Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Hình thành năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong dạy học phần Động vật có xương sống

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 71 trang )

1

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NÔNG THỊ HÀ

NÔNG THỊ HÀ

Hình thành năng lực tự học
cho sinh viên cao đẳng sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật có xương sống"

Hình thành năng lực tự học
cho sinh viên cao đẳng sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật có xương sống"

Chuyên ngành : Phương pháp dạy học sinh học
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

: 60.14.10


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Thành

HÀ NỘI - 2005
HÀ NỘI - 2005


3

4

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Đức
Thành - người thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
làm luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Phương
pháp dạy học và Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh - KTNN, Phòng quản
lý khoa học, thư viện trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện cho
tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn sự cộng tác của các giảng viên Tổ Sinh Khoa Tự nhiên và sinh viên các trường CĐSP Bắc Ninh, Bắc
Giang trong quá trình tôi nghiên cứu luận văn, đặc biệt trong quá
trình thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình và bạn bè đã
luôn giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện luận văn này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2005
Học viên

Nông Thị Hà



5

6

danh mục những chữ viết tắt trong luận văn

MC LC
Trang

CĐSP

: Cao đẳng S- phạm

ĐHSP

: Đại học S- phạm

GV

: Giáo viên

HDTH

: H-ớng dẫn tự học

K22

: Khóa 22


K24

: Khóa 24

PTS

: Phiếu tự học

SV

: Sinh viên

THCS

: Trung học cơ sở

M U

8

Chng 1: C S CA VIC HèNH THNH NNG LC T HC

6

SINH VIấN

1.1.

Tng quan v tỡnh hỡnh nghin cu liờn quan n ti


6

1.2.

Khỏi nim v nng lc

17

1.3.

Khỏi nim v nng lc

17

1.4.

Vai trũ ca nng lc t hc

18

1.5.

Cỏc loi nng lc t hc

19

1.6.

Kh nng hỡnh thnh nng lc t hc trong dy hc phn

"ng vt hc cú xng sng"

26

1.7.

Thc trng nng lc t hc sinh viờn Cao ng S phm

32

Chng 2: CC BIN PHP HèNH THNH NNG LC T HC

44

SINH VIấN TRONG DY HC, HC PHN "NG
VT HC Cể XNG SNG"

2.1.

c im chung ca bin phỏp hỡnh thnh nng lc t hc

44

2.2.

c trng ca nng lc t hc

50

2.3.


Tiờu chớ ỏnh giỏ nng lc t hc

51

2.4.

Cỏc bin phỏp hỡnh thnh nng lc t hc

71

Chng 3: THC NGHIM S PHM

85

3.1.

Mc ớch thc nghim s phm

85

3.2.

Ni dung thc nghim

85

3.3.

Phng phỏp thc nghim


85

3.4.

Kt qu thc nghim
KT LUN V NGH

97
118


7

8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

120

PHỤ LỤC

125

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
* Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã xác định: "Phải khuyến khích tự
học "phải" áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
những sinh viên năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề".

* Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII tiếp tục khẳng định phải:
Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên Cao đẳng, Đại
học.
* Từ định hướng trên đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục tại
Điều 24.2:
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
* Đứng trước thực trạng của xã hội loài người ngày nay là xã hội tri
thức và thông tin. Sự đổi mới với tốc độ rất nhanh trong các lĩnh vực khoa
học và công nghệ tác động đến thông tin ở ba khía cạnh:
- Thông tin có giá trị không dài;
- Khối lượng thông tin tăng nhanh;


9

- Nội dung thông tin ngày càng chuyên môn hóa và phức tạp (S.T.
chong. 1998).

10

2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành trong


Như vậy, cách dạy chỉ hướng tới cung cấp kiến thức (thông tin) sẽ

giảng dạy học phần Động vật học có xương sống cho sinh viên nhằm góp

luôn bị lạc hậu với thời đại. Mà xã hội tri thức và thông tin đòi hỏi một nền

phần nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới phương pháp dạy học ở các

giáo dục suốt đời cho mọi người.

trường Cao đẳng Sư phạm.

1.2. Do thực trạng việc dạy và học ở các trường Cao đẳng sư phạm
thầy thường dạy theo phương pháp diễn giải, thuyết trình, nói lại giáo trình,
còn sinh viên ngồi nghe rồi ghi chép rất thụ động. Giảng viên chỉ chú trọng
dạy kiến thức lý luận, còn việc rèn kĩ năng cho sinh viên thông qua môn học
rất ít đề cập đến. Kết quả là: Sau khi học xong phần đó, chóng quên, cũng như
việc hình thành cho sinh viên kĩ năng dạy học sau này không được tốt.
1.3. Do vai trò tự học trong quá trình dạy học hiện nay mà Đảng đã đề
ra cho ngành giáo dục đặc biệt ở các trường Sư phạm nói chung và các trường
Cao đẳng Sư phạm nói riêng một trách nhiệm nặng nề là đào tạo những người
thầy giáo đảm đương được trách nhiệm trồng người trong thời đại mới.
Trong nền giáo dục suốt đời và xã hội học tập thì việc tự học của mỗi
người ngày càng trở nên quan trọng.
Như khi bàn về việc học:
- Lênin đã khuyên thanh niên: "Học, học nữa, học mãi".
- Hay Bác Hồ đã viết trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc: "Cách học
tập phải lấy tự học làm cốt lõi, phải biết tự động học tập".
Như vậy, để sinh viên tự học được tốt thì giảng viên phải hướng tới

việc dạy cho sinh viên biết cách học (ở đây cũng có nghĩa là hình thành cho
sinh viên năng lực tự học) là chủ yếu.
Do những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn như trên, nên tôi đã
chọn đề tài: "Hình thành năng lực tự học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật học có xương sống"".

3. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành
phù hợp sẽ vừa hình thành được năng lực tự học, vừa nâng cao được chất
lượng học phần Động vật có xương sống.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu năng lực tự học cần có và biện pháp hình
thành năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm trong giảng dạy học
phần Động vật có xương sống.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất lớp Hóa - Sinh
K24 trường Cao đẳng Sư phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý thuyết của việc hình thành năng lực tự học ở
sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.2. Xác định thực trạng năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.3. Xác định năng lực tự học cần có ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.4. Xác định biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học trong
khi giảng dạy học phần Động vật học có xương sống.
5.5. Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp
trong việc hình thành năng lực tự học và nâng cao kết quả học tập qua học
phần Động vật học có xương sống.
6. Phương pháp nghiên cứu


11


6.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về đường lối giáo dục, phương hướng phát
triển giáo dục, các nghị quyết chỉ thị của bộ giáo dục và đào tạo về phương
pháp đổi mới: Nội dung, phương pháp dạy học ở các cấp học, các ngành học.
- Nghiên cứu các tài liệu về:
+ Học và cách dạy học;
+ Năng lực tự học, đặc trưng phương pháp học tập học phần: động
vật học có xương sống.
- Tài liệu lý luận về dạy học sinh học.
6.2. Phương pháp điều tra
- Điều tra thực trạng năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng sư phạm.
- Điều tra thực trạng biện pháp hình thành năng lực tự học ở sinh viên
qua giảng dạy một số môn học thông qua việc dự giờ, trao đổi…
6.3. Thực nghiệm sư phạm
- Mục đích thực nghiệm: Kiểm tra hiệu quả của các biện pháp hình
thành năng lực tự học ở sinh viên.
- Nội dung thực nghiệm: Xác định hiệu quả của các biện pháp về:

+ Các bài dạy thực nghiệm: Thuộc chương 6, 8 học phần Động vật
học có xương sống.
+ Xử lý số liệu: Kết quả được phân tích kỹ cả mặt định tính và định
lượng theo tiêu chí định trước.
7. Giới hạn của đề tài
Hình thành năng lực tự nghiên cứu giáo trình theo hướng dẫn của
giảng viên qua học phần Động vật học có xương sống.
8. Những đóng góp mới của luận văn
8.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hình thành năng lực tự học ở sinh
viên Cao đẳng Sư phạm. Từ đó làm tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu lý
luận dạy học Đại học.

8.2. Hệ thống hóa những năng lực tự học cần có ở sinh viên khi
nghiên cứu giáo trình về sinh học. Góp phần nâng cao phương pháp giảng dạy
theo hướng đổi mới ở các trường Cao đẳng Sư phạm.
8.3. Đề xuất biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học qua
giảng dạy học phần Động vật học có xương sống. Từ đó làm tài liệu để cải
tiến dạy học môn học.
8.4. Những kết quả thực nghiệm là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu

+ Hình thành năng lực tự học;

tiếp của hướng đề tài này. Đồng thời là những gợi ý để áp dụng cải tiến

+ Nắm vững kiến thức qua dạy chương 6,8 của học phần: Động vật

phương pháp trong dạy học bộ môn ở Cao đẳng Sư phạm

học có xương sống.
- Phương pháp tiến hành:
+ Đối tượng: Sinh viên năm thứ nhất lớp hóa sinh K24 trường Cao
đẳng Sư phạm Bắc Ninh.
+ Công thức thực nghiệm: Thực nghiệm theo mục tiêu nghĩa là: Lấy
mục tiêu làm đối chứng còn thực nghiệm là các biện pháp hình thành năng lực
tự học.

12

9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc hình thành năng lực tự học ở sinh viên.

Chương 2: Các biện pháp hình thành năng lực tự học ở sinh viên
trong dạy học, học phần "Động vật có xương sống".
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


13

Chương 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
NĂNG LỰC TỰ HỌC Ở SINH VIÊN

14

* Theo T. Makiggerchi đã nhấn mạnh: "…nhà giáo trước hết không
phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho sinh viên
tự mình học tập tích cực… Họ phải nhường quyền cung cấp tri thức cho sách
vở, tài liệu và cuộc sống" thay vào đó "Giáo viên phải là cố vấn", là "Trọng
tài khoa học".
* Nhiều tác giả Liên Xô (cũ) đã nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1.Các quan niệm về việc hình thành năng lực tự học ở sinh viên
1.1.1.1. Trên thế giới

nâng có hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó đã nêu lên các
biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của người học trong quá trình
dạy học(như Catxechue G.X…).

Hình thức dạy học theo kiểu giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức,

giúp cho người học tự học, tích cực hoạt động để tự tìm ra tri thức đã được
nghiên cứu rộng khắp thế giới từ lâu như:

1.1.1.2. Trong nước
* Tự học - tự đào tạo là vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đề cập rất đậm nét: "Tập trung sức nâng

* Ở Mỹ từ những năm 1920 Helen Pankhutôts đã nghiên cứu, đề xuất

cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của sinh viên bảo

và triển khai kế hoạch Dalton tại trường Dalton ở tiểu bang Massa Chuse là:

đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển

Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho

mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn

người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện. Toàn bộ hoạt

dân…".

động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực
hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập.
* Theo G.D.Sharmo và Shatt.R.Ahmed đã nhận định: Hình thức
hướng dẫn sinh viên tự học là một hình thức tổ chức học có hiệu quả: "Cốt lõi
của hình thức này là quá trình điều khiển gián tiếp của giảng viên đối với quá
trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được
thiết kế thành dạng phù hợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã

được xác định 51.
* Theo A.Đixtécvéc (1790 - 1866) cho rằng: Nghệ thuật sư phạm của
người thầy giáo không phải chỉ: "Dạy cho họ cách tìm ra chân lý" mà phải
tăng cường tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu "Biến quá trình dạy học
thành quá trình tự học".

* GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một vài suy
nghĩ chung về vấn đề "Tự học": Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi
người và tác giả cho rằng:"Sinh, bệnh, lão, tử là quy luật chung của cuộc sống
đối với mọi sinh vật, song con người khác với sinh vật ở khả năng tư duy,
sáng tạo và khả năng này chỉ có thể đạt tới và phát huy trên nền kiến thức cơ
bản được tạo ra thông qua quá trình học và tự học. Số thời gian dành cho việc
học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời
người. Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng
tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt
quan trọng. Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi
học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này.


15

16

* Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) cho rằng: Tự

* Các tác giả Hà Lan: Fortunat Walther, Rudolf, Batliner, Devi Pdahl,

học - tự đào tạo là con đường phát triển tối ưu. Con đường phát triển tối ưu là

John Colkun, Gobinda R Poudel, Gerald Stegmanm, Shiv Kuman Shah [43]


con đường ba nhất:

đã biên soạn các thẻ kỹ năng. Mỗi thẻ này như một tài liệu hướng dẫn và rèn

- Chất lượng cao nhất;
- Quy mô lớn nhất;

luyện một kỹ năng sư phạm nhất định. Thẻ được trình bày trên hai mặt của
một tờ giấy gồm các nội dung sau: Mở đầu, mục đích, các tiến hành, lưu ý,
kết luận và bản hướng dẫn thực hiện kỹ năng sư phạm đó.

- Hệ thống hợp lý nhất.

1.1.2.2. Trong nước

Trong cuốn Tự học - tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển
Giáo dục Việt Nam tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: Chiếc gậy thần để làm cho
giáo dục Việt Nam tăng tốc từ "Ba thấp" đến "Ba nhất" là truyền thống tự học
sáng tạo của dân tộc, là khoa học tự học.
* GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình động não,
sử dụng các năng lực trí tuệ, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,

* GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn [48] đã chỉ ra rằng: Để hướng dẫn tự
học phải viết tài liệu in ra và hướng dẫn người học tự học. Tài liệu hướng dẫn
phải vạch ra được kế hoạch học tập, phương pháp học, nội dung tài liệu
hướng dẫn tự học phải chỉ ra được mối quan hệ lôgic giữa các chương, vẽ ra
một sơ đồ về mối quan hệ đó. Việc hướng dẫn nên thể hiện ra bằng những câu
hỏi hoặc bài tập nhỏ.


tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
1.1.2. Về tài liệu hướng dẫn tự học

* Theo Nguyễn Bá Kim [24] tài liệu hướng dẫn phải có yếu tố phương
pháp học và có yếu tố mô phỏng sự tìm tòi, khám phá để định hướng và khêu
gợi động cơ, hỗ trợ, ôn tập, củng cố.
* Tác giả Hoàng Hữu Niềm [32] đã nghiên cứu chức năng, mục đích,

1.1.2.1. Trên thế giới
* GS.TSKH Hans Joachin Luabs [17] đã đưa ra những yêu cầu về nội
dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho các tác giả viết tài liệu dùng cho sinh viên.
Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho sinh viên là giáo trình, ngoài ra còn có

nội dung, yêu cầu, hình thức của phiếu tự học và tài liệu hướng dẫn tự học để
biên soạn và sử dụng chúng trong quá trình hướng dẫn cho sinh viên ở các
Trung tâm giáo dục thường xuyên.

các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như sách bài tập, tập lưu trữ tư liệu,

* Tác giả Phan Đức Duy, trong luận án tiến sĩ [13] đã nghiên cứu quy

sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo… Đồng thời tác giả đã chỉ rõ

trình thiết kế, các yêu cầu kỹ thuật của bài tập tình huống - Đây như một tài

chức năng của các tài liệu học dành cho sinh viên là:

liệu hướng dẫn sinh viên tự học và rèn luyện kỹ năng để hình thành năng lực


- Chức năng biểu đạt;
- Chức năng điều khiển;
- Chức năng khuyến khích động cơ;
- Chức năng phân hóa, chức năng luyện tập và kiểm tra.

tự học.
* Trong lĩnh vực dạy học bộ môn sinh học, nhiều công trình nghiên
cứu cũng đề cập đến việc hình thành năng lực tự học cho sinh viên thông qua
các tài liệu hướng dẫn học và quy trình sử dụng chúng trong dạy học. Trần Bá


17

18

Hoành [21] đã xây dựng các kỹ thuật thực hiện các phương pháp tích cực,
trong đó các kỹ thuật xây dựng và sử dụng phiếu học tập.
* GS.TS Đinh Quang Báo đã nêu phương pháp dạy sinh viên đọc sách Phương pháp dạy tự học chủ yếu.
* PGS.TS Nguyễn Đức Thành cũng đã nghiên cứu về tài liệu hướng

Phương
pháp,
phương tiện
dạy học

Các phương pháp truyền thụ
và thông báo chiếm ưu thế
trong đó bao gồm định hướng
mục đích học tập và kiểm tra,
các phương pháp nặng về định

hướng hiệu quả truyền đạt.

dẫn tự học: Mô hình hướng dẫn học và học có hướng dẫn trong dạy học ở Đại
học nhằm rèn luyện năng lực tự học cho sinh viên khoa sinh Đại học sư phạm
trong dạy học môn "Phương pháp dạy học sinh học" nhằm nâng cao kết quả

Giờ học là sự phối hợp hoạt động
của người dạy và người học trong
việc lập kế hoạch thực hiện, đánh
giá. Dạy học theo hướng: Dạy
cách tự học, giải quyết vấn đề,
định hướng hành động chiếm ưu
thế

Mỗi hình thức tổ chức dạy sẽ ứng với một cách thức học tập nhất
định. Sự tương quan giữa dạy và học được thể hiện theo sơ đồ 1.1:

đào tạo.
1.1.3. Về hướng dẫn tự học theo hướng hình thành năng lực tự

Dạy

Học

Truyền
thụ

Lĩnh hội

Điều

khiển

Tính độc
lập

học ở sinh viên
Để quá trình hướng dẫn tự học được hình thành theo hướng "Hình
thành năng lực tự học ở sinh viên" trong hoạt động dạy học đó ta nên hiểu: Dạy
chính là sự tổ chức và điều khiển tối ưu hóa quá trình chiếm lĩnh tri thức, hình
thành năng lực tự học. Hoạt động dạy có hai chức năng luôn xoắn kết chặt chẽ
với nhau là: "Cung cấp thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học". Mối
tương quan giữa hai chức năng này thay đổi qua lịch sử phát triển của các

Sơ đồ 1.1: Sự phát triển mối tương quan giữa dạy và học

phương pháp dạy học. Ta xem xét hai quan điểm dưới đây:
Khái niệm

Quan điểm truyền thống

Khái niệm
dạy học
cơ bản

Đào tạo trẻ em thành người
lớn thông qua những người lớn
tuổi hơn, những hình mẫu, lý
luận dạy học ở đây thiên về
mệnh lệnh và uy quyền


Quan điểm dạy học theo
phương pháp tích cực
Tạo ra các chương trình đào tạo
phù hợp với chủ thể nhằm hình
thành năng lực chuyên môn, năng
lực xã hội và cá nhân, khả năng
hành động. Lý luận dạy học chú
trọng phát triển năng lực tự chủ
và khả năng giao tiếp

* Theo xu hướng hiện nay, việc giảng dạy ở các trường Đại học là giảm
tối đa kiểu dạy theo lối truyền thụ và sinh viên lĩnh hội tri thức một cách thụ
động. Mà tăng cường tổ chức, điều khiển để sinh viên tự lực tìm tòi, nghiên cứu
nhằm phát huy tính độc lập trong quá trình nhận thức, phát triển năng lực của
người học. Có rất nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu, đề xuất
các quy trình hướng dẫn sinh viên tự học như quy trình 8 bước học định hướng
giải quyết vấn đề, quy trình 5 bước học theo công đoạn. Vậy trong khuôn khổ
của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình hướng dẫn sinh viên tự
học trên cơ sở tài liệu hướng dẫn học.


19

20

Hướng dẫn tự học chính là sự hỗ trợ của giáo viên trong việc định

Các mũi tên trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực "thầy";

hướng, tổ chức và chỉ đạo nhằm giúp cho người học tối ưu hóa quá trình tự


sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy - tự học đều thuộc về thầy: Thầy

lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thông qua đó để hình

là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò.

thành và phát triển nhân cách của họ 33.

* Theo PGS.TS. Nguyễn Đức Thành, ĐHSP Hà Nội - 2002 thì quy

Theo Nguyễn Kỳ, quy trình dạy tự học có 3 thời (sự điều khiển của thầy
theo 3 giai đoạn tương ứng với 3 giai đoạn học tập của trò) theo sơ đồ sau:
Hướng dẫn
Hướng
1dẫn

+) Bước 1: Định hướng việc học:
Giáo viên phải giúp cho người học ý thức được nội dung, mục tiêu đạt
được. Định hướng con đường đạt đến.

Tự nghiên
cứu

+ Bước 2: Hướng dẫn học chủ để:
Tổ chức

Tự học
2
Tự


Tự kiểm tra
3

trình hướng dẫn gồm các bước sau:

thể hiện

Trọng tài

- Chỉ ra được các nội dung cần phải học.
- Chỉ ra được các nội dung cần làm rõ.
- Đối với những kiến thức khó cần chỉ rõ nguồn tài liệu để tham khảo
(cung cấp những thông tin cần thiết để làm rõ vấn đề này).
- Có tài liệu hướng dẫn.
+ Bước 3: Tổ chức thảo luận.
+ Bước 4: Tổng kết đánh giá.

Sơ đồ 1.2: Chu trình dạy - tự học
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng

* Từ quy trình trên tác giả đã đề xuất quy trình hướng dẫn học một
chủ đề, quy trình hướng dẫn một buổi học.

lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu  tự thể hiện  tự kiểm tra, tự

+ Quy trình hướng dẫn học một chủ đề:

điều chỉnh.


- Ý thức được việc học

Hình tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy,
cùng với 3 thời tương ứng của quá trình dạy:
Hướng dẫn - tổ chức - trọng tài - cố vấn, kết luận, kiểm tra.

- Tự nghiên cứu theo hướng dẫn
- Tự thể hiện bằng bài làm
- Tự thể hiện trước nhóm, lớp, giáo viên.


21

22

- Thể hiện sự tự chủ, độc lập nghiên cứu của người học, từ việc ý thức
mục tiêu, nghiên cứu nội dung cho đến tự kiểm tra, tự đánh giá.

- Tự tổng kết, rút kinh nghiệm
+ Quy trình hướng dẫn một buổi học

- Thầy là người hướng dẫn, định hướng, tổ chức, trọng tài.
- Kiểm tra sự chuẩn bị của người học

- Việc tự học có được ắt phải có tài liệu.
- Phát huy tính vận dụng sáng tạo của người học.

- Thảo luận

* Hướng dẫn tự học để hình thành năng lực tự học ở SV được dựa trên

những cơ sở:

- Tổng kết

- Cơ sở tâm lý, sư phạm:

- Hướng dẫn chủ đề mới.
* Trong luận án tiến sĩ - khoa giáo dục sinh học, tác giả Hoàng Hữu
Niềm đã đưa ra quy trình hướng dẫn tự học như sau 32:
Kết quả tự học của
học viên
Tự thể hiện kết quả
tự học,
tự đánh giá

Tổ chức, chỉ đạo và
trọng tài

Tự học ở nhà theo
PTH
Hướng dẫn cách tự
học
theo PTH tổ chức

Nghe HDTH trên lớp
tự thể hiện qua thảo
luận

Định hướng tự học
cái gì

và mức độ phải đạt

Xác định mục tiêu
và nội dung cơ bản
chủ điểm

Giáo
viên

Mục tiêu bài HDH

Học
viên

* Như vậy, có rất nhiều quy trình hướng dẫn học khác nhau, nhưng tất
cả các quy trình đó đều có các đặc trưng là:

+ Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi ở SV có một số ưu thế như: Sự chú ý
tập trung và bền hơn học sinh phổ thông, đặc biệt là trước các vấn đề lý luận,
các vấn đề xã hội, óc tưởng tượng không gian nhạy bén, tăng khả năng ghi
nhớ, ghi nhớ máy móc giảm hơn. Khả năng ghi nhớ ở SV có tính khái quát
độc lập, mang tính chọn lọc và có phê phán hơn học sinh phổ thông.
Những đặc điểm trên rất thuận lợi cho hình thức hướng dẫn SV tự học.
+ Hướng dẫn tự học không phải là một phương án cụ thể nào mà nó bao
gồm tập hợp nhiều phương pháp. Hầu hết các phương pháp đó đều nhằm phát
huy tính tích cực học tập của SV và đều có đặc trưng chung là:
- Dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động cho SV.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tự rèn luyện.
- Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp.
- Dạy SV tự đánh giá.

Có thể kể đến các phương pháp được sử dụng như: Phương pháp tổ
chức SV thảo luận theo nhóm, theo lớp, phương pháp dạy học theo tình huống
(các tình huống được xây dựng trong tài liệu, phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề...).
+ Động cơ học tập của sinh viên CĐSP là trở thành thầy giáo dạy ở
THCS. Để sinh viên tự học tốt thì động cơ cần được cụ thể hóa thành những


23

24

nhiệm vụ, mục tiêu, kiến thức, kỹ năng rõ ràng. Đây là nhiệm vụ của những
người hướng dẫn học hoặc tài liệu HDTH.

của môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực tự học

- Cơ sở triết học: Theo quan điểm triết học kết quả của hành động bị
chi phối bởi hai yếu tố đó là: nội lực và ngoại lực.

rời nội lực với ngoại lực, mà là kết hợp chặt chẽ, mật thiết giữa nội lực với ngoại

của người học. Vấn đề được đặt ra là không thể nhấn mạnh một chiều hoặc tách
lực, nhằm tiến tới đỉnh cao của chất lượng phát triển là cộng hưởng nội lực với
ngoại lực. Nói một cách khác, quá trình tự học, tự nghiên cứu (cá nhân hóa)
phải kết hợp với quá trình hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học và quá

Nội
lực


Ngoại
lực

trình dạy của nhà giáo (xã hội hóa). Đó là quan điểm "Nội lực quyết định" của
dạy học tích cực lấy việc học (trò) làm trung tâm. Do đó cần chú trọng đến
yếu tố nội lực. Đây chính là bản chất quá trình tự học của SV.
- Cơ sở sinh lý học:

Sơ đồ 1.3: Sự cộng hưởng nội và ngoại lực
+ Theo quan điểm phát triển của sự vật, ngoại lực dù có quan trọng đến
đâu, lợi hại đến mấy thì cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện.
Còn nội lực mới là nhân tố quyết định phát triển bản thân sự vật. Sự
phát triển đó đạt được trình độ cao nhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng
với nhau.
Thật vậy, nếu xem nội lực là nhân tố quyết định phát triển bản thân
người học thì năng lực tự học (việc học) được xem là có ý nghĩa quyết định.
Trò là chủ thể, trung tâm, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý bằng hành động

Quá trình hướng dẫn tự học dựa trên cơ sở "Học thuyết phản xạ có
điều kiện chủ động" của Skinner. Theo học thuyết này học là tự điều hòa hành
vi để dẫn tới mọi hành vi mong muốn bằng cách thử sai, nó được thực hiện vì
lợi ích của chính người học. Trong học thuyết của mình, Skinner cho rằng:
Con vật có thể tự tìm tòi, tự hình thành các phản xạ có điều kiện khi nó được
thực hành rèn luyện để giải quyết một tình huống, một nhiệm vụ mới xuất
hiện. Đây chính là cơ sở sinh lý học của hoạt động tự học nhờ tài liệu hướng
dẫn dưới sự điều khiển của thầy để hình thành năng lực tự học ở SV.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC

của chính mình, tự phát triển từ bên trong. Thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ


Ai cũng biết một xã hội tốt hay xấu, tiến nhanh hay trì trệ là do phẩm

chức, đạo diễn cho trò tự học. Người thầy giỏi là người thầy biết dạy cho trò

chất và năng lực của những con người trong xã hội. Phẩm chất và năng lực

biết tự học. Người học giỏi là người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự

tiềm ẩn trong mỗi con người, đó cũng chính là nội lực ẩn náu trong con người.

học thuộc quá trình cá nhân hóa không có nghĩa là học một mình, đơn thân

Ta có thể hiểu: Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng

độc mã, mà học trong sự hợp tác với các bạn, trong môi trường xã hội, dưới

tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau, ta có thể

sự hướng dẫn của nhà giáo.

sơ đồ hóa khái niệm như sau:

Năng lực tự học - nội lực sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của
thầy và sự hợp tác của các bạn - ngoại lực. Ngược lại tác động của thầy, cô và

Năng lực = Cách học  Kỹ năng  Nội dung  Tình huống  Vấn đề


25


* Ta nhận thấy, năng lực cơ bản có tác động lớn trong cuộc sống học
đường và đời thường. Các năng lực cơ bản cần chú ý tới là:

26

trường chuyên nghiệp, mà cuộc thi hương, thi hội, thi đình đều theo một
chương trình "Từ chương khoa cử" nhưng xã hội vẫn có những người làm

- Năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực

nghề này, nghề khác... đó chủ yếu là qua con đường tự học.

- Năng lực được tạo ra dần dần và sử dụng suốt cả cuộc đời.

con người.

tự học.

Qua điều này ta càng thấy rõ khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi

1.3. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC TỰ HỌC

* Như trên (mục 1.2) đã nói:
Năng lực = Cách học  Kỹ năng  Nội dung  Tình huống  Vấn đề
Vậy cách học ở đây là gì?
Cách học là cách tác động của người học đến đối tượng học. Có thể
nói học cách học, học phương pháp học chính là học cách tự học. Tự học là
một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri
thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài
lớp, theo hoặc không theo chương trình sách giáo khoa đã được quy định. Tự

học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao
và mang đậm nét sắc thái cá nhân.
Như vậy, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập
cao của từng cá nhân.
Và khi nói đến học thì đương nhiên là phải tự học, không thể ai học
thay được. Song có hai cách học cơ bản:
- Một là, cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào như kiểu hình
thành phản xạ cổ điển của Paplốp.
- Hai là, cách học chủ động, tự bản thân mình tạo nên các phản xạ có
điều kiện, như kiểu hình thành phản xạ tác động. Và về "Cách tự học" thì mỗi
người một vẻ, tùy theo tư chất và hoàn cảnh, điều kiện sống của mình mà mỗi
người có cách học riêng. Vì vậy mà ta thấy được: Ngày xưa không có các

Từ đó, ta hiểu năng lực tự học là: Nội lực phát triển bản thân của
người học. Trong bất cứ con người Việt Nam nào, trừ những người bị khuyết
tật, tâm thần, đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá: đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự
đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày của mình.
1.4. VAI TRÒ CỦA NĂNG LỰC TỰ HỌC

Năng lực tự học sáng tạo đã làm nên biết bao nhiêu nhà quân sự, chính
trị, khoa học, văn hóa lỗi lạc của đất nước. Biết bao anh hùng dân tộc từ
những người nông dân, công nhân, chiến sĩ bình thường trong lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Chính năng lực tự học sáng tạo đã làm nên vị lãnh tụ vĩ đại của dân
tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới - đó là Hồ Chí Minh.
Năng lực tự học có vai trò:
* Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận
thức trong tình huống học.
* Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu

nhận thức qua các tình huống học.
* Tự học, tự nghiên cứu đi đôi với sự hợp tác với các bạn trong môi
trường xã hội, cộng đồng lớp học và dưới sự hướng dẫn của nhà giáo.
* Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử
lý thông tin từ môi trường xung quanh mình.


27

28

* Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của

cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải tạo ra được sự

chính mình, cá nhân hóa việc học, đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng

cộng hưởng của nội lực - tức là sự cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới

đồng lớp học, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, xã hội hóa lớp học.

đúng là tự học, nó tồn tại cùng "học" như hình với bóng, ta thấy hai người

1.5. CÁC LOẠI NĂNG LỰC TỰ HỌC

Lâu nay, khi nói đến "học" thì hầu như câu cửa miệng mọi người
đều nói là: "Học kiến thức", đôi khi nói thêm là: "Học kỹ năng". Kiến thức
và kỹ năng dĩ nhiên là quan trọng, là mục tiêu cần đạt được trong việc học,

cùng học một thầy thì phần thầy giảng là như nhau đối với hai người nhưng

kết quả học tập lại phụ thuộc vào sự cố gắng tự học của mỗi người bắt đầu
ngay từ khi nghe giảng, người này có thể nghe thầy giảng một cách chăm
chú, người kia nghe giảng lơ đãng, thế là phần tự học đã khác nhau rồi.

nhưng ít ai nghĩ đến "cách đạt tới mục tiêu" và "cách vận dụng mục tiêu

Tự học, hiểu như vậy có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không

mỗi khi đạt tới để đi đến những mục tiêu mới xa hơn, cao hơn". Không

có thầy, không có sách. Trong trường hợp này, người học có thể tích lũy thêm

những như vậy, thì nhận thức về sự học vẫn nông cạn, nhiều nội lực tiềm

được kinh nghiệm, thêm kiến thức, nhiều sự cọ xát với thực tiễn, và con

tàng vẫn nằm im không được khơi dậy. Nếu khơi dậy ta cần chú ý tới việc

người từ 2 tháng tuổi trở đi đã biết tự học như vậy.

khơi dậy những năng lực tự học cơ bản như: năng lực tư duy, năng lực

Cách học không thầy, không sách, thả nổi như vậy cũng có thể có

phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tự học. Trong đó cần khơi dậy

kết quả tích cực nhưng kết quả lâu đến vì không có hệ thống và chiều sâu

năng lực tự học của người học, mà năng lực tự học của người học, có


tư tưởng, rất ít kế thừa sự hiểu biết của những người đi trước. Vì vậy, phải

nhiều mức độ:

học một cách hệ thống với thầy rồi với sách và ngày nay cách học đó phải

- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh).

dẫn tới thông minh, sáng tạo, học một biết mười vì nắm chắc kiến thức cơ

- Tự học có người hướng dẫn (đây cũng là hình thức hoạt động tự

bản, có hệ thống, rồi năng lực tự học, tư duy với một tư cách tốt đẹp mà tự

lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng tương ứng

mình tìm đến nhiều kiến thức khác nhờ cả vào công phu sưu tầm lẫn công

dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên thông qua tài liệu hướng

phu tự mình nghĩ ra. Đạt đến trình độ này rồi thì cách học không thầy,

dẫn tự học).

không sách mà chỉ cọ xát với thực tiễn cũng sẽ được người học đích thân tổ

1.5.1. Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Ở đây ta cũng hiểu sách là do một ông thầy viết ra, nên học có sách
tức là học với thầy (thầy là tác giả của sách) nhưng không có thầy bên cạnh
để hỏi mà học với sách không có thầy bên cạnh thường được hiểu là tự học.


chức có hiệu quả cao như tổ chức tra cứu có mục đích, có phương hướng,
có phân công, hợp tác, có tài liệu, trang thiết bị hỗ trợ.
Tự học hoàn toàn là mức mà mọi người phải đạt đến nếu muốn học
suốt đời.

Nhưng hiểu như vậy cũng vẫn là hẹp hòi vì ngay cả khi có thầy bên cạnh thì

Và không có thầy thì có thể hỏi sách. Hỏi sách này không được thì

thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy dù sao

hỏi sách khác. Nhưng sách khác đó là sách gì? Thì nhiều khi cũng phải động


29

30

não mới biết là nên tìm sách gì, tìm sách đó ở đâu làm sao mà tìm được. Tìm

+ Tự trình bày

được sách lại phải biết chọn những chương nào, trang nào để học. Trong lúc

+ Ứng dụng

đọc lại thấy cần đọc thêm sách khác, biết tìm sách mà đọc, biết độc lập làm

+ Tóm tắt nội dung


việc với sách chính là "biết hỏi sách". Cần phải biết học cách "Hỏi sách" vì đó

+ Lập bảng hệ thống

là điều kiện không thể thiếu để tự học hoàn toàn, tự học suốt đời và việc tìm

- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

sách ở trong thư viện kể cả thư viện điện tử phải trở thành thói quen của học

+ Qua trả lời của bạn

sinh, sinh viên ngày nay.

+ Qua tự trả lời
+ Qua tổng kết của thầy

1.5.2. Tự học có hướng dẫn:
* Tự học có hướng dẫn là hình thức hoạt động tự lực của người học để
chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng tương ứng, dưới sự hướng dẫn, tổ
chức, chỉ đạo của GV thông qua tài liệu HDTH.

Để tự học có hướng dẫn đạt được kết quả cao, phải tuân thủ nghiêm
ngặt những điều sau đây:
- Phải tuyển sinh cho được những người "học được", không tùy tiện
châm chước, chiếu cố.

* Việc tự học có hướng dẫn có thể được cụ thể hóa theo mô hình:
Mô hình học có hướng dẫn giáp mặt


- Phải lo tạo động lực cho người học, giúp họ có sức chiến thắng các
khó khăn, nhất là ở giai đoạn đầu.

Hoạt động khám phá
Hoạt động học

- Không được làm gì để cho tư tưởng ỷ lại phát sinh ở họ, đặc biệt thi
Đối tượng

cử phải nghiêm túc để chặn đứng ở họ hy vọng được chiếu cố, châm chước.

- Thu thập thông tin
+ Qua đọc sách giáo khoa, tài liệu

- Tạo được những điều kiện tối thiểu (nhất là điều kiện giáo trình) cho
họ học.

+ Qua quan sát

Thật vậy, để tạo được động lực cho người học (gợi mở, khuyến khích

+ Qua tư liệu, mạng internet

để hình thành năng lực tự học cho SV), GV dạy cho SV một số phương pháp

+ Qua thí nghiệm

tự học (dựa trên mô hình học có hướng dẫn giáp mặt) trên đây đó là:


+ Qua bài tập

Các phương pháp tự học

- Xử lý thông tin

* Các phương pháp thu nhập thông tin:

+ Phân tích, tổng hợp, khái quát

Bao gồm các phương pháp sau:

+ Nhận xét, đánh giá
+ Phê phán

- Phương pháp đọc sách và ghi chép: Trong phương pháp này cần chú
ý tới:


31

+ Ý nghĩa của việc đọc sách
+ Lựa chọn sách để đọc

32

+ Vận dụng "Tập trung" trong học tập.
- Phương pháp sử dụng từ điển:

+ Xác định mục đích đọc


+ Trong nước

+ Phương pháp đọc

+ Sử dụng từ điển nước ngoài.

+ Đọc sách tham khảo

* Các phương pháp xử lý thông tin:

+ Cách ghi chép.

- Diễn đạt ý:

- Phương pháp hỏi: Cần:
+ Tự nêu ra những câu hỏi để tự trả lời
+ Hỏi bạn
+ Hỏi thầy
- Nghe bài giảng và ghi chép: Nên chú ý:
+ Ý nghĩa của bài giảng và ghi chép.
+ Chuẩn bị nghe giảng
+ Nghe giảng ở trên lớp
+ Cách ghi chép.
+ Xem lại và chỉnh lý bản in.
- Phương pháp ghi nhớ thông tin
+ Nhẩm lại.
+ Sắp xếp.
+ Tổ chức.
- Học "Tập trung tư tưởng cao độ":


+ Đặc điểm
+ Nguyên tắc
- Đặt câu hỏi
- Lập sơ đồ khái niệm.
- Sắp xếp các khái niệm.
- Sử dụng cách tiếp cận có hệ thống.
- Tóm tắt các ghi chép.
* Phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Một số vấn đề chung về nghiên cứu khoa học:
+ Khái niệm
+ Mục đích
+ Tập dượt nghiên cứu khoa học:
- Yêu cầu và các bước tiến hành:
+ Yêu cầu.
+ Các bước tiến hành.

+ Tập trung tư tưởng cao độ là gì?

* Phương pháp rèn luyện tư duy

+ Cách luyện "Tập trung tư tưởng cao độ".

* Phương pháp tương tác, hợp tác:


33

- Khái niệm
- Làm việc với thầy, với bạn:


34

Như chúng ta đã biết, quy trình cơ bản của quá trình dạy học là "Sự
thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp, được thể hiện:
Mục đích

+ Thời một
+ Thời hai
+ Thời ba
- Xêmina, một hình thức thảo luận ở Đại học:

Nội dung

Phương pháp

Mục đích ở Cao đẳng và Đại học là trang bị tri thức chuyên sâu và
phát triển năng lực chuyên ngành.
Cụ thể mục tiêu cách học, học phần Động vật học có xương sống cũng
giống như mục tiêu cách học chung, đó là: Cách nhận biết vấn đề, cách thu

+ Vị trí, tác dụng của Xêmina.

nhận thông tin, cách xử lý thông tin, cách hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều

+ Công tác chuẩn bị Xêmina.

chỉnh.... và các kỹ năng tương ứng.

+ Yêu cầu đối với hoạt động của người học trong quá trình Xêmina.

* Các phương pháp tự điều tra, điều chỉnh:
- Phân tích câu hỏi và lập dàn ý trả lời:
+ Phương pháp phân tích một vấn đề.
+ Phương pháp lập dàn ý trả lời cho một câu hỏi.
- Làm bài kiểm tra trắc nghiệm
- Chuẩn bị kiểm tra viết.
- Chuẩn bị thi bài luận.
- Học từ tín hiệu phản hồi.
Như vậy, trên cơ sở hiểu được các phương pháp tự học, ta có thể vận
dụng vào trong giảng dạy học phần Động vật học có xương sống - Sách dùng
cho SV CDDSP để hình thành năng lực tự học của học phần này.

Ví dụ: Trong học phần Động vật có xương sống (Chương VI chẳng
hạn) ta phải chỉ ra được:
* Mục tiêu cần đạt được của chương:
+ Về kiến thức:
- Chim có chung nhiều đặc điểm với tổ tiên bò sát của chúng.
- Chim là lớp có xương sống, đặc trưng thích nghi cao độ với đời sống
bay lượn.
- Chim có tập tính tiến hóa cao.
- Về kỹ năng: Rèn kỹ năng phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát...
- Thái độ: Giáo dục quan điểm duy vật biện chứng và lòng yêu thiên
nhiên (động vật).
* Từ đó xác định nội dung chính của chương.
- Chỉ ra những đặc điểm giống bò sát. Từ đó nêu nguồn gốc của chim.

1.6 KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC
PHẦN "ĐỘNG VẬT HỌC CÓ XƯƠNG SỐNG"

1.6.1. Tính tất yếu của việc hình thành năng lực tự học qua giảng

dạy học phần "Động vật học có xương sống"

- Chỉ ra những đặc điểm chung của lớp chim thích nghi cao độ với đời
sống bay lượn.
- Chỉ ra đặc điểm riêng của chim có tập tính tiến hóa cao.
* Cuối cùng đưa ra phương pháp dạy - học:


35

36

Có thể áp dụng phương pháp dạy - học theo cách giải quyết vấn đề. Ta
có quy tình gồm 6 bước liên tiếp như sơ đồ dưới đây:

hiện ra đã được giải quyết đến mức độ nào, thường là dựa trên những mặt
chất lượng, hiệu quả và triển vọng.
1.6.2. Khả năng hình thành năng lực tự học trong dạy học phần

Xác định vấn
đề

"Động vật học có xương sống"
Theo khuyến cáo của UNESCO (1996) thì mục đích đào tạo ở tiểu học
Thu thập và
phân tích tổng
hợp thông tin

Đánh giá
sự can thiệp


áp dụng kế
hoạch hành
động

Cụ thể:

Tìm giải pháp

là chuẩn bị và giúp cá thể biết học qua học viết học nói. Mục đích ở trung học
là chuyển giao tri thức. Mục đích ở Cao đẳng và Đại học là trang bị tri thức
chuyên sâu và phát triển năng lực phát triển chuyên ngành. Về mục đích lại có
ba cấp độ được diễn đạt như sau:
Mục đích xã hội

Mục đích đào tạo

Mục đích môn học

Từ những điều kiện trên mà ta thấy tính tất yếu của khả năng hình
Xây dựng một
kế hoạch hành
động

Bước 1: Xác định vấn đề (như mục tiêu)
Bước 2: Thu thập, phân tích tổng hợp thông tin

thành năng lực tự học trong dạy học phần Động vật học có xương sống - Sách
cao đẳng sư phạm đã được biên soạn theo hướng trang bị cho SV những tri
thức chuyên sâu và phát triển được năng lực tự học, phát triển chuyên ngành.

Thật vậy, nếu để hình thành và phát triển năng lực tự học cho SV ta có
thể dựa vào:
* Yếu tố thứ nhất: Là yếu tố tăng cường hướng dẫn học trong giờ lên

- Dựa vào giáo trình

lớp giáp mặt người học thì ta càng thấy rõ được cách bố trí trình bày nội dung

- Tài liệu tham khảo

của giáo trình hợp lý với mục đích môn học và từ đó ta có thể hình thành cho

Bước 3: Tìm giải pháp. Xây dựng cấu trúc nội dung chương

sinh viên năng lực tự học như:

Bước 4: Xây dựng một kế hoạch hành động: Dựa vào sự phân phối
chương trình giáo trình- Chương này học bao tiết để phân bổ hợp lý.
Bước 5: áp dụng kế hoạch hành động: Từng tiết tương ứng với từng
nội dung cần đạt.
Bước 6: Đánh giá sự can thiệp: Nhằm mục đích xác định giá trị của
nội dung so với những chỉ tiêu đề ra, tập trung vào xem xét những vấn đề phát

Mục đích

Nội dung

Phương pháp tự học

Mục đích của học phần: "Động vật học có xương sống" là:

- Kiến thức:
+ Trang bị cho người học đặc điểm cấu tạo gắn với chức phận sinh lý
và các hoạt động sống phù hợp với những điều kiện sống cơ bản và đặc trưng
cho mỗi lớp.


37

38

Vì sao vậy? Như trên ta đã nói việc trình bày nội dung ở các lớp là

+ Thấy tính đa dạng sinh học vốn sẵn có ở mỗi lớp động vật có xương

giống nhau. Vì vậy ta chỉ cần hướng dẫn cho sinh viên cách tự học khoảng 3

sống.
+ Phản ánh nguồn gốc, sự tiến hóa và ý nghĩa kinh tế của mỗi lớp
động vật có xương sống.
- Kỹ năng: Giúp SV nâng cao được khả năng quan sát, phân tích kỹ
năng thực hành và khả năng nhận biết thế giới động vật một cách toàn diện.

lớp là từ đó sinh viên sẽ tự lực nghiên cứu giáo trình mà xây dựng cấu trúc
nội dung học cho các lớp tiếp theo một cách dễ dàng.
Và cấu trúc nội dung các lớp về sau của động vật ngành dây sống có
thể được trình bày theo hình thức:
+ Hoặc lập đề cương

- Thái độ: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và lòng yêu quý


+ Hoặc lập bảng

động vật.

+ Hoặc sơ đồ hóa

Chính xuất phát từ mục đích chung của giáo trình "Động vật học có

+ Hoặc hình vẽ...

xương sống" như vậy mà việc trình bày nội dung cho mỗi lớp đều phân bố

- Về chất: Càng về cuối giáo trình càng hướng về việc xây dựng câu

theo các mục như sau:
I- Đặc điểm chung

hỏi, bãi tập, giúp cho người học tự mình nêu ra được nhiệm vụ học tập,
phương pháp học, câu hỏi để kiểm tra, đánh giá kết quả học. Như vậy, thay

II- Cấu tạo và hoạt động sống

việc giáo viên nêu mục tiêu bài học là nêu các câu hỏi để hướng dẫn học, nêu

III- Phân loại

câu hỏi để người học tự kiểm tra, bằng việc người học nêu ra được mục tiêu

IV- Sinh thái học
V- Nguồn gốc


bài học, nêu được cách học các nội dung dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Thật vậy, do đặc điểm cấu trúc nội dung của giáo trình "Động vật học
có xương sống" được trình bày như ta đã nhận thấy ở trên. Cho nên, càng về

VI- Ý nghĩa kinh tế

cuối giáo trình GV càng dễ dàng sử dụng các câu hỏi, bài tập, giúp người học

Mặt khác, cách bố trí trình bày nội dung của giáo trình "Động vật học

tự xác định được nhiệm vụ và phương pháp học tập, rồi tự kiểm tra, đánh giá

có xương sống" thể hiện được chiều hướng phát triển từ thấp đến cao tức là

được mình và từ đó đã hình thành cho SV năng lực tự học trong khi học học

thể hiện được sự tiến hóa của giới động vật.

phần "Động vật học có xương sống".

* Chính vì cách trình bày như vậy ta có thể hình thành cho sinh viên

Ví dụ: Khi dạy chương VIII (Học phần - "Động vật học có xương

năng lực tự học, học phần này, vì việc hướng dẫn tự học cần thể hiện được hai

sống"): Hướng tiến hóa qua các hệ thống cơ quan ngành động vật có dây

mặt là: Lượng và chất.


sống.

- Về lượng: Càng về cuối giáo trình, tỉ lệ thời gian dành cho thuyết
giảng so với hướng dẫn học càng giảm.

Sau khi nêu vấn đề (đó là tên cho một chủ đề), GV có thể nêu câu hỏi
thay cho phần nêu mục tiêu của chủ đề này như sau:


39

+ Câu hỏi 1: Vị trí chương VIII đặt sau cả thảy 7 chương cùng với tên
chủ đề như vậy em có nhận xét gì về việc bố trí thứ tự các chương của giáo
trình không?
+ Câu hỏi 2: Vậy thì chương VIII nhằm mục đích gì?
+ Câu hỏi 3: Với mục đích của chương như vậy em hãy nêu cách học
các nội dung của chương?
* Như vậy là từ yếu tố "Hướng dẫn học" như trên mà ta có thể thực
hiện tiếp được yếu tố thứ hai là: Tạo điều kiện thuận lợi để người học tự thể
hiện mình ở chỗ: Sau khi GV nêu ra một loạt câu hỏi như trên thì ở mỗi SV
(hoặc nhóm nhỏ) sẽ có suy nghĩ riêng để xác định mục tiêu của chủ đề này,
cũng như xây dựng cấu trúc nội dung của chủ đề với những cách khác nhau.
* Xuất phát từ hai yếu tố trên, ta cần yếu tố thứ ba là: tạo điều kiện để
người học được tự kiểm tra, tự đánh giá.
Thật vậy, sau yếu tố thứ hai, thì rõ ràng rằng mỗi sinh viên (hoặc
nhóm) có những sản phẩm (hay kết quả nghiên cứu riêng) khi được góp ý, bổ
sung, hoặc tranh luận với nhau. Sau đấy, dưới sự cố vấn, trọng tài của GV với
những tổng kết tối ưu mà SV có thể tự kiểm tra, tự đánh giá được mình. Cũng
có thể, GV đưa ra câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận,

nêu cấu tạo theo kiểu trả lời ngắn, để SV làm bài, rồi dựa trên kết luận của
GV, SV tự kiểm tra, tự đánh giá.
Ví dụ:
+ Câu hỏi 4: Chọn câu đúng nhất trong các câu sau:
- Thú là động vật có xương sống tiến hóa nhất
- Chim và thú đều là động vật có xương sống và đều tiến hóa hơn cả.
- Tất cả các động vật có dây sống là tiến hóa hơn.
+ Câu hỏi 5: Chọn câu đúng nhất trong các câu sau:

40

- Hệ thần kinh của bò sát, chim, thú tiến hóa nhất.
- Hệ thần kinh của tất cả động vật có xương sống tiến hóa nhất.
- Hệ thần kinh của chim, thú là tiến hóa hơn cả.
- Hệ thần kinh của thú tiến hóa nhất.
Tóm lại, đối với học phần "Động vật học có xương sống", đây là học
phần trong số các học phần của chương trình cao đẳng sư phạm dễ giảng dạy
theo hướng hình thành năng lực tự học cho sinh viên, để hình thành năng lực
tự học cho sinh viên khi học học phần này đạt hiệu quả cao cần có: "Tài liệu
hướng dẫn tự học" cho sinh viên.
1.7. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC Ở SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

1.7.1. Phương pháp xác định thực trạng
1.7.1.1. Phương pháp điều tra
* Đối với SV: Chúng tôi đã điều tra bằng các câu hỏi (Xem phụ lục).
* Đối với GV:
- Dự giờ cán bộ giảng dạy học phần "Động vật học có xương sống" ở
hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang
- Phỏng vấn với cán bộ trực tiếp giảng dạy học phần "Động vật học có
xương sống" bằng các câu hỏi:

+ Anh (chị) đã sử dụng phương pháp dạy học nào để hình thành năng
lực tự học cho SV?
+ Phương pháp dạy học mà anh (chị) dùng để giảng dạy học phần "Động
vật học có xương sống" theo hướng hình thành năng lực tự học cho SV có
được sử dụng thường xuyên hay không?
1.7.1.2. Phương pháp trò chuyện


41

42

Chúng tôi tiến hành trò chuyện trực tiếp với SV trong khoa Tự nhiên
và các GV giảng dạy bộ môn của khoa tự nhiên một cách khách quan, để thu
thập tài liệu cho việc nghiên cứu với các nội dung như sau:

học học phần "Động vật học có xương sống" qua dự giờ và phỏng vấn. Kết

* Đối với SV: Chúng tôi trao đổi với sinh viên về các nội dung như:
- Trao đổi để hiểu SV đã xây dựng phương pháp tự học của mình như
thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến phương pháp tự học của SV?
* Đối với GV: Trao đổi, trò chuyện để thu thập tài liệu cho việc
nghiên cứu đề tài với nội dung:
- GV đã sử dụng những phương pháp dạy học nào để hình thành năng
lực tự học cho SV?
- Trong khi giảng dạy giáo viên đã khích lệ năng lực tự học cho SV
bằng biện pháp nào?
1.7.1.3. Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát cách học của SV ở trên lớp, trên thư viện

và trong ký túc xá, để có thể đưa ra kết quả chính xác khách quan về vấn đề
nghiên cứu.
Dựa trên các phương pháp xác định thực trạng đó mà chúng tôi đã xác
định được kết quả:
- Về sử dụng phương pháp dạy học của GV.
- Về năng lực tự học của SV.
1.7.2. Kết quả thực trạng năng lực tự học ở sinh viên CĐSP
Trong 3 phương pháp xác định thực trạng nêu trên, chúng tôi sử dụng
phương pháp điều tra là chính và thu thập được những kết quả sau đây.
1.7.2.1. Về phía giáo viên

Chúng tôi xác định thực trạng phương pháp giảng dạy SV năng lực tự
quả thu được như sau:
Một giảng viên CĐSP đã dạy tiết 15-16 (theo phân phối chương trình
của Bộ Giáo dục và Đào tạo) là tiết 1+2 của chương V- Lớp bò sát- Động vật
học có xương sống - sách CĐSP - Nhà xuất bản Giáo dục:
GV đặt vấn đề vào bài: ở chương IV chúng ta đã nghiên cứu đặc điểm
hình thái cũng như nghiên cứu cấu tạo, chức phận chung của lớp lưỡng thê
thấy được chúng rất thích nghi với đời sống vừa ở dưới nước vừa ở trên cạn.
Vậy những nhóm lưỡng thê ở cạn liệu có phải là tổ tiên của lớp bò sát hay
không? Bài hôm nay chúng ta làm sáng tỏ vấn đề này:
Chương V: Lớp bò sát
Tiết 15-16: Lớp bò sát
GV trình bày bài giảng như sau:
Hoạt động của thầy
* GV đặt vấn đề vào phần I bằng câu
hỏi: Trong đời sống em hãy xếp những
động vật nào vào lớp bò sát? Chúng có
những đặc điểm nào chung?
* Tiếp theo GV đặt câu hỏi: Lớp bò sát

chúng có đặc điểm gì về cấu tạo và hoạt
động sống như thế nào?
Sau đó GV dùng phương pháp thuyết
trình để nêu

Hoạt động của trò
I- Đặc điểm chung

II- Cấu tạo và hoạt động sống

1) Cấu tạo ngoài bò sát
- Hình dạng cơ thể
- Vỏ da
Tiếp tục vẫn là phương pháp thuyết 2) Cấu tạo trong: Gồm các hệ cơ quan
trình nêu
- Bộ xương
- Hệ cơ
- Hệ tiêu hóa
- Hệ hô hấp
- Hệ tuần hoàn


43

- Hệ thần kinh
- Giác quan
- Hệ bài tiết
- Hệ sinh dục
- Sự phát triển của phôi
Cũng vẫn với phương pháp thuyết trình III. Phân loại bò sát hiện nay

GV chuyển sang giảng phần III, IV, V, IV. Sinh thái học
VI.
V. Nguồn gốc và sự tiến hóa
Bài tập về nhà: Xác định mục tiêu và VI. Ý nghĩa kinh tế của bò sát
nội dung cần đạt của chương V

Qua ví dụ trên và qua một số tiết dự giờ khác chúng tôi nhận thấy:
- Một là: GV chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình, giảng giải để
truyền đạt kiến thức cho SV. Trong giờ dạy của GV đã không có yếu tố

44

- Đối tượng điều tra:
+ Sinh viên năm thứ 1: Lớp hóa sinh K24 - Trường CĐSP Bắc Ninh
+ Sinh viên năm thứ 3: Lớp hóa sinh K22- Trường CĐSP Bắc Giang
- Nội dung điều tra: chúng tôi tập trung kiểm tra về nhận thức vấn đề
hình thành năng lực tự học cho SV các trường CĐSP hiện nay, qua việc dùng
phương pháp điều tra thông qua việc đặt câu hỏi cho 59 SV ở hai trường
CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang.
- Hình thức điều tra: Tiến hành trước khi dạy thực nghiệm chương VI
và VIII bằng một bài kiểm tra khách quan ở trên lớp với thời gian 20 phút
+ Nội dung bài kiểm tra: Câu 8 thuộc 11 câu hỏi (phụ lục)
Và chúng tôi đã thu được kết quả như bảng 1 dưới đây:

hướng dẫn SV tự học, hầu như GV dùng giáo trình để thông báo, thuyết trình

Bảng 1.1: Kết quả điều tra về mặt nhận thức vấn đề

lại. Mặc dù cũng đã ít nhiều đề cập đến phương pháp đặt, nêu và giải quyết


hình thành năng lực tự học cho sinh viên các trường CĐSP

vấn đề nhưng chưa thường xuyên.
- Hai là: Trong giờ lên lớp, GV chỉ chú trọng đến việc trang bị kiến
thức mà chưa chú ý yếu tố hình thành năng lực tự học cho SV. Như ở ví dụ
trên, GV chưa tổ chức cho SV năng lực tự xác định mục tiêu bài học, trên cơ
sở đó mà xây dựng cấu trúc nội dung bài học.
Tuy ở cuối bài giảng, GV có ra bài tập về nhà là xác định mục tiêu của
chương sau và nêu nội dung cần đạt của chương.
Chính vì cách giảng dạy như trên, nên khi điều tra về thực trạng học
của SV ở các trường CĐSP, chúng tôi thu được kết quả như sau:
1.7.2.2. Đối với sinh viên
* Thực trạng nhận thức (ý thức) về vấn đề hình thành năng lực tự học
ở SV CĐSP.

Trường CĐSP Bắc Ninh
Số bài đạt Tổng số Tỉ lệ %
Tốt
2
27
7.4
Khá
10
27
37.0
Trung bình
13
27
48.2
Yếu

2
27
7.4
Phân loại

Trường CĐSP Bắc Giang
Số bài đạt Tổng số
Tỉ lệ %
3
32
9.3
13
32
41.0
14
32
43.5
2
32
6.2

Qua kết quả bảng 1.1 chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Nhận thức chung về vấn đề hình thành năng lực tự học cho SV ở hai
trường là tương đương nhau
- Kết quả mặt nhận thức này là chưa cao thể hiện qua bảng là số SV
mà có nhận thức tốt về vấn đề này đạt tỷ lệ chưa cao. Trong đó SV thiếu nhận
thức về vấn đề này vẫn còn tồn tại.
- Mặt bằng nhận thức về vấn đề này ở hai trường là tương đương nhau
* Thực trạng có được về năng lực tự học ở SV CĐSP



45

46

- Đối tượng điều tra:

Qua bảng 1.2 chúng tôi có một số nhận xét:

+ Sinh viên năm thứ nhất - lớp Hóa - Sinh K24 - khoa tự nhiên -

- Một là: Kết quả về thực trạng năng lực tự học vốn có ở SV của cả

trường CĐSP Bắc Ninh

hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang là tương đương nhau.

+ Sinh viên năm thứ ba - lớp Hóa - Sinh K22 - Khoa tự nhiên trường
CĐSP Bắc Giang

- Hai là: Kết quả về năng lực tự học có được ở cả hai trường CĐSP là
còn thấp (tương đương tỉ lệ 14/27 và 15/32)

- Địa bàn điều tra: Trường CĐSP Bắc Ninh và Trường CĐSP Bắc

- Ba là: Cả hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang đều tồn tại SV
đạt điển kém tức là đạt điểm  3 và cả hai trường đều không có SV đạt điểm 

Giang.
- Nội dung điều tra: Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi đã tiến


8.

hành kiểm tra sinh viên ở hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang về khả

Tóm lại, về mặt kiến thức của cả hai trường và tương đương nhau và

năng hình thành năng lực tự học sau khi đã học xong năm chương bằng một

kết quả nhận thức về năng lực tự học cũng như khả năng tự học vốn có ở SV

bài kiểm tra thực nghiệm khách quan ở trên lớp 20 phút (câu hỏi mang tính

hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang còn thấp. Chính vì vậy cần đổi mới

chất hình thành năng lực tự học cho sinh viên)

phương pháp dạy học bộ môn này theo hướng "Hình thành năng lực tự học

- Nội dung bài kiểm tra: Câu hỏi: Anh (chị) hãy nêu sự tiến hóa về
mặt cấu tạo hệ tiêu hóa của 5 lớp thuộc động vật học có xương sống đã học?
- Kết quả điều tra: Thu được ở bảng 1.2

nghiệm sau khi học xong 5 chương đầu của giáo trình: Động vật học có
xương sống
Điểm (Đ)

* Thực trạng việc hình thành năng lực tự học của SV CĐSP.
 Đối tượng điều tra:


Bảng 1.2: Tổng hợp kết quả điều tra thực trạng năng lực tự học trước thực

Trường CĐSP Bắc Ninh

cho sinh viên CĐSP".

- SV năm thứ 1, lớp hóa sinh K24 - trường CĐSP Bắc Ninh.
- SV năm thứ 3, lớp hóa sinh K22 - trường CĐSP Bắc Giang.
 Nội

Trường CĐSP Bắc Giang

Số bài đạt

Tổng số
bài

Tỉ lệ
(%)

Số bài đạt

Tổng số
bài

Tỉ lệ
(%)

0 <Đ  3


1

27

3,8

2

32

6,2

3<Đ<5

12

27

44,4

15

32

46,6

5 Đ < 7

12


27

44,4

13

32

41

7 Đ < 8

2

27

7,4

2

32

6,2

8 Đ 10

0

27


0

0

32

0

dung: chúng tôi tập trung điều tra về:

- Kỹ năng xác định mục tiêu bài học.
- Kỹ năng phân tích và xây dựng cấu trúc nội dung bài học


Hình thức điều tra: Để điều tra được các kỹ năng này trước thực

nghiệm chúng tôi tiến hành cho SV tập dượt thử bằng một bài kiểm tra (cho
về nhà làm). Sau đó chấm bài cho SV để đánh giá thực trạng.
Câu hỏi kiểm tra: - Anh chị hãy xác định mục tiêu của chương V - lớp
bò sát. Từ đó phân tích và xây dựng cấu trúc nội dung cơ bản của chủ đề:


47

48

Trình bày mối quan hệ mật thiết về cấu tạo và chức phận của nhóm bò sát
thích nghi với đời sống chủ yếu ở cạn? Mà tiêu chí xác định thực trạng này,
chúng tôi dựa vào mục tiêu và yêu cầu cần phải làm của từng nhóm kỹ năng.
Sau khi chấm bài làm của sinh viên, chúng tôi thu được kết quả sau.

Bảng 1.3: Tổng hợp kết quả điều tra kỹ năng xác định mục tiêu bài học.
Kết quả
Các tiêu chí

CĐSP Bắc Ninh
(tổng số 27 bài)

4. Lựa chọn được cấu trúc bài
hợp lý

5

18,5

7

21,9

Qua số liệu của bảng 1.3, bảng 1.4 ta nhận thấy:
* Về mặt định lượng:
- Thứ nhất: Kết quả đánh giá các kỹ năng trong mỗi nhóm của SV ở
hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang là tương đương nhau.
- Thứ hai: Mức độ đạt yêu cầu của các kỹ năng trong mỗi nhóm SV

CĐSP Bắc Giang
(tổng số 32 bài)

của cả hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang là còn thấp.
Thể hiện:


Số bài đạt
yêu cầu

Tỷ lệ
%

Số bài đạt
yêu cầu

Tỷ lệ
%

1. Nêu đủ mục tiêu nhưng còn
sai về nội dung

5

18,5

6

18,7

2. Nêu đúng, đủ mục tiêu
nhưng còn thiếu về nội dung

15

55,6


18

56,3

thấp (tỷ lệ này tương ứng ở hai trường lần lượt là 18,5% và 18,7%).

3. Nêu đúng, đủ về mục tiêu
và nội dung

6

22,2

7

2,8

hơn song cũng chưa đáng kể (tỷ lệ này tương ứng ở hai trường lần lượt là

4. Diễn đạt mục tiêu đúng, rõ
ràng, mạch lạc

5

18,5

6

18,7


bảng kỹ năng xác định mục tiêu bài học ta thấy:

+ Tỷ lệ SV diễn đạt mục tiêu đúng, đủ, rõ ràng, mạch lạc là còn rất
+ Tỷ lệ sinh viên diễn đạt mục tiêu đúng, đủ về nội dung tuy có cao
22,2% và 21,8%)


Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả phân tích và xây dựng cấu trúc nội dung bài học
Kết quả
Các tiêu chí

Ở

CĐSP Bắc Ninh
(tổng số 27 bài)

CĐSP Bắc Giang
(tổng số 32 bài)

Số bài đạt
yêu cầu

Tỷ lệ
%

Số bài đạt
yêu cầu

Tỷ lệ
%


1. Xác định được nội dung cơ
bản của bài học.

16

59,3

18

56,7

2. Xây dựng được mô hình
cấu trúc nội dung bài học

9

33,3

11

34,4

3. Phát hiện được kiến thức
cần mở rộng, làm rõ

5

18,4


6

18,7

Ở bảng phân tích và xây dựng cấu trúc nội dung bài học ta nhận thấy

+ Kỹ năng phân tích, xây dựng cấu trúc nội dung bài học của cả hai
trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang đều chiếm tỷ lệ >50%.
+ Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên xây dựng mô hình cấu trúc nội dung của
bài học ở cả hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang đều còn thấp (tỷ
lệ này tương ứng ở hai trường lần lượt là 33,3% và 34,4%). Đặc biệt là tỷ lệ
SV lựa chọn được cấu trúc bài học hợp lý còn rất thấp (tỷ lệ này tương ứng ở
hai trường lần lượt là 18,5 và 21,9%). Song song với việc này là số SV phát
hiện ra kiến thức cần mở rộng và làm rõ còn yếu (tỷ lệ này tương ứng ở hai
trường lần lượt là 18,5% và 18,7%).
* Về mặt định tính:
Về kỹ năng xác định mục tiêu bài học:


49

Đa số SV khi xác định mục tiêu bài học chỉ đơn thuần là xác định chủ
đề nội dung bài học. Thực tế, mục tiêu phải là cái đích mà bài học đạt tới.
Ví dụ: Một SV lớp hóa sinh K24 - khoa Tự nhiên trường CĐSP Bắc
Ninh xác định mục tiêu bài học (Chương V - lớp bò sát) như sau:
Mục tiêu:
Về kiến thức:

50


- Chưa biết phân tích kiến thức cơ bản trong bài học như: SV thường
dựa vào những hàng chữ in nhỏ, in nghiêng trong bài học.
- Hoặc dựa vào phần kết luận (tóm lại) ở cuối bài học để tìm ra những
ý chính.
- Đa số SV còn rất hạn chế về khả năng phát hiện ra những chỗ cần bổ
sung, chỉnh sửa, cần giải thích.

+ Nêu đặc điểm chung của lớp bò sát.

- Đặc biệt, SV chưa biết cách phân tích cấu trúc logic nội dung bài học.

+ Nắm được cấu tạo và hoạt động sống bò sát.

Ví dụ: Khi tiến hành kiểm tra một SV lớp hóa sinh K22 - khoa Tự

+ Phân loại được bò sát hiện nay.
+ Nắm được đặc điểm sinh thái học, nguồn gốc và sự tiến hóa của bò sát.
+ Hiểu được giá trị kinh tế của bò sát.

nhiên ở trường CĐSP Bắc Giang, đã phân tích nội dung bài học: lớp bò sát
(Reptilia) - giáo trình Động vật học có xương sống - dùng cho CĐSP như sau:
Bài gồm các nội dung chính như sau:

- Kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng quan sát, so sánh.

I: Đặc điểm chung của lớp bò sát.

- Thái độ: Giáo dục lòng yêu quý thiên nhiên.

II: Cấu tạo và hoạt động sống.


Việc xác định mục tiêu như trên là chưa toát lên được cái đích cần đạt

III: Phân loại bò sát hiện nay.

tới, và ta thấy có rất nhiều SV diễn đạt mục tiêu kiểu chung chung như trên.
Hoặc khi xác định mục tiêu SV thường dùng các động từ khó đo đếm được
như: "Nêu", "nắm được", "hiểu được", " phân tích được".
Tóm lại, SV chưa nắm được quy tắc diễn đạt mục tiêu, khi cần diễn

IV: Sinh thái học.
V: Nguồn gốc của bò sát.
VI: ý nghĩa kinh tế của bò sát.

đạt mục tiêu chưa xác định được đầu ra, mục tiêu chưa định rõ được mức độ

Như vậy, qua bài phân tích trên của SV lớp hóa sinh K22 - CĐSP Bắc

hoàn thành công việc của SV. Mục tiêu chưa nói được cái đích của bài học

Giang nói riêng, cũng như đa số các SV khác nói chung mới chỉ xác định được

cần đạt tới và các mục tiêu chưa đo được. Đây là điểm cần chú ý khi hướng

nội dung cơ bản của bài theo kiểu liệt kê các mục chính của giáo trình, chứ SV

dẫn SV hình thành năng lực tự học. Vì có xác định được mục tiêu đúng, đủ thì

chưa phân tích được logic của bài học trong giáo trình, cũng như chưa hiểu được


việc xây dựng cấu trúc nội dung cơ bản của bài học mới được thiết kế chuẩn

tại sao giáo trình lại trình bày theo cấu trúc như vậy. Vì vậy, SV chưa lựa chọn

xác.

được cấu trúc bài hợp lý.


Về kỹ năng phân tích nội dung bài học: Nhìn chung SV mắc phải:

1.7.3. Nguyên nhân của thực trạng


×