Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông chuyên lam sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.3 KB, 21 trang )

Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn lịch sử lớp 10
trường trung học phổ thông chuyên lam sơn, thanh hóa luận văn ths. giáo dục học

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-----≅&?----PHAN THỊ HÀ

TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
LAM SƠN, THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-----≅&?----PHAN THỊ HÀ
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
LAM SƠN, THANH HOÁ


LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Đình Tùng
HÀ NỘI – 2011
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 9
4. Mục đích nghiên cứu và Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................ 9
5. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 10
6. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 10
7. Giả thuyết khoa học .................................................................................. 10
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .................................................... 10
9. Cấu trúc của Luận văn ............................................................................. 11
Chương 1: TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
CHUYÊN. LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ...................................................... 12
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................ 12
1.1.1. Quan niệm về hứng thú ....................................................................... 12


1.1.2. Quan niệm về hứng thú học tập lịch sử .............................................. 19
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của hứng thú trong học tập lịch sử ở trường phổ
thông ............................................................................................................... 24
1.1.4. Các hình thức tổ chức tự học môn LS ở trường THPT ..................... 30
1.2. Thực tiễn tạo hứng thú học tập lịch sử thông qua các hình thức tổ
chức tự học cho HS ở trường THPT chuyên hiện nay...............................47
1.2.1. Một số nét nổi bật ở trường THPT chuyên hiện nay..........................47
1.2.2. Thực tiễn việc tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh qua các
hình thức tổ chức tự học ở trường THPT chuyên Lam Sơn hiện nay........49
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH QUA CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ
LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN, THANH HOÁ.

THỰC NGHIỆM ........................................................................................... 56
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của Lịch sử lớp 10 .......................... 56


2.1.1. Vị trí, mục tiêu của khoá trình Lịch sử lớp 10 ................................... 56
2.1.2. Nội dung cơ bản của khoá trình Lịch sử lớp 10 ................................. 59
2.2. Một số yêu cầu khi lựa chọn các hình thức tổ chức tự học để gây
hứng thú cho học sinh. .................................................................................. 68
2.2.1. Về môi trường học tập.......................................................................... 68
2.2.2. Về phía học sinh ................................................................................... 68
2.2.3. Về phía giáo viên .................................................................................. 70
2.3. Các hình thức tổ chức tự học tạo hứng thú trong DHLS lớp 10 ....... 73
2.3.1. Các biện pháp tổ chức tự học trên lớp để gây hứng thú học tập cho
học sinh ........................................................................................................... 73
2.3.2. Các biện pháp tổ chức học sinh tự học ở nhà để gây hứng thú học tập . 79
2.4. Thực nghiệm sư phạm ........................................................................... 84
2.4.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................... 84
2.4.2. Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm ................................ 84
2.4.3. Nội dung tiến hành thực nghiệm ........................................................ 86
2.4.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ................................................. 86
2.4.5. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 95


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng về đổi mới phương pháp
trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng đang

được quán triệt sâu sắc nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo. Và đây cũng là vấn đề nhận được rất nhiều
sự quan tâm, đầu tư của các nhà nghiên cứu sư phạm, các nhà khoa học cũng
như các thầy cô đang trực tiếp giảng dạy tại các trường THPT.
Thêm vào đó, trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, việc
tạo hứng thú học tập cho học sinh là rất quan trọng và cần thiết. Chỉ khi nào


có đam mê, hứng thú, người học mới tích cực, chủ động học tập và phát huy
được nhiều năng lực, sở trường của bản thân trong việc chiếm lĩnh và khám
phá tri thức nhân loại. Điều đó đã được nhà tâm lý học Liên Xô Salovay
khẳng định trong cuốn “Từ hứng thú đến tài năng”: “Biết cách phát triển
hứng thú, chúng ta sẽ phát huy một trong những năng lực quý giá nhất của
con người là năng lực tập trung vào hoạt động, hoàn toàn say mê với công
việc cần làm”. [11, tr. 1]
Bên cạnh đó, nguồn tri thức mà học sinh nhận được không đơn nhất từ
phía giáo viên cung cấp mà học sinh có thể tìm kiếm nó thông qua tính năng
của công nghệ thông tin, sự đa dạng trong các kênh dẫn kiến thức. Vì vậy,
việc hình thành kỹ năng tự nghiên cứu, tự học rất cần thiết nhằm hình thành
“xã hội học tập” và việc phát triển nền “giáo dục suốt đời” với phương châm
học suốt đời: “Học, học nữa, học mãi”. Muốn vậy, ngay từ bậc phổ thông giáo
viên cần hướng dẫn, tổ chức cho học sinh các hình thức tự học để từ đó giúp
học sinh có được kỹ năng tự học, biết được cách thức chiếm lĩnh nguồn tri
thức phong phú của nhân loại nói chung và kiến thức lịch sử ở trường THPT
nói riêng một cách hiệu quả theo kế hoạch học tập cũng như mục tiêu cuộc
sống của bản thân đề ra.
2
Ngoài ra, trong khoá trình Lịch sử ở bậc THPT, chương trình lớp 10 có nội
dung phong phú, bao gồm phần lịch sử thế giới cổ, trung, cận đại và lịch sử
Việt Nam trước năm 1858. Những nội dung kiến thức này rất nhiều vấn đề

hấp dẫn, nó thể hiện quá trình phát triển của lịch sử văn minh nhân loại và dân
tộc. Chính vì vậy, để hiểu được những vấn đề lịch sử đó đồng thời tạo hứng
thú học tập cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn HS tự học qua các hình
thức hoạt động học tập trên lớp hoặc tự học ở nhà, phù hợp với hoàn cảnh,
điều kiện học tập cụ thể nhằm nâng cao chất lượng học tập.


Là giáo viên trực tiếp dạy lịch sử ở trường trung học phổ thông chuyên,
nơi mà học sinh đã được tuyển chọn, có năng khiếu, có nhiều tư chất thông
minh, ham hiểu biết thì việc tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các
hình thức tổ chức tự học là hết sức cần thiết. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề
“Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn
Lịch sử lớp 10 Trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa” làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xung quanh vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung, gây hứng thú
học tập cho học sinh và vấn đề tự học ở trường THPT nói riêng đã dành được
sự quan tâm của nhiều nhà giáo nghiên cứu khoa học giáo dục trong và ngoài
nước.
2.1. Vấn đề tự học và tổ chức tự học trong các nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ những năm đầu trước công nguyên, Xô - cơ - rát (469 - 339 TCN)
đã đưa ra quan điểm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự khẳng
định chính mình. Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải
để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy
sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó.
Đến thế kỷ thứ XVII, nhà sư phạm Tiệp Khắc J.A. Cômenxki (1592 1670) đã nghiên cứu về vấn đề quan điểm giáo dục “đánh thức năng lực nhạy
cảm, phán đoán của người học” hay tìm ra phương pháp cho phép giáo viên
giảng dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông đề ra một số nguyên tắc dạy
3
học mà cho tới ngày nay vẫn có tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập

của học sinh: nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi
từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng… Kế
thừa những thành tựu của Cômenxki, ngày nay lý luận dạy học đã xây dựng
được một hệ thống các nguyên tắc dạy học: Đảm bảo tính vững chắc của tri
thức kĩ năng kĩ xảo với tính mềm dẻo của tư duy, đảm bảo sự thống nhất giữa


các cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học, nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
chung và vừa sức riêng trong dạy học. [25, tr. 7]
J.J. Rousseau (1712 - 1778), người Thụy Sĩ cho rằng phải hướng học
sinh tích cực tự đánh giá kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
Ông đã nói: “Đừng cho trẻ con khoa học mà phải để cho nó tự phát minh ra”.
[24, tr. 6]
Đến thế kỷ XIX, Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824 - 1870) đã
nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh, ông đánh giá rất cao
vai trò của tính tích cực, tính độc lập. Theo ông, tính tích cực, tính độc lập là
cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả. Ông cho rằng cần giáo dục cho học
sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách
sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển của bản thân.
Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người
giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích
cực ở mức độ cao nhất. Như vậy, vấn đề tự học của học sinh đã được các nhà
khoa học đề cập khá rõ ràng, các công trình nghiên cứu không chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu về tự học mà còn chỉ ra rằng muốn cho sự học có hiệu quả thì
cần phải làm gì? [25, tr. 8]
John Dewey (1859 - 1952), người Mĩ cho rằng: “Việc dạy học phải
kích thích được hứng thú, phải để học sinh độc lập, tìm tòi, thầy giáo là người
thiết kế, người cố vấn”. [24, tr. 6]
Thailleirent, người Pháp rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo và
tính độc lập suy nghĩ của học sinh. Ông cho rằng chỉ có khi nào người ta tự

4
tìm tòi, tự phát minh ra điều gì đó thì người ta mới thực sự là biết, thực sự
nhìn rõ điều đó.
Tiến sĩ N. Đ. Đairi trong tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế
nào” đã trình bày các nguyên tắc cơ bản trong giờ học lịch sử ở trường phổ
thông. Ông đưa ra các yêu cầu đối với giờ học lịch sử và cho rằng để có một
giờ học đạt hiệu quả cao, ngoài việc chuẩn bị tốt giáo án, giáo viên cần sử


dụng hợp lí sách giáo khoa, các nguồn tài liệu, vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học. Đặc biệt ông nhấn mạnh đến việc đưa ra các bài tập độc lập để
phát huy tính tự lực của học sinh trong học tập.
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” của I.F.
Kharlamov, tác giả đã khẳng định: công tác tự học giữ một vai trò to lớn trong
việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và
tiếp thu tri thức mới.
A.A. Vaghin với cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ
thông” đã đề cập đến biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, như vai
trò của đồ dùng trực quan, ý nghĩa của việc sử dụng sách giáo khoa, tài liệu
khác. [24, tr. 6]
2.2. Vấn đề tự học và tổ chức tự học qua các nghiên cứu trong nước
Ở nước ta vấn đề tự học và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nói chung, hiệu quả bài học
nói riêng là vấn đề lớn, đã và đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các
nhà giáo dục, các nhà nghiên cứu lí luận dạy học và phương pháp dạy học.
Cuốn “Hoạt động tự học của sinh viên đại học” của tác giả Đặng Vũ
Hoạt – Hà Thị Đức trường ĐHSP Hà Nội (1990), đã coi hoạt động tự học như
là một bộ phận hữu cơ của hoạt động học tập của sinh viên gồm:

lập kế


hoạch - thời gian biểu tự học, nghe giảng và ghi bài trên lớp, đọc sách và các
tài liệu khác.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đóng góp nhiều công sức trong tìm hiểu
vấn đề tự học ở nhiều loại hình đào tạo khác (tập trung, đào tạo từ xa, TTGD
Thường xuyên)…trong Tuyển tập tác phẩm: Bàn về giáo dục Việt Nam –
5
(Nxb Lao Động, 2002). Cuốn sách “Quá trình dạy - tự học” của Giáo sự
Nguyễn Cảnh Toàn (Nxb Giáo dục Hà Nội 1997) đã đi sâu tìm hiểu hoạt động
dạy của thầy, tự học cuả trò. Mặt khác, trong cuốn sách khác: “Luận bàn và
kinh nghiệm về tự học ”, tác giả đã đưa ra kinh nghiệm bản thân về việc tự


học và hiệu quả của quá trình tự học qua giảng dạy ở chương trình nghiên cứu
hệ đại học Sư phạm, vừa học vừa làm của giáo viên. Từ đó ông rút ra những
cản trở của việc tự học và cách khắc phục những khó khăn đó.
Về phương pháp tự học lịch sử đã được trình bày trong cuốn “Phương
pháp dạy học lịch sử” do Giáo sư Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên,
NXB Giáo dục 1992, đặc biệt là cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ” của tác
giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi xuất bản
năm 2009.
Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” của
Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập
đến phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở
trường phổ thông hiện nay trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy năng lực
tư duy của học sinh.
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
ở trường THCS” do GS Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên đã
đề cập đầy đủ cơ sở lí luận, thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập
của học sinh. Đồng thời để ra những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát

huy tính tích cực, khả năng tư duy độc lập của học sinh THCS.
Tác phẩm “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch
sử ở trường phổ thông”, GS.TS Nguyễn Thị Côi đã trình bày cụ thể quan
niệm về tự học lịch sử, nội dung và các hình thức tự học ở nhà, nhấn mạnh
giáo viên phải rèn luyện cho học sinh thói quen, phương pháp tự học ở nhà.
[24, tr. 8]
PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn sách “Phát triển tính tích cực,
tính tự học của học sinh trong quá trình dạy học” đã đưa ra quan niệm học là
6
hoạt động tích cực, tự lực, là trung tâm trong quá trình dạy học và nêu lên các
phương pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. [18, tr. 4]


Ngoài ra vấn đề này cũng được đề cập đến trong cuốn “Hệ thống các
phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS” do PGS Trịnh Đình Tùng chủ
biên. Thông qua việc tìm hiểu phương pháp tự học của học sinh, tác giả đã
nêu rõ mối quan hệ mật thiết giữa phương pháp giảng dạy của giáo viên và
phương pháp học tập của học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
Vấn đề tự học đã được bàn luận sôi nổi trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành như: Tạp chí Giáo dục và thời đại; Giáo viên và nhà trường;
Nghiên cứu giáo dục; Tự học; Nghiên cứu lịch sử…Qua bài viết “Kinh
nghiệm Đairi với việc dạy môn lịch sử ” của Lương Ninh và Nguyễn Thị Côi
đăng trên tạp chí Giáo dục số 8/ 1988, các tác giả đã giải quyết các vấn đề cụ
thể, như mối quan hệ giữa nội dung sách giáo khoa và bài giảng, các yêu cầu
của bài học, phát triển tính tích cực học tập của học sinh. Các bài viết: “
Những vấn đề trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay” của GS Phan
Ngọc Liên và Nguyễn Thị Côi, “Một vài suy nghĩ về đổi mới nội dung giảng
dạy lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” của tác giả Nghiêm Đình Vì và
Trịnh Đình Tùng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1991, “Về biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ” của PGS Trịnh Đình Tùng đăng trên

tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5/1994, “Hướng dẫn làm bài tập lịch sử ” của
tác giả Nguyễn Thị Côi và Phạm Thị Kim Anh trên tạp chí Nghiên cứu giáo
dục số 6/1994…đã đi sâu vào các vấn đề khác nhau của phương pháp dạy học
lịch sử nói chung và vấn đề tự học nói riêng, song đều có liên quan đến vấn đề
tự học lịch sử nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Hay gần đây hơn
là các bài báo đã đăng trên các tạp chí Giáo dục, tạp chí Dạy và học ngày nay,
tạp chí Khoa học giáo dục, Giáo dục lí luận như: Tư tưởng tự học của Khổng
Tử - đề xuất các biện pháp tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Đại học Huế của Nguyễn Thanh Hùng, Một số biện pháp rèn luyện khả năng
tổ chức tự học ở nhà của học sinh THPT của Đào Thị Oanh, Vấn đề tạo hứng
thú cho người học của Nguyễn Hoài Sanh, Khảo sát hứng thú học tập môn


7
ngữ văn của Nguyễn Hồng Trâm - Nguyễn Thị Hồng Nam, Tự học ở tuổi học
đường của Lê Hải Yến, Hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ của Phạm Thị Thanh Hải….cũng đã trình bày về vấn đề tự học
và hứng thú học tập trong phạm vi của các môn học khác – đây là nguồn tài
liệu tham khảo để nghiên cứu phần lí luận cho đề tài.
Đặc biệt là Hội thảo khoa học “Nghiên cứu phát triển – Tự học - Tự
đào tạo” tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998 với nhiều bài phát biểu, bài viết
xung quanh vấn đề tự học, phát huy nguồn lực con người và các biện pháp
cần được tiến hành đồng bộ hiện nay để phát triển năng lực tự học nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo. [24, tr. 9]
Bên cạnh đó vấn đề này đã được tìm hiểu qua một số khoá luận của
sinh viên, luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ khoa học giáo dục, khoa học Tâm
lí giáo dục của trường ĐHSP Hà Nội. Luận văn Thạc sỹ Đinh Thị Cúc với đề
tài: “Hướng dẫn phương pháp tự học phần chủ nghĩa duy vật biện chứng triết
học Mác cho sinh viên trường Cao đẳng kỹ thuật Hà Tây”. Luận văn Thạc sỹ
của tác giả Cao Đức Sáu “Hướng dẫn phương pháp tự học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học môn Kinh tế chính trị Mác Lênnin của trường Cao đẳng

Kiên Giang ”. Hoặc “Các biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học
sinh THPT thông qua dạy học” của Nguyễn Thanh Hùng, “Rèn luyện năng
lực tự học cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1918
ở lớp 11 trường THPT (chương trình chuẩn)” của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ,
“Một số biện pháp gây hứng thú học tập lịch sử cho HS THPT (vận dụng qua
phần LSTG Cận đại lớp 10 Chương trình chuẩn)” của Nguyễn Thị Hằng…
cũng đã trình bày một cách cụ thể về năng lực tự học, biện pháp sư phạm gây
hứng thú.
Các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận


giúp chúng tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn. Tuy
nhiên cơ sở lí luận chung cũng như một số vấn đề của việc tự học đối với từng
môn học, nhất là tự học lịch sử cần phải được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra
những biện pháp phát huy tối đa năng lực tự học của học sinh.
8
Trong Kỷ yếu Hội thảo Nghiên cứu, giảng dạy lịch sử trong bối cảnh
hội nhập quốc tế và phát triển kỹ năng tự học cho học sinh do trường Đại học
Sư phạm Hà Nội tổ chức vào tháng 10 năm 2011, TS. Nguyễn Thị Thế Bình
có bài viết: “Vấn đề phát triển kĩ năng tự học cho học sinh trong quá trình
dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông. Thực trạng và giải pháp”,
PGS.TS Trịnh Đình Tùng có bài: “Vấn đề hình thành kĩ năng tự học cho học
sinh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, GS.TS Nguyễn Thị Côi có
bài: “Rèn luyện kĩ năng tự học Lịch sử - Một yêu cầu quan trọng trong dạy
học bộ môn ở trường phổ thông hiện nay”…Nội dung các bài viết này đã đề
cập một cách cụ thể về khái niệm kỹ năng, các kỹ năng tự học cần hình thành
và rèn luyện cho học sinh, tầm quan trọng của việc hình thành kĩ năng tự
học… “Rèn luyện kĩ năng tự học theo Sách giáo khoa lịch sử cho học sinh ”
của PGS.TS Trần Việt Thụ, “Vai trò của hứng thú với việc hình thành và phát
triển kỹ năng tự học cho học sinh ” của Th.S Nguyễn Hà Giang, “Việc tự học

và phát triển kĩ năng nghe - hiểu – ghi chép cho học sinh ở trường THPT
chuyên” của Th.S Nguyễn Hồng Thanh, “Rèn luyện kĩ năng tự học cho học
sinh thông qua việc hướng dẫn các em làm các chuyên đề lịch sử” của tác giả
Nguyễn Thị Loan cũng đã đề cập đến tầm quan trọng và rèn luyện kĩ năng tự
học cho học sinh. Đặc biệt, tác giả Hoàng Thanh Tú có bài:“Vấn đề phát triển
kỹ năng tự học môn Lịch sử của học sinh qua một số tài liệu nước ngoài”,
theo đó các nguồn tài liệu tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp về vấn đề tự học
và hứng thú học tập cũng đã được dịch và sử dụng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho công tác nghiên cứu lí luận của nhiều công trình trong nước. Đây


là cơ sở tham khảo rất hữu ích cho chúng tôi khi thực hiện đề tài.
Có các bài viết xung quanh vấn đề tổ chức hình thức tự học cho học
sinh như: “Sử dụng câu hỏi nhằm tổ chức hoạt động tự học cho học sinh
trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1954” ở lớp 12 (Chương
trình chuẩn)” của Th.S Nguyễn Thị Duyên, “Tổ chức học sinh tự học với tài
liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 (lớp 11)”
của Th.S Nguyễn Thị Hà, “Tổ chức tự học ở nhà cho học sinh THPT thông
9
qua hệ thống bài tập” của Th.S Võ Văn Minh hay “Tổ chức hoạt động tự học
ở nhà cho học sinh trong dạy học chương ‘Việt Nam từ năm 1858 đến cuối
thế kỉ XIX’ - lớp 11 trung học phổ thông” của tác giả Ngô Phú Hoài.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu, chuyên
biệt về các hình thức tổ chức tự học lịch sử cho học sinh ở trường THPT
chuyên, để làm rõ những vấn đề về lí luận chung, cũng như chỉ ra các biện
pháp sư phạm trong việc tổ chức hình thức tự học cho HS nhằm tạo hứng thú
học tập trong DHLS ở trường THPT chuyên nói chung và trường THPT
chuyên Lam Sơn nói riêng. Đây cũng chính là những vấn đề mà tác giả muốn
tập trung nghiên cứu trong đề tài này.
3. Đối tượng nghiên cứu

Các hình thức tổ chức tự học Lịch sử cho học sinh lớp 10 ở trường
THPT chuyên Lam Sơn Thanh Hoá.
4. Mục đích nghiên cứu và Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định hình thức tổ chức tự học để
tạo hứng thú học tập cho HS trường chuyên, qua đó góp phần nâng cao chất
lượng DHLS ở trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và khảo sát thực tiễn liên quan đến vấn
đề tổ chức tự học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch


sử ở trường THPT nói chung và trường THPT chuyên nói riêng.
- Xây dựng hệ thống hoá lí luận về các hình thức tổ chức tự học để tạo
hứng thú học tập trong DHLS ở trường THPT nói chung và trường chuyên
Lam Sơn nói riêng.
- Xác định rõ những yêu cầu cũng như các biện pháp sư phạm trong việc
tổ chức hình thức tự học cho HS nhằm tạo hứng thú học tập trong DHLS ở
trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
10
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (từng phần và toàn phần), từ đó rút ra
kết luận khoa học và khẳng định tính đúng đắn của đề tài.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các hình thức tổ chức tự học nhằm tạo
hứng thú học tập LS cho HS chuyên nói chung và học sinh trường THPT
chuyên Lam Sơn nói riêng.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít, lý luận chủ nghĩa Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về vấn đề giáo dục
nói chung, giáo dục Lịch sử nói riêng. Luận văn nghiên cứu các tài liệu Tâm
lý, Giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn; đồng thời nghiên cứu chương
trình – sách giáo khoa phổ thông và các tài liệu phục vụ thiết yếu cho việc dạy
học khoá trình Lịch sử.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Luận văn khảo sát thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay (đặc
biệt là ở trường THPT chuyên Lam Sơn – Thanh Hoá) làm cơ sở cho việc đưa
ra những kết luận khoa học cũng như các biện pháp sư phạm phù hợp. Đối
tượng khảo sát là giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử và học sinh lớp 10.
7. Giả thuyết khoa học
Luận văn hướng tới khẳng định giả thuyết khoa học: Tự học là cách để học
sinh tự khám phá, tự tìm tòi, nghiên cứu rồi tiến tới chiếm lĩnh kiến thức, từ


đó học sinh ngày càng hứng thú với công việc học tập. Nếu thực hiện tốt
những yêu cầu và giải pháp về tổ chức hình thức tự học mà đề tài đã đề xuất
thì sẽ tạo hứng thú học tập cho HS và góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở
trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được hoàn thành sẽ có ý nghĩa cơ bản sau:
Về lý luận: luận văn hệ thống những vấn đề lý luận về các hình thức tổ
chức tự học môn LS để tạo hứng thú học tập cho HS. Đồng thời, luận văn
11
cũng xác định biện pháp cụ thể trong tổ chức tự học gây hứng thú cho HS
trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
Về thực tiễn: Những biện pháp sư phạm được nêu trong luận văn có thể
ứng dụng vào dạy học Lịch sử ở trường THPT. Thổ Nhĩ Kì là tài liệu tham
khảo cho sinh viên sư phạm ngành Lịch sử, cho GV ở trường THPT nói
chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng, cũng như cho các tác giả quan

tâm tới việc nghiên cứu và vận dụng đổi mới PPDH LS.
9. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm 2
chương.
Chương 1: Tạo hứng thú học tập cho HS thông qua các hình thức tổ chức
tự học môn LS ở trường THPT chuyên. Lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS qua các hình thức
tổ chức tự học môn LS lóp 10 ở trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa.
Thực nghiệm.


12
CHƯƠNG 1
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC HÌNH THỨC
TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHUYÊN. LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan niệm về hứng thú
Hứng thú là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như
trong đời sống. Hứng thú là một hiện tượng tâm lý phức tạp, vì vậy, vấn đề
này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, để trả lời câu
hỏi “hứng thú là gì” đã có nhiều quan niệm dựa trên cách tiếp cận khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Hứng thú là cảm giác thích thú thấy
trong người mình đang có một sức thôi thúc làm cái gì đó”. Húng thú nếu là
danh từ chỉ sự ham thích (Tác phẩm gây được hứng thú cho người đọc). Hứng
thú là tính từ: Cảm thấy hứng thú, hào hứng: hứng thú với công việc (Câu
chuyện nghe rất hứng thú). Hứng thú (I) đgt: biểu hiện của một nhu cầu làm
cho chủ thể tìm cách thoả mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh
lực để cố gắng thực hiện. Hứng thú làm việc. (II): Sự ham thích, không còn
hứng thú gì nữa, bộ phim gây được hứng thú cho tác giả. [31, tr. 861]

Theo Từ điển Tâm lý của Nguyễn Khắc Viện (cb): “Hứng thú là biểu
hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thoả mãn, tạo ra khoái cảm
thích thú…”. [32, tr. 161]
Theo Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học
sinh như thế nào” tập II đã nêu: “Hứng thú là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc
cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có
tính chất hấp dẫn. “Hứng thú là thể hiện xúc cảm của nhũng nhu cầu nhận
thức ở người”. Do đó việc thoả mãn các hứng thú sẽ thúc đẩy lấp các lỗ hổng
trong kiến thức, làm cho sự định hướng tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng có ý
13


nghĩa đối với cá nhân trở nên đầy đủ và sâu sắc hơn. Nói cách khác, hứng thú
là một cơ chế thúc đẩy thường xuyên đối với nhận thức.
N.G Môrôzôva thì lại cho rằng hứng thú từ đối tượng này đến đối
tượng khác, đối với mọi lứa tuổi đều là một niềm vui. Niềm vui thường mang
đến cho con người cuộc sống tốt đẹp, đồng thời cả những khả năng và phương
pháp làm việc tốt hơn. Học tập cũng như bất kì một dạng lao động nào, đều
cần thiết mang lại niềm vui cho con người. Niềm vui là nguồn sáng tạo, thành
đạt những chiến công mới trong hoạt động. Hứng thú nhận thức làm cho con
người trở thành chủ thể tìm kiếm, ham muốn tri thức, kiên trì, cần mẫn. Đặc
biệt, nhờ có hứng thú nhận thức, việc tự giáo dục, rèn luyện trở thành có
phương pháp và có hiệu quả.
Côvaliôp trong cuốn “Tâm lý học cá nhân”: “Hứng thú là thái độ đặc
thù của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời
sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”. “Hứng thú đó là sự kết hợp độc
đáo các quá trình tình cảm – ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức
và hoạt động của con người được nâng cao” và “Đó là thái độ riêng của cá
nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa cuộc sống và sự hấp dẫn về tình
cảm gây ra”. [23, tr. 23]

Như vậy, hứng thú là một trạng thái tâm lý phức tạp, phản ánh nhiều
giai đoạn từ đơn lẻ tới tổ hợp nhiều quá trình tâm lý của con người. Hứng thú
là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó vừa có ý
nghĩa trong cuộc sống, vừa có khả năng mang lại cho nó một khoái cảm.
Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng
hành động và hành động sáng tạo làm tăng sức làm việc. Hứng thú luôn có
đối tượng nhất định. Hứng thú được phân thành nhiều loại: hứng thú nghệ
thuật, hứng thú thể thao, hứng thú nhận thức… Trong đó, hứng thú nhận thức
và hứng thú học tập có vị trí quan trọng.
14
Hứng thú nhận thức là sự định hướng có lựa chọn của cá nhân vào sự


vật, hiện tượng thực tế xung quanh. Hứng thú nhận thức trong khoa học đặc
biệt quan trọng, giúp cá nhân độc lập tiếp nhận kiến thức khoa học ở các lĩnh
vực mà mình thích, từ đó tích cực hoạt động để tìm kiếm và tiếp cận kiến
thức. Việc hình thành hứng thú nhận thức gắn liền với việc học tập của học
sinh. Sỡ dĩ như vậy vì nội dung chủ yếu trong quá trình học tập của học sinh
là phải học để dần dần chuyển từ trình độ kiến thức này lên trình độ kiến thức
cao hơn, nâng từ “biết” đến “hiểu” và vận dụng được những kiến thức đó vào
cuộc sống. Tuy nhiên, hứng thú nhận thức không chỉ nhằm vào nội dung một
môn học cụ thể mà nhằm vào quá trình học tập, vào hoạt động nhận thức,
phương pháp hoạt động để đạt được kiến thức. Hứng thú nhận thức là cái tạo
ra động cơ quan trọng nhất của học tập, là cơ sở thái độ của học sinh đối với
học tập, là nguồn thúc đẩy học sinh học tập một cách say mê. Hứng thú nhận
thức không chỉ là sự kích thích bên ngoài mà còn là quá trình kích thích từ
bên trong của bản thân học sinh, chính sự kích thích bên trong đó mới duy trì
lâu dài được hứng thú. Những nội dung kích thích học sinh từ bên ngoài có
thể là nội dung bài học, do giáo viên giảng dạy, do đồ dùng trực quan đẹp…,
nhưng nếu chỉ gây được những cảm xúc nhất thời thì chưa thể gọi là hứng

thú, đồng thời những cảm xúc này cũng không duy trì được sự bền vững. Nếu
chỉ là xúc cảm bên ngoài của học sinh thì đến một lúc nào đó, khi xúc cảm
qua đi, học sinh sẽ nhanh chóng quên những gì vừa tiếp nhận được, vừa nhìn
thấy. Chỉ với những kích thích từ bên trong, hứng thú mới có thể duy trì được
một cách bền vững, mới có thể trở thành động cơ hoạt động học của học sinh.
Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhận
thức (hứng thú nhận thức có đối tượng là việc nhận thức thế giới khách quan
nói chung: quá trình nhận thức bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan). Khái niệm hứng thú học tập theo nghĩa rộng là
việc lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội nói chung, nghĩa là nó gần với


15
khái niệm nhận thức. Nhưng khái niệm học tập theo đúng nghĩa tâm lý học là
hoạt động học tập được tổ chức bằng phương pháp nhà trường với nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức chuyên biệt. Vậy hứng thú học tập là loại
hứng thú gắn với các môn học trong nhà trường; nó là thái độ đặc biệt của
người học với môn học mà họ thấy có ý nghĩa và khả năng đem lại khoái cảm
trong quá trình học tập bộ môn. Hứng thú học tập bao gồm cả thái độ đối với
các hành động học tập để đạt tới tri thức và kỹ năng, kỹ xảo đó trong các môn
học. Từ sự phân tích này chúng tôi cho rằng khi nghiên cứu hứng thú học tập
một môn học cụ thể cần xem xét cả hứng thú với nội dung môn học và hứng
thú với hoạt động học tập bộ môn để lĩnh hội nội dung môn học. Điều này
giải thích tại sao có những học sinh rất thích nghe giảng bài trên lớp nhưng lại
không hứng thú với việc học bài, làm bài tập, đọc các tài liệu tài liệu tham
khảo và ứng dụng tri thức vào thực tiễn.
Dấu hiệu đặc trưng của hứng thú học tập cũng là sự thích thú với môn
học và tính tích cực trong hoạt động học tập bộ môn, xúc cảm tích cực là dấu
hiệu rõ ràng nhất, đặc trưng nhất của hứng thú học tập nhưng không thể đồng
nhất những xúc cảm tích cực với hứng thú, xúc cảm là quá trình tâm lý, nó

nảy sinh trong những tình huống cụ thể của quá trình học tập còn hứng thú là
thuộc tính tâm lý tương đối ổn định của cá nhân. Xúc cảm là dấu hiệu của
hứng thú. Một dấu hiệu đặc trưng nữa của hứng thú học tập là tính tích cực
trong hoạt động học tập bộ môn. Hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ tới
tình tích cực của cá nhân. Do tác động mạnh mẽ này mà tất cả các quá trình
tâm lý diễn ra với tốc độ nhanh và có hiệu quả cao. Khi có hứng thú học sinh
sẽ học tập tích cực hơn và có hiệu quả hơn. Thái độ học tập tích cực được
biểu hiện ở việc tiến hành nhiều hình thức học tập khác nhau và học một cách
say mê không mệt mỏi. Hứng thú là một thuộc tính nhân cách cá nhân nên nó
không tồn tại một cách biệt lập, riêng rẽ mà hình thành và phát triển trong mối




×