Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

tiểu luận cao học Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (125.72 KB, 21 trang )

Lời mở đầu.
Sự ra đời và phát triển của Đảng là một quá trình lâu dài, gắn liền với cuộc đấu
tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống chế độ áp bức, bóc lột và mọi thế lực phản
động khác. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Những sự nghiệp này không thể
thành công nếu thiếu sự lãnh đạo của đội tiên phong là Đảng Cộng sản. Thực tiễn lịch sử
đã chứng minh chỉ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản thì cách mạng của giai
cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động (NDLĐ) mấy triệt để nhất. Nhận thức đối
với vai trò to lớn của Đảng Cộng sản chủ tịch Hồ Chính Minh đã hi sinh cả cuộc đời mình
để thành lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) tiến hành cách mạng thành
công. T tởng Hồ Chí Minh là một nội dung toàn diện về cách mạng Việt Nam, trong đó t
tởng về vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng, có tác
dụng định hớng cho sự lãnh đạo của Đảng.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh ĐCSVN có vị trí, vai trò
quan trọng với dân tộc. Mời năm năm Đảng lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công
lập ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, ba mơi năm lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến
hành kháng chiến chống Pháp và Mỹ thống nhất đất nớc; Hai mơi năm đổi mới do Đảng
lãnh đạo đất nớc Việt Nam đang thay đổi thịt, vị trí của nớc Việt Nam trên quốc tế ngày
càng nâng cao, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thơng mại thế giới WTO ngày 7/11/2006. Thành quả ấy là cơ sở, nền tảng, bớc đệm để nớc
Việt Nam tiến xa hơn, tiến nhanh hơn trên con đờng hội nhập quốc tế. Song phía trớc còn
rất nhiều gian nan, thử thách đòi hỏi toàn xã hội Việt Nam mà trớc hết là Đảng Cộng sản
Việt Nam phải nỗ lực hết mình. Nh vậy, để Đảng thật sự là Đảng của dân, của nớc thì
Đảng cần xây dựng và chỉnh đốn mình vững mạnh hơn, khẳng định vị trí và vai trò trong
tiến trình cách mạng của dân tộc. Công cuộc đổi mới đất nớc tiếp theo, vai trò lãnh đạo
của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Hơn lúc nào hết, việc
nghiên cứu những t tởng của Ngời về Đảng và xây dựng Đảng, về vị trí vai trò của Đảng
Cộng sản có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Từ trớc đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu về t tởng Hồ Chí Minh từ hệ thống đến bộ phận, nhng những t tởng của Ngời vẫn luôn
ẩn chứa bão điều sâu xa, có ý nghĩa thời đại sâu sắc, nên chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu.
Đó sẽ là nền móng vững chắc, là điểm tựa vững vàng để Đảng Cộng sản Việt Nam không
ngừng phấn đấu để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.



T tởng Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của Đảng là một nội dung quan trọng, nó
khẳng định ĐCSVN là đội tiên phong của GCCN và dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà khoa
học, nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này rất đầy đủ, toàn diện. Còn với em, sau thời
gian đợc thầy cô hớng dẫn trên lớp em cũng xin trình bày sự hiểu biết của mình. Do hạn
chế về ngôn ngữ,và trình độ của bản thân, nên trong đề tài này em cha thể giải thích vấn
đề một cách sâu sắc và toàn diện mà chỉ mới tập trung vào một số nội dung sau:
1. Cơ sở hình thành t ởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. T tởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Giá trị thực tiễn của t tởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò Đảng Cộng sản trong
thời đại ngày nay.

Nội dung
1. Cơ sở hình thành t tởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò
của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.1. Khái niệm:
T tởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam là sự
kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo t tởng Mác Lênin về Đảng Cộng sản;
đó là hệ thống t ởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng
Cộng sản Việt Nam; đó là những phơng hớng, phơng pháp cơ bản, chủ yếu xây
dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ứng với từng thời kỳ lịch sử.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam có sự phát triển
so với quan của chủ nghĩa Mác Lênin về Đảng Cộng sản: Đảng của giai cấp,
Đảng của dân tộc, Đảng của xã hội, Đảng của nhân dân tham gia quá trình tổ
chức, kiểm tra, giám sát.
Từ trong di sản t tởng của Ngời có thể khái quát lại, nêu ra một định nghĩa
chung về Đảng Cộng sản Việt Nam nh sau: Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng
chân chính cách mạng, là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân (GCCN)

đại biểu cho lợi ích chính đáng của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Đảng bao gồm những ngời u tú trong phong trào công nhân và phong trào yêu nớc


những ngời có trình độ lý luận cách mạng tiên phong của thời đại, có tinh thần
cách mạng triệt để, có đạo đức, t cách và năng lực hoàn nhiệm vụ, một lòng một dạ
phục vụ Tổ quốc và dân tộc. Do đó Đảng là một đội tiên phong chính trị của
GCCN, hiện thân của trí tuệ, đạo đức, danh dự và lơng tâm của dân tộc.

1.2. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của Đảng.
Cách mạng Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam biết tự giác, đoàn kết tập
trung lực lợng đem sức ta mà giải phóng cho ta. Để nhân dân biết tự giác đứng
lên làm cách mạng trớc hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản, giai cấp mọi
nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng nh ngời cầm lái có vững
thuyền mới chạy Nhiệm vụ của Đảng là: Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để
lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ bọn đế
quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội chủ nghĩa.
Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một Đảng lãnh đạo. Đảng phải làm
cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng
hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh;
chỉ rõ con đờng giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết
cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi. Cách
mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc hớng, quần chúng phải có
Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đờng lối và phơng châm cho đúng. Cách mạng
là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lợng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần
chúng phải tổ chức rất chặt chẽ, phải kiên quyết, phải có Đảng để tổ chức và giáo
dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ thù địch, giành lấy chính
quyền.
Cách mạng thắng lợi, quần chúng vẫn phải có Đảng lãnh đạo vì: các thế lực

thù địch trong nớc và phản động nớc ngoài vẫn không ngừng chống phá sự nghiệp
cách mạng; phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hoá - xã hội cho nên Đảng vẫn
phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đa nhân dân lao động đến thắng
lợi hoàn toàn. Khi có chính quyền cần có sự lãnh đạo của đảng cách mạng chân


chính của GCCN toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một
đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể
của nớc mình thì mới có thể đa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và
cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công. Đảng lãnh đạo Việt Nam phải là ngời
sáng suốt, kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc
Việt Nam đoàn kết đa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, để thực hiện dân chủ
mới.
Sứ mệnh lịch sử của Đảng: Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát
tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh,
đồng bào sung sớng. Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có
lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để
giải phóng nhân dân và nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chinh trị của nhân dân. Sự
nghịêp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải
phóng con ngời ở Việt Nam cần có Đảng, chọn lựa tất yếu của lịch sử. Vì vậy,
trọng trách của Đảng hết sức nặng nề và quang vinh.

1.3. Cơ sở lý luận :
Cùng với sự lớn mạnh không ngừng của cách mạng thế giới, phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân cùng từng bớc trởng thành. Thế kỷ XIX có thể coi là
thế kỷ phong trào mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ đặc biệt là ở các n ớc châu
âu nơi có nền kinh tế t bản chủ nghĩa phát triển. Song phát triển đấu tranh của
công nhân chỉ dừng lại ở những hình thức giản đơn mang tính tự phát mà cha đợc
một lý luận cách mạng và tổ chức dẫn đờng. Cách mạng thế giới đang ở thế bế tắc.

Trong hoàn cảnh ấy những con ngời lịch sử xuất hiện trớc hết đó là Mác ăngghen. Nớc Đức là nơi có phong trào đấu tranh của công nhân vô cùng mạnh
mẽ nhng đều thất bại, Mác - ăngghen sớm nhận thức đợc điều này. Lúc đó trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có xuất hiện Đồng Minh những ngời
chính nghĩa , thành lập năm 1840. Tổ chức này mời Mác - ăngghen và các công


nhận lời tham gia vào năm 1847. Sau đó tổ chức này đổi tên thành Đồng Minh
những ngời cộng sản với khẩu hiểu: Vô sản tất cả các nớc liên hiệp lại. Đồng Minh
những ngời cộng sản trở thành lãnh đạo của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Có thể nói đây là tổ chức chính trị đầu tiên tập hợp những ngời u tú của
giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp t sản. Sau Đồng Minh
những ngời cộng sản là quốc tế I, quốc tế II nối tiếp nhau ra đời. Nhiệm vụ của các
quốc tế là đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, bè phái và truyền bá lý luận khoa học
mà Mác - ăngghen đã dày công nghiên cứu. Mác - ăngghen chỉ ra rằng trong
cuộc đấu tranh của mình, giai cấp công nhân tất yếu phải tổ chức ra một Đảng
chân chính cách mạng sứ mệnh tiên phong lãnh đạo. Trên cơ sở đó các Đảng công
nhân dân chủ xã hội nối tiếp nhau ra đời ở các nớc. Nhng chỉ đến khi Đảng công
nhân dân chủ xã hội Nga ra đời năm 1903 mới đánh dấu bớc trởng thành thực sự
của giai cấp công nhân. Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga mà sau này phát triển
thành Đảng Bônsêvích Nga là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn CN Mác với phong trào
công nhân Nga. Sự ra đời này đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết của phong trào đấu
tranh ở nớc Nga bấy giờ. Nh vậy, có thể khẳng định, vị trí, vai trò của Đảng cách
mạng một Đảng chân chính đợc kết hợp bởi chủ nghĩa xã hội khoa học và phong
trào công nhân đã đợc Mác-ănggen khẳng định, tiếp sau đó là giai cấp công nhân
tiến bộ ở các nớc. Sau Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga, các Đảng Mácxít khác
cùng lần lợt ra đời: Đảng cộng sản Mỹ năm 1919, Đảng cộng sản Pháp năm 1920,
Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1921 Lúc này CN Mác-Lênin đã trở thành vũ
khí t tởng, là kim chỉ nam cho phong trào cách mạng thế giới Đảng cộng sản các nớc là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn CN Mác-Lênin với phong trào công nhân của mỗi
nớc. Đảng cộng sản là sản phẩm của lịch sử đấu tranh không mệt mỏi của các nhà
t tởng vô sản và phong trào công nhân quốc tế. Nó đã ra đời và sẽ thực hiện sứ

mệnh lịch sử của mình. Mác đã khẳng định: Việc giai cấp vô sản tổ chức thành
chính đảng là tất yếu để đảm bảo cho cách mạng xã hội thu đợc thắng lợi và thực
hiện mục đích cuối cùng của nó là: tiêu diệt giai cấp. Nh vậy Mác đã chỉ ra rằng
chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là tất yếu lịch sử, và chỉ nh vậy thì giai
cấp công nhân mới dành đợc thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống t bản. Kế thừa


và phát triển t tởng Mác, Lênin viết: chỉ có chính đảng của giai cấp công nhân tức
là Đảng cộng sản mới có thể tập hợp, giáo dục, tổ chức đội tiên phong của giai cấp
vô sản và tất cả quần chúng lao động, chỉ có đội tiên phong ấy mấy có thể chống
lại nổi những dao động tiểu t sản không thể tránh khỏi của những quần chúng đó,
chống lại nổi những truyền thống và những sự tái phạm không thể thoát khỏi của
bệnh hẹp hòi phờng hội hoặc thiên kiến phản hội trong giai cấp vô sản và lãnh đạo
tất cả những hành động liên hợp của toàn bộ giai cấp vô sản, tức là lãnh đạo giai
cấp đó về mặt chính trị và thông qua giai cấp đó mà lãnh đạo tất cả giai cấp lao
động. Nếu không, thế thì không thực hiện chuyên chính vô sản đợc . Lênin đã
khẳng định vai trò của Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân
mới có đủ khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ mà cách mạng đề
ra. Do đo, việc cần thiết và bức thiết của mọi phong trào công nhân là phải tổ chức
cho đợc một Đảng cộng sản để lãnh đạo họ đấu tranh.
Lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân từ khi ra đời đến nay
đều khẳng định chỉ có một Đảng chân chính cách mạng Đảng cộng sản thực sự của
giai cấp vô sản thì mới làm nên thắng lợi của các cuộc đấu tranh. Đảng Bônsêvích
Nga lãnh đạo thành công cách mạng tháng Mời và đa nớc Nga trở thành cộng hoà
liên bang Xôviết. Đảng cộng sản của các nớc Đông âu cũng đa Đông âu trở thành
một bộ phận hùng mạnh của chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cách mạng Trung
Quốc, Truyền Tiên, Cu Balà những minh chứng đầy thuyết phục về vị trí, vai trò
của Đảng cộng sản mà ngày hôm nay vẫn tiếp tục đợc phát huy. Có thể nói Đảng
Cộng sản là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.


1.4. Cơ sở thực tiễn:
Cách mạng Việt Nam từ khi Pháp xâm lợc đến những năm 20 của thế
kỷ XX vẫn còn trong bế tắc. Con đờng cách mạng mà các vị tiền bối yêu nớc
đi chọn trớc đều đã thất bại. Dới ảnh hởng của phong trào cách mạng thế
giới, ở Việt Nam những năm 1925-1929 các tổ chức cộng sản cũng nối tiếp
nhau ra đời. Thế nhng các tổ chức này lại hoạt động phân tán, riêng lẻ,


không thống nhất nên phong trào cách mạng vẫn cha có thắng lợi nào đáng
kể. Cuối những năm 20 của thế kỷ XX các tổ chức cộng sản lại phân rẽ, mất
đoàn kết, tranh giành lợi ích của nhau làm ảnh hởng trực tiếp đến phong trào
cách mạng Việt Nam và đặt nó trớc nhiều khó khăn mới. Yêu cầu đặt ra lúc
này cho cách mạng Việt Nam là phải có Đảng thống nhất trong cả nớc để
lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động. Đáp ứng
đòi hỏi ấy của lịch sử, Nguyễn ái Quốc dới sự uỷ thác của Quốc tế Cộng sản
đã thống nhất các tổ chức Cộng sản Việt Nam thành một Cộng sản thống
nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 .
Nguyễn ái Quốc sinh ra trong gia đình nho học nghèo yêu nớc, trên
quê hơng có truyền thống đấu tranh cách mạng. Ngay từ nhỏ đợc tận mắt
chứng kiến đồng bào bị áp bức, bóc lột, sống trong cảnh lầm than, nô lệ, điều
đó đã tác động mạnh đến Ngời. Lớn lên Nguyễn ái Quốc lựa chọn con đờng
cách mạng giải phóng dân tộc bằng cách say mê học hỏi những kinh nghiệm
phơng Tây, đó chính là bớc ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn ái
Quốc. Buôn ba hoạt động ở nớc ngoài Nguyễn ái Quốc từng tham gia nhiều
hoạt động cách mạng, lãnh đạo nhiều tổ chức và là Ngời có công sáng lập
Đảng Cộng sản Pháp. Cũng trong quá trính hoạt động ấy Ngời đợc tiếp xúc
với CN Mác Lênin t tởng của các vị sớm đợc Nguyễn ái Quốc tiếp nhận.
T tởng về Đảng Cộng sản về vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản với phong trào
cách mạng nói chung cũng hình thành từ đây. Để rồi từ 1925-1930 Ngời đã
tích cực hoạt động để hình thành cho đợc một Đảng Cộng sản trên đất nớc

Việt Nam để lãnh đạo nhân dân Việt Nam tự giải phóng. Bằng sự nỗ lực hết
mình, bằng lòng yêu nớc cháy bỏng và cả nhiệt huyết cách mạng Nguyễn ái
Quốc đã thống nhất các tổ chức Cộng sản thành lập ra Đảng Cộng sản Việt
Nam ngày 2/3/1930. Ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định đợc vị trí, vai trò của mình với cách mạng của dân tộc qua việc lãnh đạo


các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sau
đó, trong suốt tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc Đảng Cộng sản Việt
Nam càng khẳng định đợc ý nghĩa to lớn của mình trong lòng dân tộc, xứng
đáng với niềm tin của nhân dân. Và hôm nay Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn
tiếp tục phát huy vai trò của mình lãnh đạo đất nớc trong sự nghiệp đổi mới,
trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Có thể nói dới sự chỉ dẫn của CN Mác-Lênin, kinh nghiệm của cách
mạng thế giới cùng công lao to lớn của Hồ Chú Minh, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã ra đời và khẳng định đợc chỗ đứng, đợc vị trí trong lòng dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đang và sẽ tiếp tục xây dựng ngày càng trong
sạch vững mạnh hơn để đáp ứng những nhiệm vụ mới mà lịch sử và thời đại
đã và đang đặt ra.
2. T tởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò lịch sử của Đảng
Cộng sản Việt Nam.

2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, của dân tộc Việt Nam.
Sự ra đời và tồn tại của Đảng nh là một tất yếu lịch sử, bởi vì Tổ quốc dân
tộc có nhu cầu, vì Đảng đáp ứng đợc nhu cầu tất yếu của sự phát triển của lịch sử.
Hồ Chí Minh khẳng định : cách mạng muốn thành công thì phải do nhân dân đoàn
kết đem sức ta mà giải phóng cho ta. Nhng nhân dân muốn làm cách mạng thành
công thì phải có Đảng dẫn đờng. Ngời viết : Đảng có vững, cách mạng mới thành
công, cũng nh ngời cầm lái có vững thuyền mới chạy.

Một Đảng cách mạng vững mạnh, đủ sức dẫn đờng cho nhân dân đấu tranh
giành thắng lợi thì trớc hết Đảng phải là một tổ chức chính trị đại diện cho trí tuệ
của cả dân tộc, một Đảng phải có một chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng đều phải hiểu
và phải theo chủ nghĩa ấy. Chủ nghĩa của một ngời, một tổ chức chính trị của một
tập đoàn ngời hoặc của cả một cộng đồng : quốc gia dân tộc Đảng Cộng sản dẫu


sinh ra ở một nớc chậm phát triển, lạc hậu về kinh tế-văn hoá cũng có thể giữ đợc
vai trò lãnh đạo cách mạng xã hội nếu bộ phận tiên tiến của quốc gia- dân tộc đó
biết vơn lên nắm lấy lý luận tiên phong của thời đại. Theo Hồ Chí Minh thì có ba
tri thức sau tạo thành lý luận tiên phong của một Đảng cách mạng chân chính: học
thuyết Mác Lênin, kinh nghiệm cách mạng ở các nớc và kinh nghiệm cách
mạng ở trong nớc. Đảng lãnh đạo xã hội, có nghĩa là Đảng phải nắm đợc cái cội
nguồn đặc biệt của quyền lực là trí tuệ, là sức mạnh vô biên của tri thức. Chỉ có đại
biểu xứng đáng cho trí tuệ của dân tộc ở bất cứ một giai đoạn lịch sử nào, trong
một thời đại nào. Đảng mới đủ điều kiện để giữ vai trò là đội tiên phong, lãnh đạo
xã hội. Trong mọi giai đoạn cách mạng, bao giờ Đảng cũng phải là đội tiên phong
của giai cấp và dân tộc. Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, Đảng cùng phải chú ý
tới việc hoàn thiện mình, phải đạt tới trình độ lý luận tiên phong của thời đại để
lãnh đạo đất nớc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc.
Lý luận cách mạng là yếu tố tiên quyết để làm nên sự vững mạnh của Đảng,
lý luận đó phải trở thành chủ nghĩa của Đảng, nó soi sáng cho mọi hăng động của
Đảng, nó quyết định năng lực trí tuệ, trí thông minh và tài thao lợc trong lãnh đạo
cách mạng của Đảng, nó làm cho sự lãnh đạo chính trị của Đảng trở thành một
khoa học và một nghệ thuật. Nhờ có Chủ nghĩa làm cốt mà Đảng trong sáng về
t tởng, thống nhất ý chí và hành động, đề ra và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính
trị là lãnh đạo và phục vụ nhân dân. Do vậy mà Đảng làm tròn nhiệm vụ giải
phóng dân tộc làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sớng. Tổ chức trong
sạch, vững mạnh là đòi hỏi nghiêm ngặt trong lý luận và hoạt động thực tiễn của

Đảng, cùng với t tởng- đờng lối chính trị, nó hợp thành nhân tố quyết định thành
bại của cách mạng. Khi đề cập tới tổ chức của Đảng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Đây là tiêu chí đánh giá,
phân định rạch ròi giữa một tổ chức cách mạng chân chính một Đảng Cộng sản
đích thực, với tất cả các đảng phái, các tổ chức chính trị đã xuất hiện trong lịch sử;
Đảng phải là ngời lãnh đạo sáng suốt, trung thành của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam. Tổ chức của Đảng phải bao gồm


những ngời u tú trong công nhân và nhân dân lao động, tự nguyện hy sinh chiến
đấu vì mục tiêu lý tởng của Đảng, vì lợi ích của nhân dân. Đảng mạnh là bởi cái
nền tảng của nó vững chắc. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng
chi bộ, các tổ chức cơ sở của Đảng và đảng viên. Ngời viết: Đảng là mỗi chúng ta.
Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên. Vì vậy phải coi xây dựng đảng từ mỗi một
đảng viên. Phải coi trọng công tác phát triển Đảng, phải chọn lọc đảng viên một
cách hết sức cẩn thận. Phải chăm lo giáo dục đảng viên để họ ở đâu, làm bất cứ
việc gì cũng đều phát huy đợc tính tiến phong gơng mẫu đối với quần chúng Đảng
viên đi trớc, lòng nớc đi sau phải đợc coi là một tiêu chí cơ bản nhất trong việc
xem xét t cách ngời đảng viên cộng sản.
Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Do đó,
Đảng phải biết lựa chọn cán bộ, huấn luyện họ kỹ càng, phải hiểu cán bộ, nuôi
dạy, đối đãi, sử dụng, cất nhắc, thơng yêu, phê bình cán bộ Dùng ngời nh dùng
gỗ, vì việc mà dùng ngời, phải trong nhân tài, trong mỗi ngời làm việc có ích cho
nhân dân. Vì vậy, Đảng phải biết chăm lo đào tạo, bồi dỡng, sử dụng nhân tài, phải
vì lợi ích trăm năm mà trồng ngời.

Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân,

Đảng vĩ đại là ở nơi Đảng biết tìm thấy sức mạnh từ trong nhân dân, vì nhân dân
mà làm việc đủ khả năng làm cho nhân dân biết đem sức ta mà giải phóng cho

ta. Nhân dân là tối thợng, là sức mạnh, bất cứ thế lực nào, nếu không phục vụ
nhân dân, sớm muộn cũng đều bị nhân dân đạp đổ. Đảng phải xây dựng mình
thành một tổ chức chính trị gắn bó mấu thịt với nhân dân, phải làm đầy tớ thật
trung thành của nhân dân, nghĩa là lãnh đạo và phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh
căn dặn: Việc gì lợi ích cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân ta phải
hết sức thánh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Ngời
còn nói: Đảng Cộng sản Việt Nam vĩ đại vì nó bao trùm cả nớc, đồng thời nó gần
gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta.
Mục tiêu của Đảng Cộng sản ở từng nớc, nh C.Mác đã chỉ rõ là trớc hết
phải giành lấy chính quyền. Khi đã giành đợc chính quyền rồi thì Đảng phải lãnh
đạo xây dựng Nhà nớc của dân, do dân và vì dân. Nhà nớc ấy phải thực sự là công
bộc của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Do vậy mà khi đã có chính


quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả
cách mạng, xây dựng thành công CNXH là sứ mạnh cao cả mà nhân dân trao cho
Đảng Cộng sản, đòi hỏi Đảng phải đáp ứng. Nhân dân cần Đảng dẫn đờng không
chỉ là một tất yếu lịch sử trong giai đoạn cách mạng dân tộc, dân chủ mà cũng là
một tất yếu lịch sử, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân xây
dựng xã hội mới.

2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa CN
Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nớc.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của GCCN, là đội đa yếu tố tự
giác vào phong trào công nhân. Là định hớng chính trị, giáo dục, động viên, tập
hợp lực lợng và tổ chức cho quần chúng hành động cách mạng. Nhng muốn thật sự
là đội tiên phong, Đảng phải đợc vũ trang bằng lý luận tiên phong, bằng sự hiểu
biết các quy luật của cách mạng và các quy luật chính trị xã hội. Nếu không,
Đảng không đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản (GCVS), lôi cuốn
GCVS đi theo mình. Đảng phải đứng đầu GCCN, phải nhìn xa hơn GCCN, phải dìu

dắt GCCN chứ không phải đi theo đuôi phong trào tự phát.
Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với CN Mác-Lênin. Đảng
giác ngộ GCCN lành mạnh, lập trờng giai cấp dứt khoát, tác phong giai cấp đúng
đắn. T tởng của Đảng là t tởng của GCCN, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân.
Vì vậy, trong Đảng không thể có những t tởng, lập trờng và tác phong trái với t tởng, lập trờng và tác phong của GCCN. Đảng là sự kết hợp CN Mác với phong trào
công nhân: Tính đúng đắn của luận điểm này là ở sự phân tích phong trào công
nhân ở các nớc t bản đã phát triển giai cấp công nhân đã trở thành một giai cấp
dân tộc. Và trên phạm vi thế giới, giai cấp vô sản đã xuất hiện nh là một lực lợng
chính trị độc lập, giữ vai trò tiên tiến của thời đại, có sứ mệnh đào huyện chôn
chủ nghĩa t bản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nớc t bản là sự kết hợp giữa CN MácLênin với phong trào công nhân là thể hiện của xu thế phát triển khách quan của


lịch sử, là biểu hiện về mặt chính trị do sự phát triển của kinh tế, của sức sản xuất
xã hội ở thời đại t bản chủ nghĩa quyết định. Cần phải tiếp thu đợc t tởng tiên tiến
của thời đại và nhận thức đợc xu thế phát triển khách quan của lịch sử mới đa
phong trào dân tộc ở Việt Nam đi vào đúng giữa dòng của thời đại, mới mong
giành đợc thắng lợi. Vì vậy cần phải tiếp nhận học thuyết của V.I.Lênin về xây
dựng một Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Song nếu chỉ đa công thức đó vào
Việt Nam để vận dụng thì chắc chắn không thể xây dựng đợc một Đảng đáp ứng đợc yêu cầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ tới nay. Đảng Cộng sản ra
đời là sự kết hợp 3 yếu tố, trong đó chủ nghĩa yêu nớc là không chỉ tạo nên một
Đảng Cộng sản mang mầu sắc Việt Nam mà còn là một yếu tố cấu thành bản chất
Đảng, nó quyết định cả quá trình vận dụng và phát triển của Đảng từ khi thành lập
tới nay. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là nhờ sự kết hợp ba yếu tố CN MácLênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nớc Việt Nam, đó là một sáng tạo
độc đáo của Hồ Chí Minh. Điều đó đã nâng Hồ Chí Minh lên hàng các tác giả kinh
điển về lý luận xây dựng đảng cộng sản. Độc lập, tự do, hạnh phúc là khát vọng
muôn đời của nhân dân. Đó cũng là khát vọng, là nguyện vọng cao nhất, duy nhất
của Hồ Chí Minh. Cả cuộc đời riêng của Hồ Chí Minh, Ngời luôn luôn chỉ sống và
phấn đấu cho một lý tởng chung, cho một ham muốn tột bậc là lam cho nớc Việt
Nam đợc hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn đợc tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,

áo mặc, ai cũng đợc học hành.
Hồ Chí Minh là một biểu tởng về sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Ngời
đã sống và đòi hỏi mọi đảng viên, đặc biệt là lãnh tụ cán bộ chủ chốt của Đảng
phải biết sống ở giữa cuộc đời thờng, thấu hiểu tâm tự nguyện vọng, những khó
khăn, nhọc nhằn và cả nhừng oan trái đâu khổ, uất ức của nhân dân, có ý thức trách
nhiệm, dũng cảm và kiên trì tìm cách giải quyết có hiệu quả những tình trạng đó.
ở hầu hết các nớc, khi đảng đã lãnh đạo nhân dân giành đợc chính quyền,
đảng trở thành đảng cầm quyền thì nguy cơ đánh mất bản thân mình, tức là đảng
không còn đủ t cách là đại biểu cho trí tuệ, lơng tâm và danh dự của nhân dân tộc
nữa bất nguồn từ chỗ đảng tách khổ nhân dân. Từ chỗ quan liêu xa dân đến chỗ trở


thành cực đối lập với nhân dân là cả một quá trình phát triển tiên tiến. Đảng mất
vai trò lãnh đạo xã hội là bởi vì đảng mất nhân dân.
Đảng lãnh đạo xã hội tức là lãnh đạo những con ngời cụ thể. Họ sống trong
những điều kiện làm việc, sinh hoạt khác nhau, có nhu cầu, và lợi ích rất khác nhau
trong những hoàn cảnh riêng biệt: cá nhân, gia đình, gia tộc, dân tộc trên những
vùng lãnh thổ có hoàn cảnh địa lý kinh tế, chính trị, lịch sử khác nhau.
Đảng Cộng sản bao toàn những ngời u tú thì nó cũng chỉ chiếm một tỉ lệ rất
nhỏ trong dân c. Đảng có trách nhiệm lãnh đạo mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
nhng chắc nhắn Đảng không thể thâu thí vào trong tổ chức của mình tất cả những
ngời tài giỏi ở mọi cấp, mọi ngành, ở trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,
khoa học, căn học, nghệ thuật. Để có những quyết sách chiến lợc đúng, nhất là để
tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, Đảng không có cách nào
khác là phải khiêm tốn học hỏi dân chúng. Nhân dân là ngời thày vĩ đại củ tất cả
các vĩ nhân. Đảng Cộng sản đã có một thời thực sự vĩ đại là bởi vì Đảng là con đẻ
của nhân dân vĩ đại và Đảng đã biết sống ở trong lòng quần chúng, hiểu nhân dân
và biết học tập ở nhân dân.
Việc làm, cơm áo, nhà ở là nhu cầu tối thiểu của con ng ời. Ngời ta phải
đợc làm việc, và phải đợc sống ngày một đầy đủ. Cùng với trình độ dân trí đợc

nâng cao thì nhu cầu hởng thụ vật chất của nhân dân cũng không ngừng đợc nâng
cao. Ngời ta không chỉ đòi hỏi quyền đợc sống mà còn đòi hỏi cả chất lợng sống.
Càng hiểu biết càng có nhu cầu. Vì vậy Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát
triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Nâng cao đời sống của dân chúng do vậy là trách nhiệm của Đảng, là mục đích
chính trị của Đảng. Mặt khác nâng cao dân chúng cũng đồng thời là nhu cầu
của Đảng. Đảng muốn tồn tại và phát triển thì cần phải củng cố nâng cao cơ sở xã
hội của mình. Nhân dân giàu, đất nớc hùng mạnh trên nền kinh tế văn hoá phát
triển mgày một cao là nền tảng là gốc rễ của dự tồn tại và phát triển của Đảng.
Đảng chỉ xây đợc lầu thắng lợi trên nền tảng là dân chúng ngày càng đợc nâng cao.
Hồ Chí Minh đặt vấn đề xây dựng một đảng sao cho nó gắn bó máu thịt với
nhân dân thì ngời cộng sản phải xác định: Tôi sống với nhân dân của tôi. Cùng đổ


mồ hôi, cùng rơi nớc mắt . Nếu khi nào Đảng viên cộng sản, nhất là những ngời
giữ trọng trách ở trong Đảng không sống với cuộc sống của nhân dân thì khi ấy
Đảng đứng trớc một nguy cơ là mất ngay những điều kiện số của chính bản thân
Đảng.

2.3. Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính
trị đồng thời là bộ phận trong hệ thống chính trị đó. Đảng ở trong xã hội
- Đảng của cả xã hội và cả dân tộc.
Đảng là đội tiên phong của GCCN, đại biểu lợi ích giai cấp, nhân dân và
dân tộc, không thay đổi mục đích lý tởng của mình: giải phóng nhân dân khỏi ách
áp bức bóc lột, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Song, Đảng có
sự thay đổi căn bản về nhiệm vụ đấu tranh yêu cầu cách mạng cụ thể, đặc biệt là
thay đổi về điều kiện hoạt động, lãnh đạo nhân dân. Khi trở thành Đảng cầm
quyền, Đảng phải phấn đấu rèn luyện, trở thành một Đảng thật trong sạch vững
mạnh. Đảng phải đổi mới phơng thức lãnh đạo theo hớng ngày càng gắn bó máu
thịt với nhân dân.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, khi trở thành Đảng cầm quyền, đối tợng lãnh
đạo của Đảng không thay đổi; quần chúng nhân dân giờ cũng là đối tợng lãnh đạo
của Đảng và Đảng có trách nhiệm chăm lo đến mọi mặt đời sống của nhân dân.
Mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngời là lý
do tồn tại và đấu tranh của Đảng. Ngoài lợi ích củ Tổ quốc của nhân dân, Đảng
Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác. Khi nhân dân giành đợc chính
quyền và Đảng trở thành Đảng cầm quyền, Đảng và nhân dân đã tiến một bớc lớn,
có tính chất quyết định trên con đờng thực hiện lý tợng, mục đích của mình. Nhng
Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, khi đã trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề mục đích của
Đảng đợc đặt ra với một ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Nhận thức đúng đắn và thực
hiện hoá nó là vấn đề không đơn giản. Ngời nhấn mạnh: Những ngời cộng sản
chúng ta không một chút nào đợc quên lý tởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ
quốc hoàn toàn độc lập, cho CNXH hoàn toàn thắng lợi trên đất nớc Việt Nam và


trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở rằng nguy cơ lớn nhất đối với
Đảng là khi đã có quyền lực trong tay, ngời đảng viên cộng sản lãng quên mục
đích của mình là phải toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Với Hồ Chí Minh, độc
lập, tự do, hạnh phúc là bản chất của chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó chính là điểm
xuất phát để xây dựng đảng Việt Nam xứng đáng với danh hiệu đảng cầm
quyền.
Đảng cầm quyền vừa là ngời lãnh đạo, vừa là ngời đầy tớ thật trung thành
của nhân dân. Đảng phải lãnh đạo xây dựng Nhà nớc của dân, do dân và vì dân. Hồ
Chí Minh nhấn mạnh rằng: Sứ mệnh của Đảng là ngời lãnh đạo quần chúng nhân
dân đấu tranh vì cuộc sống ấm no hạnh phúc của chính họ. Muốn vậy, sau khi
giành đợc chính quyền, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng chính
quyền nhân dân, công cụ sắc bén, thiết yếu để tổ chức, xây dựng xã hội mới và bảo
vệ thành quả cách mạng. Bản chất Nhà nớc Việt Nam đợc Hồ Chí Minh xác định
là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông- trí
thức do GCCN lãnh đạo. Tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nớc

thống nhất với nhau không thể tách rời.
Hồ Chủ Tịch là tợng trng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nớc chân chính kết hợp
nhuần nhuyễn với công nhân quốc tế vô sản. Trái tim, khối óc của Ngời giành cho
dân tộc Việt Nam cũng hớng về giai cấp vô sản. Hồ Chủ Tịch chẳng những là một
nhà yêu nớc vĩ đại, mà còn là một chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc
tế và phong trào giải phóng dân tộc của thế kỷ XX. Bác thờng dạy chúng ta phải
chăm lo bảo vệ sự đoàn kết quốc tế, vì sự nghiệp to lớn của cách mạng Việt Nam,
vì nghĩa vụ cao cả đối với cách mạng thế giới.

2.4. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chung tay góp sức vào phong
trào cách mạng cùng các Đảng Cộng sản anh em.
Quan hê quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã
gắn chặt với hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh. Nhng không phải bao giờ hãi
lĩnh vực này cũng hoàn toàn khớp với nhau. Từ hoạt động cách mạng nói chung,


hoạt động quốc tế nói riêng, Nguyễn Ai Quốc đã hình thành những nguyên tắc cơ
bản về quan hệ quốc tế của Đảng. Thực tiễn lịch sử đã xác nhận sự đúng đắn của t
tởng về quan hệ quốc tế của Đảng. Thực hiện lịch sử đã chứng minh rằng Đảng
Cộng sản Việt Nam thực hiện đúng t tởng Hồ Chí Minh nên cách mạng Việt Nam
thắng lợi.
Quan niệm về quan hệ quốc tế của Đảng Cộng sản là thể hiện nhận thức
đúng của bản thân Đảng về tính chất thời đại. Nhận thức sâu sắc đợc tính chất của
thời đại, Hồ Chí Minh đã xác định mối quan hệ cơ bản giữa những ngời sống trên
hành tinh chúng ta : Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống ngời
bóc lột và giống ngời bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mỗi tình hữu ái là thật mà
thôi: tình hữu ái vô sản. Bức tranh toàn cảnh, xét về mặt chính trị, xã hội cho tới
nay vẫn chứng tỏ t tởng trên của Hồ Chí Minh đã phản ánh đúng hiện thực cuộc
sống của xã hội loài ngời là vẫn còn có sự phân chia giai cấp đối kháng, có sự áp
bức bóc lột và nô dịch dới những hình thức khác nhau. Quan niệm về đoàn kết

quốc tế của Hồ Chí Minh xuất phát từ nhận thức sâu sắc của Ngời về sự phát triển
khách quan của thời đại dẫn tới liên kết các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản tất
cả các nớc để chống lại liên minh quốc tế của chủ nghĩa đế quốc. Quan điểm của
Hồ Chí Minh về sự đoàn kết quốc tế chỉ là việc thực hiện sáng tạo khẩu hiệu chiến
đấu của V.I. Lênin Vô sản các nớc và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!, mà còn
phát triển, làm phong phú thêm quan điểm của C.Mác và V.I.Lênin về dân tộc và
giải phóng dân tộc.
Trong mỗi quan hệ với Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới, đặc biệt
với các Đảng lớn (Pháp, Liên Xô (cũ), Trung Quốc) vốn có quan hệ hữu nghị
truyền thống với Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định: Tranh thủ
sự giúp đỡ của các Đảng anh em trong sự nghiệp đấu tranh giai phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội; phối hợp hành động trong mọi lĩnh vực đấu tranh
cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội và cho lý tởng chung: chủ nghĩa cộng sản;
tôn trọng tính độc lập, chủ động của mỗi Đảng, chiến đấu vì mục đích chung và lợi
ích của mỗi dân tộc, mội Đảng. Những t tởng của tính nghuyên tắc trên đợc thể


hiện trong chính sách đối ngoại và hoạt động quốc tế của Đảng Việt Nam và nó đã
góp phần vào sự thắng lợi của cách mạng mỗi Đảng, mỗi nớc.
Trong quan hệ quốc tế của Đảng, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng mối quan
hệ của Đảng Cộng sản Việt Nam với các Đảng cách mạng chân chính trên bán
đảo Đông Dơng. Ngời đợc hai nớc Lào, Cămpuchia thừa nhận là ngời sáng lập ra
Đảng Cộng sản Đông Dơng, tiền thân của các Đảng mác xít nh: Trong thời kỳ
chống Pháp để tạo điều kiện thuận lợi lãnh đạo các phong trào giải phóng dân tộc
Đảng Cộng sản Đông Dơng đó đợc tách ra thành 3 Đảng: Đảng Cộng sản Việt
Nam, Đảng nhân dân cách mạng Lào, Đảng cách mạng Câmpuchia, mặc dù đợc
tách ra nhng mối quan hệ giữa hai Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng nhân
dân cách mạng Lào luôn chặt chẽ gắn bó với nhau. Đến ngày 22/3/1955, Đảng
nhân dân cách mạng Lào đã đợc thành lập và lấy Chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng
HCM làm kim chỉ nam trong cuộc giải phóng dân tộc. Sự thắng lợi vẻ vang của

nhân dân Lào, có một phần vai trò to lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng và sự
giúp đỡ của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung. Song bao giờ Hồ Chí Minh cũng
gắn sứ mệnh lịch sử của GCCN mỗi nớc đối với cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc. Cho nên, Ngời đã góp phần quan trọng vào việc thành lập Đảng riêng cho mỗi
dân tộc, giữ quan hệ bình đẳng, không can thiệp vào nội bộ của nhau, trên tinh
thần quốc tế.
Nhận thức đúng tính chất thời đại, Hồ Chí Minh đã tôn trọng tất cả các
khuynh hớng, tổ chức dân chủ tiến bộ trên thế giới. Điều này thể hiện trong mối
quan hệ chặt chẽ với các nớc dân tộc độc lập, các chính đảng, tổ chức có t tởng tiến
bộ, có khuynh hớng Mác xít-Lêninit hoặc có cảm tình với CN Mác Lênin. Có
thể nói rằng, Hồ Chí Minh đã sớm thấy tầm quan trọng của việc hội nhập vào cộng
đồng quốc tế hoà bình, dân chủ và tiến bộ, trong điều kiện lãnh đạo cả dân tộc phải
liên tiếp chiến đấu chống các đế quốc lớn để giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Và
trong bất cứ trờng hợp nào, hội nhập cũng phải giữ đợc nguyên tắc: giữ vững bản
chất một Đảng Cộng sản, bản sắc của dân tộc, độc lập, chủ quyền của quốc gia. Do
đó, cách mạng giai phóng dân tộc Việt Nam luôn luôn chủ động gắn bó với phong
trào cách mạng thế giới.


Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn gắn bó với các Đảng Cộng sản
và công nhân quốc tế, với các tổ chức dân chủ và tiến bộ, tìm bạn, cô lập và phân
hoá kẻ thù để tập hợp ngày càng đông đảo lực lợng cho cách mạng. Hơn ai hết, Hồ
Chí Minh nhận rõ sức mạnh của một Đảng Cộng sản không chỉ bắt nguồn ở việc
đoàn kết mọi lực lợng dân chủ, tiến bộ trong nớc, trên cơ sở liên minh công-nông,
mà còn ở việc tập hợp mọi lực lợng tiến bộ, cách mạng trên thế giới.

3. Giá trị thực tiễn của t tởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò
Đảng Cộng sản trong thời đại ngày nay.
3.1. Hoàn cảnh mới của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Nớc Việt Nam chuyển sang thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện cơ chế thị
trờng theo định hớng XHCN, mở rộng giao lu quốc tế.
Đổi mới là sự nghiệp mới mẻ, cha có tiền tệ, cha có mẫu hình, Việt Nam
mới đi những bớc ban đầu, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Và chỉnh đốn đảng gắn
liền với đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở nớc Việt Nam hiện nay. Sự
nghiệp đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo đã
thu đợc những thành tựu rất quan trọng. Đất nớc vợt qua những thử thách ngặt
nghèo, thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội sau thời hậu chiến, bớc
vào thời kỳ phát triển mới. Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân đợc xây
dựng ngày một hoàn thiện; quyền dân chủ của nhân dân đợc mở rộng và củng cố;
đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng đợc cải thiện
và nâng cao. Thế giới đã nhìn nhận Việt Nam nh là một đất nớc của hoà bình, ổn
định và phát triển, một đất nớc sẵn sàng làm bạn với tất cả các nớc trên tinh thần
tôn trọng chủ quyền và hợp tác hữu nghị.
Tất cả những gì Đảng đã làm đều vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Do vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đợc nhân dân tin
nhiệm và uỷ thác sứ mệnh Là lực lợng lãnh đạo Nhà nớc và xã hội . Đảng Cộng
sản Việt Nam ý thức rõ sứ mệnh của mình trớc đất nớc, tự thấy những hạn chế,


khuyết điểm của mình nên đã tiến hành đổi mới và chỉnh đốn. Đảng lãnh đạo Nhà
nớc những Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, mọi đảng
viên của Đảng có nghĩa vụ đặt mình dới pháp luật, tuân theo pháp luật. Đảng Cộng
sản Việt Nam ý thức sâu sắc rằng: Một dân tộc, một Đảng và mỗi ngời, ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn đợc
mọi ngời yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng, nếu sa vào chủ nghĩa
cá nhân. Chính vì vậy Đảng không giấu giấm khuyết điểm, kiên quyết không bao
che cho những đảng viên, dù ở cơng vị nào, có những hành vi làm ô danh Đảng,
làm hại đến uy tín của Đảng với nhân dân.
Đó là những việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang làm để giữ gìn Đảng

thật thật trong sạch, vững mạnh, mãi mãi xứng đáng là ngời lãnh đạo và ngời đầy
tớ thật trung thành của nhân dân.

3.2. Vấn đề quan trọng việc vận dụng sáng tạo t tởng Hồ Chí
Minh về vị trí, vai trò của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xớng công cuộc đổi mới, từ đổi mới t duy
kinh tế, đến đổi mới tổ chức, cán bộ, đổi và từng bớc hoàn thiện hệ thống chính trị
theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nớc quản lý, nhân dân làm chủ, là bong dậy
năng lực sáng tạo to lớn của nhân dân. Ngày nay bộ máy đất nớc đã thay đổi sâu
sắc, đạt đợc sự ổn định chính trị xã hội, kinh tế phát triển tơng đối toàn diện với
tốc độ tăng trởng khá cao. Không chỉ quan tâm phát triển kinh tế, Đảng còn chăm
lo xây dựng đời sống tinh thần, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đâm đà bản sắc
dân tộc. Đời sống nhân dân đợc cải thiện về mọi mặt, không chỉ các thành phố, mà
bộ mặt nông thôn cũng có nhiều thay đổi. Việt Nam có quan hệ với hầu hết các nớc và các tổ chức tài chính tín dụng quan trọng trên thế giới. Vì thế mà uy tín của
Việt Nam không ngừng đợc nâng cao trên trờng quốc tế.
Nâng cao chất lợng giáo dục t tởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng,
chống chủ nghĩa cá nhân tạo sức đề kháng từ mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện có
nề nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ đảng, trớc hết là mỗi cán


bộ, đảng viên, sự giám sát của nhân dân và công luận. Củng cố và nâng cao chất lợng hoạt động của các cơ quan kiểm tra đảng, thanh tra nhà nớc và thanh tra nhân
dân. Không ngừng hoàn thiện chính sách, pháp luật; trớc hết là về quản lý ngân
sách, tài sản công, đất đai. Tăng cờng công tác nghiên cứu lý luận. Trong nghiên
cứu lý luận, phải bám sát thực tiễn, mở rộng dân chủ, phát huy tự do t tởng, khai
thác mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân; tránh mệnh lệnh, áp đặt, tuỳ tiện, duy
ý chí; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, không phát ngôn bừa bãi, không phát tán tài
liệu phản động để kẻ thù lợi dụng chống phá Đảng, chống phá chế độ. Đẩy mạnh
việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới và bức
xúc từ thực tiễn đặt ra; tạo sự đồng thuận trong xã hội. Định hớng d luận, khẳng
định đúng, sai trong trờng hợp có nhiều thông tin trái ngợc. Kiên quyết đấu tranh

với chủ nghĩa cơ hội bằng nhiều hình thức: Thông qua các phơng tiện thông tin đại
chúng, thông qua d luận, thông qua hội nghị, hội thảo

Kết luận.
Nhân dân Việt Nam hơn một lần, đã thấm thía nỗi nhục mất nớc. Trớc mắt
chúng ta, nỗi nhục nghèo nàn và lạc hậu còn bức bối hơn. Chúng ta thật sự đồng
cảm với Bác Hồ khi ngời nói: nếu nớc đã độc lập rồi mà dân không đợc hởng hạnh
phúc, cứ chết đói, chế rét thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì. Nỗi đồng cảm đó tạo ra
sự bức bách lớn trong nghĩ suy và hành động của chúng ta, từ Đảng Cộng sản đến
GCCN, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Thời kỳ đầy biến động này đang thứ thách cả sức sống của CN Mác-Lênin
và t tởng Hồ Chí Minh. Nhiều ngời và nhiều thế lực hiện đang đả kích CN Mác
Lênin và t tởng Hồ Chí Minh một cách dữ dằn và cay nghiệt. Nhng rồi, cứ mỗi lần
nh thế, t tởng của các vị ấy tỏ rõ hơn sức mạnh trờng tồn của mình. Năm tháng sẽ
qua đi, sức sống dân tộc Việt Nam thâu yêu của chúng ta- một dân tộc bé nhỏ nhng dẻo dai, đầy bản lĩnh, có vị thế trong nền văn minh của loại- vẫn biểu hiện một


cách sinh động bởi vì dân tộc Việt Nam đang đi theo con đờng mà Bác Hồ đã
chọn. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, về xây dựng đảng nói
chung về vị trí, vai trò nói riêng vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp đổi mới
hiện nay ở nớc Việt Nam.
Vào thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, tự
chỉnh đốn bản thân mình để đổi mới toàn xã hội; việc thấu hiểu, vận dụng và phát
triển t tởng Hồ Chí Minh, làm cho t tởng đó sống mãi với sự nghiệp cách mạng của
nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng bởi vì một t tởng đúng không phải để trng bày trong tủ kính mà nó cần đi vào cuộc sống, hiện diện trong tiến trình của dân
tộc thông qua các thế hệ kế tiếp nhau. Tuân theo lời dạy của Bác, chúng ta quyết
tâm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thật trong sạch vững mạnh, mãi mãi xứng
đáng là ngời lãnh đạo, ngời đầy tớ thật trung thành của nhân dân, quyết tâm phấn
đấu vơn lên, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc
vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên chủ

nghĩa xã hội .
Hồ Chí Minh không chỉ là Ngời cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam
mà còn là một ngời bạn thân tình của nhân dân thế giới nói chung, của các bộ tộc
Lào anh em nói chung. Đối với nhân dân Lào, Hồ Chủ Tịch luôn sống mãi trong
trái tim nh một biểu tợng cao quý cho tình đoàn kết Việt-Lào ngàn đời. Ngời
cùng với lãnh tụ nhân dân Lào Cay Xỏn Phom Vi Hẳn đã xây nền đắp móng cho
tình đoàn kết lãng giềng hữu nghị keo sơn Việt-Lào: Việt Lào hai nớc chúng ta
tình sâu hơn nớc Hồng Hà, Cửu Long. Chính vì vậy t tởng Hồ Chí Minh không
chỉ là tài sản dành riêng cho nhân dân Việt Nam mà còn là tài sản của nhân loại.
Với sinh viên Lào nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh vừa là một nhiệm vụ nặng nề,
khó khăn do hạn chế về ngôn ngữ nhng đồng thời cũng hết sức vẻ vang. Thông qua
việc nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh của sinh viên Lào, t tởng của Ngời sẽ lại càng
toả sáng và bồi đắp phù sa cho mối tình đoàn kết Việt Lào ngày càng gắn bó
keo sơn, trờng tồn nh dòng Cửu Long vĩnh hằng.



×