LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những bước tiến vĩ đại của nền sản xuất hàng hóa là sự phân
công và hợp tác lao động quốc tế. Chuyên môn hóa và hợp tác trong các lĩnh
vực sản xuất và dịch vụ đã tạo ra năng suất lao động và chất lượng lao động
ngày càng tăng đang là xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại, và điều
này cũng không phải ngoại lệ đối với lĩnh vực vận tải.
Như chúng ta biết,vận tải biển là một trong những ngành công nghiệp quốc
tế hàng đầu thế giới và được xếp vào loại đứng đầu trong hoạt động kinh tế thế
giới. Vận tải biển là một phương thức vận tải rẻ tiền, năng lực chuyên chở lớn,
giá thành vận tải đường biển thấp hơn so với phương thức vận tải khác. Vận tải
biển tạo điều kiện cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu, giao lưu
văn hoá, thông tin, khoa học kỹ thuật giữa các vùng trên thế giới.
Vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng đang có những bước chuyển
biến quan trọng theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc. Các dịch vụ hỗ
trợ cho hoạt động vận tải như: cung ứng, làm thủ tục cho tàu ra vào cảng, tìm và
gom hàng hóa, tư vấn về thị trường đang được phát triển rất nhanh và được cung
cấp bởi bên thứ ba, những dịch vụ đó gọi chung là dịch vụ giao nhận vận tải. Sử
dụng những dịch vụ này đem lại nhiều lợi ích to lớn cho các bên như các nhà
kinh doanh xuất nhập khẩu, người kinh doanh vận tải bởi tính hiệu quả về
chuyên môn do dịch vụ giao nhận mang lại. Hoạt động giao nhận luôn gắn liền,
tạo thuận lợi và đẩy mạnh quá trình vận tải, đặc biệt là vận tải biển.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giao nhận vận tải đường
biển đối với sự phát triển của kinh tế, trong quá trình thực tập tại công ty Cổ
phần Tiếp vận Siêu tốc - một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
logistic tại Việt Nam, em đã cố gắng tìm hiểu về qui trình hoạt động giao nhận
hàng hóa xuất nhập khẩu, về những ưu nhược điểm của qui trình giao nhận hiện
tại mà công ty đang áp dụng để từ đó có thể đề xuất những giải pháp khắc phục
những nhược điểm, những thiếu sót còn tồn tại. Những kiến thức thực tế đã giúp
em hiểu rõ hơn các kiến thức mà em đã được học ở trường, lớp và giúp em có
thêm kiến thức, kỹ năng để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình: “Tổ chức
giao nhận lô hàng gỗ dán xuất khẩu đóng trong container tại Công ty Cổ phần
Tiếp vận Siêu tốc”.
Nội dung của luận văn tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
Chương 2: Tổ chức giao nhận lô hàng gỗ dán xuất khẩu đóng trong
container của Công ty Cổ phần Tiếp vận Siêu tốc năm 2016
Chương 3: Đánh giá và nêu các biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt
động giao nhận hàng hóa bằng container của công ty.
Trong suốt quá trình thực tập tại công ty và hoàn thành luận văn tốt nghiệp,
em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, các anh chị trong công ty cùng
bạn bè và những người thân trong gia đình. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới thạc sĩ Bùi Thanh Hải, người đã hướng dẫn, chỉ bảo và tận tình giúp đỡ để
em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Em cũng xin cảm ơn các anh chị
trong công ty đã giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian em thực tập tại công ty. Và
cuối cùng, em xin chúc cho tất cả mọi người luôn hạnh phúc, sức khỏe dồi dào,
đạt được nhiều thành công trong cuộc sống. Em xin chân thành cảm ơn.
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN
HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1 Vận tải biển – vai trò của vận tải biển
Việc thông thương buôn bán hàng hóa đóng vai trò quan trọng đối với
mỗi quốc gia. Để vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu người ta sử dụng nhiều
phương thức khác nhau như: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng
không… Nhưng đến nay, vận tải đường biển vẫn giữ một vị trí quan trọng trong
các phương thức vận tải hàng hoá. Có được vai trò quan trọng như vậy là do vận
tải biển có những ưu điểm vượt trội như:
- Chi phí cho việc xây dựng, cải tạo, bảo dưỡng các tuyến đường biển thấp
vì hầu hết là những tuyến giao thông tự nhiên (trừ các cảng biển).
- Năng lực chuyên chở của phương tiện vận tải biển thường rất lớn: một
tuyến có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai
chiều, đồng thời phương tiện vận tải biển có thể chở được hầu hết các loại hàng
hóa với khối lượng lớn.
-Vận tải bằng đường biển còn tỏ ra đặc biệt có ưu thế trong việc vận chuyển
nhiều loại hàng hóa khác nhau, đặc biệt là khả năng sử dụng để vận chuyển các
container chuyên dụng.
1.2 Lý luận chung về giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển
1.2.1 Giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển
1.2.1.1 Tính tất yếu khách quan về sự ra đời của dịch vụ giao nhận
Trong buôn bán quốc tế, sau khi hợp đồng được ký kết thì người bán thực
hiện nghĩa vụ giao hàng cho người mua, tức là hàng hóa được vận chuyển từ
nước người bán đến nước người mua. Đặc điểm nổi bật của mua bán quốc tế là
người mua, người bán ở những nước cách xa nhau. Tùy theo thỏa thuận giữa hai
bên mà nghĩa vụ tổ chức vận chuyển hàng được giới hạn ở những mức độ khác
nhau. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục được và kết thúc
được, tức là hàng hóa đến tay người mua được, cần phải thực hiện hàng loạt
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
công việc có liên quan đến quá trình chuyên chở như: đóng gói, bao bì, lưu kho,
đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng
hóa ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận. Các công ty sản
xuất thường không có nhiều chuyên gia và sự đầu tư về lĩnh vực này, hơn nữa
họ nhận thấy cần phải tập trung vào ngành sản xuất chính của công ty để tìm
kiếm lợi nhuận. Chính vì thế, các công ty dịch vụ giao nhận đã ra đời để thực
hiện các dịch vụ này thay cho các công ty sản xuất.
1.2.1.2 Khái niệm về giao nhận và hoạt động giao nhận
Trong hoạt động mua bán quốc tế, sau khi hợp đồng được ký kết thì người
bán thực hiện trách nhiệm giao hàng cho người mua. Tùy theo thỏa thuận giữa
hai bên mà nghĩa vụ tổ chức vận chuyển hàng được giới hạn ở những mức độ
khác nhau. Để thực hiện được trọn vẹn việc vận chuyển hàng từ tay người bán
đến tay người mua phải trải qua hàng loạt công việc như: bao bì, đóng gói, làm
thủ tục hải quan, bốc hàng, vận chuyển, chuyển tải, dỡ hàng, giao cho người
nhận… thì những công việc đó gọi là dịch vụ giao nhận. Nhưng để có một khái
niệm thống nhất về dịch vụ này, thì hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo Liên đoàn Hiệp hội Giao nhận Quốc tế FIATA: Dịch vụ giao nhận là bất
kỳ dịch vụ nào liên quan đến việc vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp,
đóng gói, hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan
đến các dịch vụ kể trên, kể cả vấn đề hải quan tài chính, mua bảo hiểm, thanh
toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo điều 136 Luật Thương mại
Việt Nam, dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm
dịch vụ giao nhận hàng hóa từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,
làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao nhận hàng hóa
theo sự ủy thác của chủ hàng hoặc của chủ các phương tiện vận tải. Nói một
cách ngắn gọn, giao nhận hàng hóa là tập hợp những qui trình, thủ tục, nghiệp
vụ có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng từ nơi
gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2.1.3 Đặc điểm của nghiệp vụ giao nhận
Do cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ giao nhận vận tải cũng mang
những đặc điểm chung của dịch vụ, đó là nó là hàng hóa vô hình nên không có
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, sản xuất
và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận
của người được phục vụ. Nhưng do đây là một hoạt động đặc thù nên nó cũng
có những đặc điểm riêng như:
- Dịch vụ giao nhận vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất, nó chỉ làm đối tượng
thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động kỹ thuật làm thay đổi các
đối tượng đó. Nhưng giao nhận vận tải lại có tác động tích cực đến sự phát triển
của sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.
- Mang tính thụ động: đó là do dịch vụ này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của
khách hàng, các qui định của người vận chuyển, các ràng buộc về mặt luật pháp,
thể chế của chính phủ (nước nhập khẩu, nước xuất khẩu, nước thứ ba…)
- Mang tính thời vụ: dịch vụ giao nhận là dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất
nhập khẩu nên nó phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. mà
thường hoạt động xuất nhập khẩu mang tính chát thời vụ nên hoạt động giao
nhận cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ.
- Ngoài những công việc như làm thủ tục, môi giới, lưu cước, người làm dịch vụ
giao nhận còn tiến hành các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, bốc xếp,
nên để hoàn thành công việc tốt hany không còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật
chất và kỹ thuật và kinh nghiệm của người giao nhận.
1.2.1.4 Vai trò của nghiệp vụ giao nhận đối với sự phát triển của
Thương mại quốc tế.
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống xã hội hiện nay, cũng như là sự mở rộng
giao lưu hợp tác thương mại giữa các nước, đã khiến cho giao nhận ngày càng
có vai trò quan trọng. Điều này được thể hiện ở :
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
+ Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh chóng, an toàn và
tiết kiệm mà không có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận
vào tác ngiệp.
+ Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của
các phương tiện vận tải, tận dụng được một cách tối đa và có hiệu quả dung tích
và tải trọng của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải, cũng như các
phương tiện hỗ trợ khác.
+ Giao nhận làm giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu.
+ Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các
chi phí không cần thiết như chi phí xây dựng kho tàng bến bãi của người giao
nhận hay do người giao nhận thuê, giảm chi phí đào tạo nhân công.
1.2.2 Người giao nhận
1.2.2.1 Khái niệm và địa vị pháp lý của người giao nhận
Người giao nhận là người thực hiện các dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác
của khách hàng hoặc người chuyên chở. Nói cách khác, người kinh doanh các
dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận. Người giao nhận có thể là chủ hàng
(khi anh ta tự đứng ra thực hiện các công việc giao nhận cho hàng hoá của
mình), có thể là chủ tàu ( khi chủ tàu thay mặt người chủ hàng thực hiện các
dịch vụ giao nhận ), công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên
nghiệp hay bất kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó.
Theo Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận FIATA: “Người giao nhận
là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng uỷ thác và hành
động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người
chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan
đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hảI
quan, kiểm hoá …”
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Do tính chất công việc, người giao nhận có thể đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau nên hiện nay chưa có luật quốc tế về người giao nhận. Địa vị pháp lý
của người giao nhận rất khác nhau đối với từng nước như: có nước áp dụng tập
quán luật như khối Liên hiệp Anh, cũng có nước áp dụng luật dân sự như
Pháp…. Ở nhiều nước, các hiệp hội giao nhận xây dựng các điều kiện kinh
doanh chuẩn, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao
nhận. Nơi chưa có điều kiện kinh doanh chuẩn thì căn cứ vào hợp đồng giữa
người giao nhận và khách hàng.
1.2.2.2 Phạm vi dịch vụ của người giao nhận
Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ
lợi ích của chủ hàng.
Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải, anh
ta có thể sử dụng phương tiện vận tải, thuê mướn người vận tải.
Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác
trong phạm vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo
những điều khoản đã cam kết.
Phạm vi các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận
kho vận. Trừ khi bản thân người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tự mình
tham gia vào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, còn thông thường người giao
nhận có thể thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liêụ quá trình
vận chyển hàng hoá qua các công đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng.
Người giao nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý
hoặc thuê dịch vụ của người thứ ba khác.
Những dịch vụ mà nguời giao nhận thường tiến hành là:
+ Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở
+ Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi ga, cảng,
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
+Tổ chức xếp dỡ hàng hoá,
+ Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá,
+ Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước,
+ Làm thủ tục nhận hàng, gửi hàng,
+ Làm thủ tục hải quan,kiểm nghiệm, kiểm dịch,
+ Mua bảo hiểm cho hàng hoá,
+ Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhận hàng, gửi hàng,
+ Thanh toán, thu đổi ngoại tệ,
+ Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người
nhận
+ Thu xếp chuyển tải hàng hóa
+Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận,
+ Gom hàng, lựa chon tuyến đường chuyên chở, phương thức vận tải và
người chuyên chở thích hợp.
+ Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hoá,
+ Lưu kho, bảo quản hàng hoá,
+ Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến quá trình vận
chuyển hàng hoá,
+ Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi...
+ Thông báo tình hình đi và đến của phương tiện vận tải,
+ Thông báo tổn thất với người chuyên chở,
+ Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại, đòi bồi thường.
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ngoài ra, người giao nhận cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu của
chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình xây dựng lớn,
vận chuyển quần áo may sẵn trong các container đến thẳng cửa hàng, vận
chuyển hàng triển lãm ra nước ngoài...Đặc biệt trong những năm gần đây, người
giao nhận thường cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là MTO
và phát hành cả chứng từ vận tải.
1.2.2.3 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
• Môi giới hải quan (Custom Broker): Họ chỉ hoạt động trong nước với nhiệm vụ
là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu như một môi giới hải quan. Sau
đó mở rộng phục vụ hoạt động cả hàng xuất khẩu và dành chở hàng trong vận
tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người xuất khẩu
hoặc người nhập khẩu tùy thuộc vào hợp đồng mua bán ngoại thương.
• Đại lý (Agent): Trước đây người giao nhận không đảm nhiệm trách nhiệm của
người chuyên chở. Người giao nhận chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người
gửi hàng và người chuyên chở, như một đại lý của người chuyên chở và người
gửi hàng.
• Người gom hàng (Consolidator): Dịch vụ này đã xuất hiện sớm ở châu âu chủ
yếu phục vụ cho đường sắt. đặc biệt trong vận chuyển hàng hóa bằng container
dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ thành hàng hàng
nguyên để tận dụng sức chứa, sức chở của container và giảm cước phí vận
chuyển. khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò là người
vận tải hoặc chỉ là đại lý.
• Người chuyên chở (Carrier): Hiện nay trong nhiều trường hợp người giao
nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký kết
hợp đồng vận chuyển với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ
nơi này đến nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở
theo hợp đồng, nếu người giao nhận ký hợp đồng chuyên chở thì họ đóng vai trò
là người chuyên chở thực tế.
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
• Lưu kho bãi hàng hóa: Trong trường hợp khách hàng yêu cầu lưu kho bãi
hàng hóa trước khi xuất và sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ bố trí phương
tiện của mình có và phân phối theo yêu cầu.
• Lo liệu chuyển tải và gửi tiếp hàng hóa: Khi hàng hoa phải chuyển tải hoặc
quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ
chức chuyên chở hàng hóa từ phương tiện vận tải này tới phương tiện vận tải
khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
• Người kinh doanh vận tải đa phương thức: Trong trường hợp người giao nhận
cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hay còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa thì người
giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương thức. người
kinh doanh vận tải đa phương thức thực chất là người chyên chở, thường là
ngươì chuyên chở theo hợp đồng và phải chịu trách nhiệm với hàng hóa.
Người giao nhận còn được coi là kiến trúc sư của vận tải, vì người giao
nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiêt
kiệm nhất.
1.2.2.4. Quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao nhận
1.2.2.4.1 Những căn cứ luật pháp về địa vị pháp lý của người giao nhận
Cho đến nay, chưa có một văn bản luật pháp quốc tế nào về lĩnh vực giao
nhận, nên địa vị pháp lý của người giao nhận ở từng nước khác nhau, tuỳ theo
luật pháp hiện hành ở nước đó. ở những nứơc theo luật common law, là luật
không thành văn thì địa vị pháp lý của người giao nhận dựa trên khái niệm về
đại lý, thường là đại lý uỷ thác. Người giao nhận lấy danh nghĩa của người uỷ
thác để giao dịch cho công việc của người uỷ thác. Hoạt động của người giao
nhận khi đó phụ thuộc vào những quy tắc truyền thống về đại lý, như phải mẫn
cán thực hiện nhiệm vụ của mình, phải trung thực với người uỷ thác, tuân theo
những chỉ dẫn của người ủy thác, mặt khác được hưởng những quyền bảo vệ và
giới hạn trách nhiệm phù hợp với vai trò của một đại lý. Trong trường hợp,
người giao nhận đảm nhận trách nhiệm của một bên chính, tự mình ký kết hợp
đống sử dụng người chuyên chở và các đại lý, thì anh ta không được hưởng
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
nhứng quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm nói trên và anh ta phải chịu trách
nhiệm cho cả quá trình vận tải hàng há kể cả khi hàng nằm trong tay những
người chuyên chở và đại lý mà anh ta sử dụng.
Ở các nước có luật dân sự (Civil law), như các nước Châu Âu, người giao
nhận theo thể chế đại lý hưởng hoa hồng. Đặc điểm của thể chế này là người đại
lý hưởng hoa hồng vừa là bên chính, vừa là đại lý. Đối với khách hàng, anh ta là
đại lý, nhưng đối các hợp đồng anh ta đã ký kết dể thực hiện được nhiệm vụ
được khách hàng uỷ thác, thì anh ta lại là bên chính.
Như vậy người giao nhận có bổn phận của người đại lý và cũng có quyền
hạn của một bên chính để đòi hỏi thức hiện các hợp đồng mà anh ta ký kết để
chuyên chở hàng của khách hàng. Tuy nhiên, thể chế mỗi nước có những điểm
khác nhau. Nhiều nước, căn cứ vào luật quốc gia, các hiệp hội giao nhận xây
dựng điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy đinh quyền hạn, nghĩa vụ, trách
nhiệm của người giao nhận. Những nơi chưa áp dụng điều kiện kinh doanh tiêu
chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng phải xác đinh rõ nhiệm
vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mỗi bên.
1.2.2.4.2 Quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao nhận
Như vậy, có thể phân biệt quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao
nhận khi đóng vai trò là người đại lý và khi đóng vai trò là người uỷ thác. Ở địa
vị nào, người giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hoá được uỷ thác,
thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề liên quan đến
vận tải hàng hoá. Nhưng khi là đại lý, anh ta chấp nhận trách nhiệm do lỗi lầm
sai sót của mình và của người làm công cho mình. Lỗi lầm sai sót đó có thể là
giao hàng sai chỉ dẫn, gửi sai địa chỉ, lập chứng từ nhầm lẫn, làm sai thủ tục hải
quan, quên thông báo cho khách hàng phải lưu kho tốn kémv.v...Anh ta không
nhận trách nhiệm về tổn thất do lỗi của bên thứ ba miễn là anh ta đã biểu hiện
quan tâm chu đáo trong việc lựa chọn bên thứ ba đó. Còn khi anh ta đóng vai trò
bên chính, thì ngoài những trách nhiệm của đại lý nói trên anh ta còn chịu những
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
trách nhiệm về hành vi sơ xuất của bên thứ ba mà anh ta sử dụng để thực hiện
hợp đồng. ở trường hợp này, anh ta thường thương lượng với khách hàng khoản
giá dịch vụ (giá khoán, giá trọn gói) chứ không phải chỉ nhận khoản hoa hồng
như đại lý. Người giao nhận thường đóng vai trò là bên chính khi đóng hàng lẻ
gửi đi, khi kinh doanh dịch vụ vận tải đa phương thức, khi đảm nhận tự vận
chuyển hàng hoá hay nhận bảo quản hàng hoá trong kho của minh. Quyền hạn
của người giao nhận khi đóng vai trò đại lý hay khi là bên chính, trong việc
hưởng giới hạn trách nhiệm cũng như trong việc thực hiện quyền gửi hàng đều
như nhau.
Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận được qui định trong điều 167 Luật
Thương Mại Việt Nam:
1. Được hưởng phí dịch vụ và các chi phí khác.
2. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích khách
hàng thì có thể thực hiện khác với các chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông
báo ngay cho khách hàng trừ khi có thỏa thuận khác.
4. Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực
hiện được toàn bộ hoặc một phần hợp đồng những chỉ dẫn của khách hàng, thì
phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.
5. Trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện
nghĩa vụ đối với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời
hạn hợp lý.
6. Khi đảm nhận các công việc vận chuyển hàng hóa thì phải tuân thủ các qui định
của pháp luật, tập quán chuyên ngành về vận tải.
• Trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người giao nhận
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Trừ những điều khác đã quy định trong Các điều kiện kinh doanh chuẩn,
trách nhiệm của người giao nhận, trong mọi trường hợp, đối với bất kỳ sự cẩu
thả hay lỗi lầm hoặc sự cố hay sự kiện khác dù xảy ra thế nào và bất cứ nguyên
nhân gây ra mất mát, hư hỏng không giải thích được, sẽ không vượt qúa 500
triệu đồng/vụ khi họ hành động không phải là đại lý.
- Nếu người giao nhận hành động như người chuyên chở thì giới hạn trách
nhiệm được quy định theo luật vận tải.
- Trong trường hợp người giao nhận là MTO, khách hàng không khai báo rõ
về giá trị của hàng hoá bằng văn bản trước khi gửi hàng thì giới hạn trách
nhiệm là 666,67 SDR/kiện hoặc 2 SDR/kg trọng lượng toàn bộ của hàng hóa bị
tổn thất, bên khiếu nại được quyền lựa chọn phương án bồi thường nào có lợi
nhất. Nếu quá trình vận tải không liên quan đến vận tải biển thì người giao nhận
phải bồi thường 8,33 SDR/kg trọng lượng của hang hóa bị tổn thất. Nếu khách
hàng khai báo trung thực giá trị của hàng hóa bằng văn bản trước khi gửi hàng
thì người giao nhận phải bồi thường đúng giá trị của hàng hóa đã được khai
báo. Giá trị của hàng hóa được xác định theo hóa đơn thương mại. Nếu không
có hóa đơn thương mại thì xác định theo giá thị trường tại thời gian và địa điểm
xảy ra tổn thất, hoặc được tham chiếu theo giá thông thường của hàng cùng loại
có chất lượng tương đương.
Người giao nhận được miễn trách nhiệm trong những trường hợp:
- Hành động hoặc sự sơ suất của khách hàng hoặc chủ hàng hay bất kỳ
người nào hoạt động nhân dang họ.
- Đã làm theo đúng hướng dẫn của khách hàng, chủ hàng hay bất kỳ người
nào được ủy quyền trao hướng dẫn cho công ty đó.
- Việc đóng gói và ghi nhãn mác hàng hóa không phù hợp trừ trường hợp
dịch vụ này do chính người giao nhận thực hiện.
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Bốc hàng (đóng hàng), xếp hàng hay dỡ hàng do khách hàng, chủ hàng
hoặc bất kỳ người nào nhân danh họ thực hiện.
- Những tì vết hay khuyết tật bên trong hàng hóa.
- Các cuộc nổi loạn, đình công, bế xưởng, ngừng làm việc hay gấy rối của
công nhân dù với bất kỳ lý do nào.
- Người giao nhận đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, hợp lý nhằm ngăn
ngừa và hạn chế tổn thất mà vẫn không thể tránh khỏi được những hậu quả phát
sinh sau đó của nó.
1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của khách hàng
- Lựa chọn người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đáp ứng với yêu cầu của mình.
- Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá vi phạm
hợp đồng.
- Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá.
- Thông tin đầy đủ, chi tiết và chính xác về hàng hoá cho người làm dịch vụ giao
nhận hàng hoá.
- Ðóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá theo hợp đồng mua bán hàng hoá, trừ trường
hợp người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đảm nhận công việc này.
- Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí phát sinh cho người làm dịch vụ giao nhận
hàng hoá nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của khách hàng hoặc do lỗi
của khách hàng gây ra.
- Trả cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá mọi khoản tiền đã đến hạn thanh
toán.
1.2.4 Luật chi phối hoạt động giao nhận
1.2.4.1 Luật quốc gia:
• Luật thương mại 2005:
Điều 233: Dịch vụ logistics: định nghĩa về dịch vụ logstic
Điều 234: điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Điều 235: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics
Điều 236: Quyền và nghĩa vụ của khách hàng
Điều 237: Các trường hợp miễn trách đối với thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistic
Điều 238: Giới hạn trách nhiệm
Điều 239: Quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa
Điều 240:Nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi cầm
giữ hàng hóa.
• Bộ luật Hàng hải 2005:
Điều 74 đến điều 97 có quy định về quyền và nghĩa vụ của người vận
chuyển, trách nhiệm của người vận chuyển và các nôi dung liên quan đến chứng
từ trong quá trình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, thời gian khiếu nại…
Và một số bộ luật khác như: Luật Giao thông đường bộ 2005, Luật Doanh
nghiệp 2005, Luật Hải quan 2005.
• Một số nghị định liên quan:
- Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007: quy định chi tiết luật Thương
mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối
với thương nhân kinh doanh dịch vụ.
- Nghị định 87/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009 về vận tải đa phương thức.
1.2.4.2 Một số luật quốc tế có liên quan:
• Công ước Viên 1980 về buôn bán quốc tế
• Quy tắc Hague 1924 và các nghị định thư 1968 và 1979: trong quy tắc này
có quy định về thời hạn và trách nhiệm của người vận chuyển, cơ sở trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của người vận chuyển, thông báo tổn thất và
thời hạn khiếu nại.
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
• Quy tắc Humburg 1978(Humburg Rules-1978): quy tắc có hiệu lực từ
ngày 1/11/1992.
• Quy tắc Rotterdam 2010.
1.2.5 Các tổ chức giao nhận trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.5.1 Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận- FIATA (Fédération
Internationale des Associatión de transitaires et Assimiles)
FIATA là tên gọi viết tắt từ tiếng Pháp của Liên đoàn các Hiệp hội Giao
nhận Vận tải Quốc tế "Fédération Internationale des Associations de Transitaires
et Assimilés", tên chính thức bằng tiếng Anh là "International Federation of
Freight Forwarders Associations".
Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (FIATA) thành lập năm 1926 là tổ
chức giao nhận vận tải lớn nhất thế giới. FIATA là một tổ chức phi chính trị tự
nguyện, là đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 nước trên thế giới.
Thành viên của FIATA là hội viên chính thức và hội viên hợp tác. Hội viên
chính thức là Liên đoàn giao nhận của các nước, còn Hội viên hợp tác là các
công ty giao nhận riêng lẻ.
FIATA được thừa nhận của các cơ quan Liên hiệp quốc như Hội đồng kinh
tế xã hội LHQ (ECOSOC), Uỷ ban Châu Âu của Liên hiệp quốc (ECE),
ESCAP... FIATA cũng được các tổ chức liên quan đến buôn bán và vận tải như
Phòng thương mại quốc tế, Hiệp hội vận chuyển Hàng không quốc tế (IATA),
các tổ chức chuyên chở và chủ hàng... thừa nhận.
Thành lập vào ngày 31/05/1926 và liên tục phát triển, trong nhiều năm qua
FIATA đã trở thành người đại diện cho giới cung cấp dịch vụ logistics chuyên
nghiệp toàn cầu. Thành viên của FIATA chủ yếu là các Hiệp hội Giao nhận và
Logistics của các Quốc gia. Hiện tại, Hiệp hội có khoảng 40.000 công ty Giao
nhận và Hậu cần Logistics tại 150 Quốc gia. FIATA có tư vấn cho Hội đồng
Kinh tế và Xã Hội (ECOSOC) của Liên Hiệp quốc ( bao gồm ECE, ESCAP,
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ESCWA); Hội nghị Liên Hiệp quốc về Thương Mại và Phát triển (UNCTAD) và
Uỷ Ban Liên Hiệp quốc về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL).
FIATA được công nhận là đại diện là ngành giao nhận vận tải cho nhiều tổ
chức, cơ quan chính phủ, các tổ chức tư nhân quốc tế trong lĩnh vực giao nhận
vận tải như Phòng thương mại quốc tế (ICC), Hiệp hội Hàng không Quốc tế
(IATA); Liên minh Quốc tế đường sắt (UIC); Liên minh Giao thông đường bộ
Quốc tế (Iru); Tổ chức Hải quan thế giới (WCO); Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO),... Slogan hiện tại của FIATA là “Global Voice of Freight Logistics”.
Mục tiêu hoạt động của FIATA
- Hiệp nhất ngành giao nhận vận tải quốc tế.
- Đại diện, thúc đẩy và bảo vệ lợi ích của ngành bằng cách tham gia làm cố
vấn hoặc chuyên gia tại các cơ quan quốc tế kinh doanh giao thông vận tải
(phương tiện vận tải)
- Mở rộng các dịch vụ thương mại của các nhà giao nhận đến mọi người
thông qua việc phổ biến thông tin, phát hành ấn phẩm,..
- Nâng cao chất lượng dịch vụ của các nhà giao nhận bằng cách phát triển
và thúc đẩy điều kiện kinh doanh chuẩn quốc tế, đồng nhất tài liệu giao nhận,...
- Hỗ trợ, đào tạo nghề giao nhận hàng hóa, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý,
công cụ thương mại điện tử như trao đổi dữ liệu điện tử, mã vạch,...
Phạm vi hoạt động của FIATA rất rộng, thông qua hoạt động cuả hàng loạt tiểu
ban:
- Tiểu ban về các quan hệ xã hội.
- Tiểu ban nghiên cứu về kỹ thuật vận chuyển đường bộ, đường sắt , hàng
không.
- Uỷ ban về vận tải đường biển và vận tải ĐPT.
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Tiểu ban luật pháp, chứng từ bảo hiểm.
- Tiểu ban về đào tạo nghề nghiệp.
- Uỷ ban về đơn giản hoá thủ tục mua bán.
- Tiểu ban về Hải quan...
Hiện nay nhiều công ty giao nhận của Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức của FIATA.
Hội nghị Thế giới của FIATA
Định kỳ vào quý 4 hàng năm FIATA tổ chức Hội nghị toàn thế giới tại một
Châu lục khác nhau. Đây là dịp để đại diện các Hiệp hội Giao nhận Vận tải và
Logistics các quốc gia cùng với giới doanh nghiệp giao nhận, vận tải, dịch vụ
logistics toàn cầu có dịp trao đổi, thảo luận về các vấn đề chính yếu của ngành,
trong đó 7 chủ đề lớn luôn được quan tâm bao gồm: vận tải hàng không, vận tải
đa phương thức, an ninh. Số Đại biểu thường vào khoảng 700 – 800 người.
Chứng từ
FIATA đã tạo nên các văn bản và những biểu mẫu chuẩn để sử dụng thống
nhất trong việc vận chuyển hàng hóa trên toàn thế giới. Bao gồm:
- FIATA FCR (Forwarders Certificate of Receipt)
- FIATA FCT (Forwarders Certificate of Transport)
- FWR (FIATA Warehouse Receipt)
- FBL (negotiable FIATA Multimodal Transport Bill of Lading)
- FWB (non-negotiable FIATA Multimodal Transport Waybill)
- FIATA SDT (Shippers Declaration for the Transport of Dangerous Goods)
- FIATA SIC (Shippers Intermodal Weight Certificate)
- FFI (FIATA Forwarding Instructions)
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Các chứng từ của FIATA đã được công nhận là văn bản truyền thống và độ
chính xác cao. Trong quá khứ, nó đã tạo ra sự thuận lợi cho việc giao thương
quốc tế, trong tương lai chắc chắn sẽ trở thành công cụ đắc lực trong các dịch vụ
thương mại trên thế giới..
1.2.5.2 Các Công ty Giao nhận quốc tế ở Việt Nam.
Những năm 1960, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt nam mang tính chất
phân tán. Các đơn vị xuất nhập khẩu tự tổ chức chuyên chở hàng hoá của mình,
vì vậy, các Công ty xuất nhập khẩu đã thành lập riêng phòng kho vận, chi nhánh
xuất nhập khẩu, trạm Giao nhận ở các cảng, ga liên vận đường sắt.
Để tập trung đầu mối quản lý chuyên môn hoá khâu vận tải giao nhận, năm
1970 Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Thương mại) đã thành lập 2 tổ chức Giao
nhận:
- Cục Kho vận kiêm Tổng công ty giao nhận Ngoại thương trụ sở tại Hải
Phòng.
- Công ty giao nhận đường bộ, trụ sở tại Hà Nội.
Năm 1976, Bộ Ngoại thương đã sáp nhập hai tổ chức trên thành một công
ty giao nhận thống nhất là Tổng Công ty giao nhận và Kho vận ngoại thương
Vietrans. Trong thời kỳ bao cấp, Vietrans là cơ quan duy nhất được phép tiến
hành tổ chức giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu trên cơ sở ủy thác của các đơn
vị xuất nhập khẩu.
1.2.6 Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển
1.2.6.1 Cơ sở pháp lý
Việc giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm
pháp luật quốc tế, Việt nam....
- Các Công ước về vận đơn, vận tải; Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng
hoá ....
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt nam về giao nhận vận tải, các loại
hợp đồng và L/C mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng xuất nhập khẩu.
1.2.6.2 Nguyên tắc
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại các
cảng biển Việt Nam như sau:
- Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp
đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng.
- Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các
chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (tàu) (quy
định mới từ 1991). Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết
toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các
chi phí có liên quan.
- Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp
chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận với cảng và phải trả các lệ
phí, chi phí liên quan cho cảng.
- Khi được uỷ thác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu với tầu, cảng nhận hàng bằng
phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng.
- Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình những
chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong
một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ.
Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan....
- Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm.
1.2.6.3 Nhiệm vụ của các cơ quan tham gia giao nhận hàng hoá XNK
1.2.6.3.1 Nhiệm vụ của cảng
- Ký kết hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hoá với chủ
hàng
Hợp đồng có hai loại:
+ Hợp đồng uỷ thác giao nhận
+ Hợp đồng thuê mướn: chủ hàng thuê cảng xếp dỡ vận chuyển, lưu kho,
bảo quản hàng hoá
- Giao hàng xuất khẩu cho tầu và nhận hàng nhập khẩu từ tầu nếu được uỷ
thác
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Kết toán với tầu về việc giao nhận hàng hoá và lập các chứng từ cần thiết
khác để bảo vệ quyền lợi của các chủ hàng.
- Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự uỷ thác của
chủ hàng xuất nhập khẩu.
- Tiến hành việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng
- Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hoá do mình gây nên trong
quá trình giao nhận vận chuyển xếp dỡ.
- Hàng hoá lưu kho bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì cảng phải bồi
thường nếu có biên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng
không có lỗi.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá trong các trường hợp sau:
+ Không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi của
cảng.
+ Không chịu trách nhiệm về hàng hoá ở bên trong nếu bao kiện, dấu xi
vẫn nguyên vẹn
+ Không chịu trách nhiệm về hư hỏng do kỹ mã hiệu hàng hoá sai hoặc
không rõ (dẫn đến nhầm lẫn mất mát)
1.2.6.3.2 Nhiệm vụ của các chủ hàng xuất nhập khẩu
- Ký kết hợp đồng uỷ thác giao nhận với cảng trong trường hợp hàng qua
cảng
- Tiến hành giao nhận hàng hoá trong trường hợp hàng hoá không qua cảng
hoặc tiến hành giao nhận hàng hoá XNK với cảng trong trường hợp hàng qua
cảng.
- Ký kết hợp đồng bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho hàng hoá với
cảng
- Cung cấp cho cảng những thông tin về hàng hoá và tầu
- Cung cấp các chứng từ cần thiết cho cảng để cảng giao nhận hàng hoá:
* Ðối với hàng xuất khẩu: gồm các chứng từ:
+ Lược khai hàng hoá (cargo manifest): lập sau vận đơn cho toàn tầu, do
đại lý tầu biển làm được cung cấp 24h trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
+ Sơ đồ xếp hàng (cargo plan) do thuyền phó phụ trách hàng hóa lập, được
cung cấp 8h trước khi bốc hàng xuống tầu.
* Ðối với hàng nhập khẩu:
+ Lược khai hàng hoá
+ Sơ đồ xếp hàng
+ Chi tiết hầm tầu ( hatch list)
+ Vận đơn đường biển trong trường hợp uỷ thác cho cảng nhận hàng
Các chứng từ này đều phải cung cấp 24h trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu.
- Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết các vấn đề phát sinh
- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở khiếu nại
các bên có liên quan
- Thanh toán các chi phí cho cảng.
1.2.6.3.3 Nhiệm vụ của hải quan
- Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát
hải quan đối với tầu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu
- Ðảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Đảm bảo trật tự an ninh tại các cảng biển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ hàng, chủ tàu.
- Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi
buôn lậu, gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối,
tiền Việt Nam qua cảng biển.
1.2.6.4 Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển
1.2.6.4.1 Ðối với hàng xuất khẩu
a. Ðối với hàng hoá không phải lưu kho bãi tại cảng
Ðây là hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các nơi trong
nước để xuất khẩu, có thể để tại các kho riêng của mình chứ không qua các kho
của cảng. Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác có thể
giao trực tiếp cho tầu. Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua
cảng.
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ðưa hàng đến cảng: do các chủ hàng tiến hành
- Làm các thủ tục xuất khẩu, giao hàng cho tầu
+ Chủ hàng ngoại thương phải đăng ký với cảng về máng, địa điểm, cầu tầu
xếp dỡ
+ Làm các thủ tục liên quan đến xuất khẩu như hải quan, kiểm dịch...
+ Tổ chức vận chuyển, xếp hàng lên tầu
+ Liên hệ với thuyền trưởng để lấy sơ đồ xếp hàng
+ Tiến hành xếp hàng lên tầu do công nhân của cảng làm, nhân viên giao
nhận phải theo dõi quá trình để giải quyết các vấn đề xảy ra, trong đó phải xếp
hàng lên tầu và ghi vào tally sheet (phiếu kiểm kiện)
+ Lập biên lai thuyền phó ghi số lượng, tình trạng hàng hoá xếp lên tầu (là
cơ sở để cấp vận đơn). Biên lai phải sạch
+ Người chuyên chở cấp vận đơn, do chủ hàng lập và đưa thuyền trưởng
ký, đóng dấu.
+ Lập bộ chứng từ thanh toán tiền hàng được hợp đồng hoặc L/C quy định
+ Thông báo cho người mua biết việc giao hàng và phải mua bảo hiểm cho
hàng hoá (nếu cần).
+ Tính toán thưởng phát xếp dỡ hàng nhanh chậm (nếu có)
b. Ðối với hàng phải lưu kho bãi của cảng
Ðối với loại hàng này, việc giao hàng gồm hai bước lớn: chủ hàng ngoại
thương (hoặc người cung cấp trong nước) giao hàng XK cho cảng, sau đó cảng
tiến hành giao hàng cho tầu
* Giao hàng XK cho cảng bao gồm các công việc:
- Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác ký kết hợp đồng lưu kho bảo
quản hàng hoá với cảng
- Trước khi giao hàng cho cảng, phải giao chi cảng các giấy tờ:
+ Danh mục hàng hoá XK (cargo list)
+ Thông báo xếp hàng của hãng tầu cấp ( shipping order) nếu cần
+ Chỉ dẫn xếp hàng (shipping note)
- Giao hàng vào kho, bãi cảng
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
* Cảng giao hàng cho tàu:
- Trước khi giao hàng cho tầu, chủ hàng phải:
+ Làm các thủ tục liên quan đến XK: hải quan, kiểm dịch, kiểm nghiệm
(nếu có....
+ Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tầu đến (ETA), chấp nhận NOR
+ Giao cho cảng sơ đồ xếp hàng
- Tổ chức xếp và giao hàng cho tầu:
+ Trước khi xếp, phải tổ chức vận chuyên hàng từ kho ra cảng, lấy lệnh xếp
hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân và người áp tải nếu cần
+ Tiến hành bốc và giao hàng cho tầu. Việc xếp hàng lên tầu do công nhân
cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tầu dưới sự giám sát của đạI diện hải quan.
Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượng hàng
giao vào Tally Report, cuối ngày phải ghi vào Daily Report và khi xếp xong một
tầu, ghi vào Final Report. Phía tầu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kết quả
vào Tally Sheet. Việc kiểm đếm cũng có thể thuê nhân viên của công ty kiểm
kiện
+ Khi giao nhận xong một lô hoặc toàn tầu, cảng phải lấy biên lai thuyền
phó (Mates Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn (B/L)
- Lập bộ chứng từ thanh toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, nhân
viên giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết tập hợp thành bộ chứng
từ, xuất trình cho ngân hàng để thanh toán tiềnhàng. Nếu thanh toán bằng L/C
thì bộ chứng từ thanh toán phải phù hợp một cách máy móc với L/C và phải phù
hợp với nhau và phải xuất trình trong thời hạn hiệu lực của L/C.
- Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng
hoá (nếu cần)
- Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận
chuyển, bảo quản, lưu kho....
- Tính toán thưởng phạt xếp dỡ, nếu có
1.2.6.4.2 Ðối với hàng nhập khẩu
a. Ðối với hàng không phải lưu kho, bãi tại cảng
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trong trường hợp này, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác đứng ra
giao nhận trực tiếp với tầu
- Ðể có thể tiến hành dỡ hàng, 24 giờ trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu, chủ
hàng phải trao cho cảng một số chứng từ:
+ Bản lược khai hàng hoá (2 bản)
+ Sơ đồ xếp hàng (2 bản)
+ Chi tiết hầm hàng (2 bản)
+ Hàng quá khổ, quá nặng (nếu có)
- Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện của hãng tầu
- Trực tiếp nhận hàng từ tầu và lập các chứng từ cần thiết trong quá trình
nhận hàng như:
+ Biên bản giám định hầm tầu (lập trước khi dỡ hàng) nhằm quy trách
nhiệm cho tầu về những tổn thất xảy sau này.
+ Biên bản dỡ hàng (COR) đối với tổn thất rõ rệt
+ Thư dự kháng (LOR) đối với tổn thất không rõ rệt
+ Bản kết toán nhận hàng với tầu (ROROC)
+ Biên bản giám định
+ Giấy chứng nhận hàng thiếu (do đại lý hàng hải lập)….
- Khi dỡ hàng ra khỏi tầu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng để mời hải
quan kiểm hoá. Nếu hàng không có niêm phong cặp chì phải mời hải quan áp tải
về kho
- Làm thủ tục hải quan
- Chuyên chở về kho hoặc phân phối hàng hoá
b. Ðối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
- Cảng nhận hàng từ tàu:
+ Dỡ hàng và nhận hàng từ tầu (do cảng làm)
+ Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận (nhân viên giao nhận
phải cùng lập)
+ Ðưa hàng về kho bãi cảng
- Cảng giao hàng cho các chủ hàng
25