc thiết bị

Tổng doanh thu
=

Tổng giá trị bình quân máy

móc thiết bị đang s/dụng
Tỷ trọng này phản ánh khả năng của mỗi đồng giá trị trang thiết bị máy móc
có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Tỷ trọng này phụ thuộc vào đặc điểm kinh
tế kỹ thuật của từng ngành.


Mối quan hệ giữa giá trị máy móc thiết bị theo lợi nhuận
Sức sinh lợi của
máy móc thiết bị


Tổng lợi nhuận
=

Tổng giá trị bình quân máy

móc thiết bị đang s/dụng
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng giá trị máy móc thiết bị có khả năng sinh
ra bao nhiêu đồng tiền lãi.
Ngoài ra, để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp,
người ta xem xét một số chỉ tiêu cơ bản khác như sau.


Chi phí trên doanh thu
Các khoản chi phí trong sản xuất
Chi phí trên 1 đồng
(hoặc 1.000đ) doanh thu

kinh doanh

=

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh số chi phí doanh nghiệp phải chi ra để có 1 đồng (hoặc
1.000đ) doanh thu thuần. Chi phí trên 1 đồng (1.000đ) doanh thu càng gần đến 1


thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp.
Lợi nhuận trên doanh thu

21


Lợi nhuận

Lợi nhuận trên 1 đồng
(hoặc 1.000đ) doanh

=

thu

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng (hoặc 1.000đ) doanh thu thuần của doanh


nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Khả năng sinh lợi của tài sản
Lợi nhuận sau thuế + Sỗ tiền lãi vay
Hệ số khả năng sinh
lợi của tài sản

phải trả

=

Tổng tài sản bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn, tồn tại dưới hình thức vật

chất của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Hệ số này cho biết cứ đầu tư 1
đơn vị tài sản vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế và
nguồn trả lãi ngân hàng.
1.4.7.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, người ta cần dựa
vào một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp cần coi các tiêu chuẩn là mục
tiêu phấn đấu. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh
giới có hay không có hiệu quả.
Trong giới hạn luận văn này, ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
trang thiết bị và cơ sở vật chất, tác giả đi sâu xem xét nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả sử dụng lao động, với mục đích đánh giá thực trạng sử dụng lao động tại Công
ty cũng như hiệu quả mà yếu tố này mang lại có ảnh hưởng như thế nào trong sự
phát triển chung của doanh nghiệp.
 Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một lao động
Lợi nhuận trong kỳ

Chỉ tiêu lợi nhuận
bình quân tính cho
một lao động

=

Tổng số lao động bình quân trong
kỳ

22


Chỉ tiêu này cho biết trung bình một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.

 Chỉ tiêu kết quả sản xuất trên một đồng chi phí tiền lương
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong

Chi tiêu kết quả sản
xuất trên một đồng chi

kỳ

=

phí tiền lương

Tổng chi phí tiền lương trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí tiền lương trong kỳ tạo ra được
bao nhiêu đồng doanh thu.
 Chỉ tiêu lương bình quân
Tổng chi phí tiền lương trong kỳ
Lương bình quân

=

Tổng số lao động bình quân trong

kỳ
Chỉ tiêu này cho biết lương trung bình của một lao động trong kỳ.
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở
vật chất
Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật
chất là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng tới sự hoàn thiện của công tác này trong

doanh nghiệp. Công tác này luôn đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần tự xây dựng cho
mình một hệ thống, một quy trình đầy đủ và hiệu quả để kiện toàn hệ thống quản
lý của riêng mình. Việc tạo dựng mội trường bên trong và thích ứng với môi
trường bên ngoài tốt sẽ là cơ sở vững chắc cho hệ thống quản lý hoạt động. Trên
cơ sở chung đó, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý, bảo dưỡng
thiết bị và cơ sở vật được chia làm hai nhóm như sau.
1.5.1

Những nhân tố bên trong doanh nghiệp
Những nhân tố bên trong là các nhân tố phát sinh từ trong lòng doanh
nghiệp, có ảnh hưởng tới việc củng cố,hoàn thiện công tác quản lý sản xuất và kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.5.1.1 Nhân tố liên quan tới cơ cấu tổ chức quản lý

23


Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh và biến động, các
doanh nghiệp đặc biệt quan tâm tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
mình. Bên cạnh việc phải tự quyết định từ khâu sản xuất tới khâu tiêu thụ sản
phẩm, trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại mở đồng thời mở ra nhiều cơ hội và
thách thức đối với nhà quản lý doanh nghiệp. Các trang thiết bị máy móc hiện đại,
các dây chuyền sản xuất công nghệ tiên tiến đòi hỏi nhà quản lý phải nắm bắt kịp
thời cơ hội song song với việc xây dựng cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cho phù hợp
với nền kinh tế thị trường đầy khó khăn và biến động. Bộ máy quản lý của doanh
nghiệp được coi là bộ phận đầu não cho sự ra đời những chủ trương, chiến lược
hay chính sách của doanh nghiệp đó. Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp
được tạo lập để thực hiện các kế hoạch, chiến lược của doanh nghiệp đó nên nó
luôn phải được xây dựng cho phù hợp với những nhiệm vụ và yêu cầu mới.
Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp nói chung và tổ chức quản lý trang

thiết bị và cơ sở vật chất nói riêng nếu được xây dựng và phát triển phù hợp với
hoạt động sản xuất kinh doanh thì nó sẽ cho thấy hiệu quả không nhỏ trong việc
hoàn thiện các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp. Quá trình xây dựng này không
phải là một việc làm đơn giản mà nó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng, nhất là đối với các doanh nghiệp trong thị trường kinh tế mở hiện này.
Cơ cấu của tổ chức quản lý thiết bị và cơ sở vật chất được nếu được xây
dựng tốt sẽ đảm bảo cho các bộ phận, các phòng ban trong toàn doanh nghiệp hoạt
động đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong công tác sử dụng và quản lý
trang thiết bị, góp phần tạo nên một dây chuyền sản xuất nhiều bước công nghệ
được vận hành khoa học, hiệu quả.
1.5.1.2 Nhân tố liên quan tới nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
gắn liền với nhu cầu của thị trường. Doanh nghiệp phải trả lời được các câu hỏi:
sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? Việc trả lời câu hỏi sản xuất
như thế nào thuộc về trách nhiệm của các nhà quản lý và sử dụng máy móc thiết bị
trong doanh nghiệp. Hay nói cách khác, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp quy định trực tiếp tới công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị. Trang
thiết bị có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp lại dựa
24


trên nhu cầu của thị trường về chủng loại sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng, công
dụng, và đặc biệt là nhu cầu của thị trường về chất lượng của sản phẩm… từ đó
xác định yêu cầu cho công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị. Bộ phận quản
lý và sử dụng máy móc thiết bị cần nắm rõ mối quan hệ này nhằm xác định chính
xác nhu cầu về số, chất lượng, chủng loại máy móc, thiết bị, đảm bảo quá trình sản
xuất được tiến hành một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.
Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đòi
hỏi ngày càng cao hơn. Công tác quản lý máy móc, thiết bị còn phải đưa ra những
quyết định đâu là thời điểm nên đưa công nghệ mới vào áp dụng; trình độ công

nghệ nên ở mức độ nào là thích hợp; nên đổi mới cả dây chuyền công nghệ hay chỉ
nên hiện đại hoá ở một khâu nào đó, một công đoạn trong quá trình sản xuất nhằm
sử dụng hiệu quả nhất cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có,đồng thời vẫn có khả năng
bảo vệ môi trường.
1.5.1.3

Nhân tố liên quan tới cơ sở vật chất kỹ thuật
Nhân tố này phản ánh khả năng tiếp nhận và vận dụng thành công việc đưa

trang thiết bị vào sản xuất. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp là điều kiện
cần, là nền tảng ban đầu cho phép sử dụng hiệu quả hay không hiệu quả trang thiết
bị của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện này trước khi quyết
định đưa loại máy móc, thiết bị nào vào áp dụng trên cơ sở vừa đảm bảo theo đúng
xu hướng phát triển của ngành đồng thời có thể tận dụng được một cách tối đa cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện có. Tuy nhiên đây không phải là yếu tố ràng buộc nhu cầu
đổi mới của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quyết định đầu tư mới toàn bộ khi
biết chắc chắn rằng quyết định đó đúng đắn, có cơ sở khoa học rõ ràng mặc dù đầu
tư ban đầu rất lớn và có thể hoàn toàn không tận dụng được cái đang có.
1.5.1.4

Nhân tố liên quan tới nguồn nhân lực
Trong những yếu tố của quá trình sản xuất thì con người là yếu tố quan trọng

hàng đầu. Con người giữ vị trí trung tâm trong tất cả các khâu của quá trình sản
xuất, dù máy móc, thiết bị có hiện đại đến đâu cũng là do con người chế tạo ra.
Tuy nhiên ở đây ta đề cập tới yếu tố con người thuộc doanh nghiệp, từ tư duy của
25



×