Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo luật tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.52 KB, 19 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

QUí CNG

CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

QUí CNG

CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TSKH. Lấ VN CM

H NI - 20



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền tư pháp bất kỳ quốc gia nào cũng là bộ phận quan trọng cấu thành
một chế độ nhà nước nhất định. Cũng như Nhà nước, nền tư pháp cũng phải
vận động, biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội và muốn xây dựng Nhà
nước pháp quyền có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, quyền con người thì trước tiên phải hoàn thiện hệ thống
pháp luật phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm theo hướng xây dựng các
cơ quan bảo vệ pháp luật làm nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có
ý nghĩa quan trọng, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Ngay từ lời nói đầu, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ mục tiêu dân
chủ và khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam trong việc xây
dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh và đã được làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản
của công dân, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền
con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta.
Tuy nhiên, thực tiễn trong những năm qua nền tư pháp chưa chuyển biến kịp
trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, trước những tác động tiêu
cực nhiều mặt của nó. Vì lẽ đó, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị (khóa IX) đã ra
Nghị quyết số 08 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp”, thực
chất là mở ra một cuộc cải cách sâu rộng được triển khai tất cả các bộ phận
cấu thành nền tư pháp. Tiếp đến Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về
“chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ quan có thẩm quyền đã
tập trung xây dựng, hoàn thiện các chế định pháp lý liên quan đến hoạt động
tố tụng hình sự, trong đó chế định về các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi

1



cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam... (các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nói
chung) nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải
cách tư pháp mà chủ yếu là đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
người dân; Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị đã nêu rõ:
Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành
pháp luật của các cơ quan tư pháp; tăng cường công tác kiểm sát
việc bắt, tạm giữ, tạm giam đảm bảo đúng pháp luật; … hạn chế
việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu
hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các
biện pháp tạm giam; xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm
quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; hoàn thiện
các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công
khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người …[7].
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là các biện pháp cưỡng
chế nhà nước được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị
cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm nhằm ngăn chặn tội phạm, không cho
người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều
tra, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đúng
pháp luật. Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là vấn đề rất nhạy
cảm, trực tiếp tác động đến quyền con người, quyền công dân được quy định
trong Hiến pháp và luật (quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền tự do đi lại,
quyền làm việc, sinh hoạt, học tập...). Vì thế khi áp dụng đối với từng biện
pháp ngăn chặn đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền, phải hết sức thận trọng,
phải đúng với căn cứ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đặc biệt là biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt

2



tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong những năm qua trên đại bàn cả
nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng cho thấy vẫn còn
có những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức
của những người tiến hành tố tụng đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đó là việc tạm
giam bị can một cách tràn lan, sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện
pháp nghiệp vụ, tạm giam thay điều tra, tạm giam bị can, bị cáo với thời gian
quá dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với tính tôn
nghiêm của pháp luật hình sự, gây nên những dư luận xã hội không tốt.
Ngược lại, nếu không áp dụng kịp thời biện pháp tạm giam có thể sẽ gây khó
khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng và có thể dẫn đến hậu quả bỏ lọt tội
phạm, hoặc tạo điều kiện cho người có hành vi phạm tội có cơ hội tẩu tán
những tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của mình. Nếu lạm
dụng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu về
chính trị, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu xuyên tạc chế
độ nhà nước ta, gây khó khăn cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang thấy rằng còn có vướng mắc đối với việc áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm,
như nhiều trường hợp bị can phạm tội ít nghiêm trọng có khung hình phạt
dưới 2 năm, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng
do vô ý thì không được áp dụng biện pháp ngăn chặn nêu trên. Hạn chế có
trường hợp trên nếu bị can bỏ trốn hoặc không chấp hành giấy triệu tập của
Cơ quan Điều tra thì không thể tiến hành điều tra để làm rõ sự thật khách
quan của vụ án được và cũng không thể chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát đề nghị truy tố vì không tống đạt Bản kết luận điều tra. Như vậy, chúng
3



ta phải sử dụng biện pháp gì cho phù hợp để khắc phục những khó khăn
trên? Cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn đề cần phải khắc phục
đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên các biện pháp ngăn
chặn mà đề tài nghiên cứu trước còn tương đối rộng lớn, đa dạng và phức
tạp. Vì lẽ đó, học viên chọn ba trên sáu biện pháp ngăn chặn, gồm có: "Các
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam" làm đề tài
Luận văn Thạc sĩ luật học góp phần giải quyết các yêu cầu đang đặt ra trong
thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, quy định về các biện pháp ngăn chặn có nhiều nội dung
phong phú và việc áp dụng chúng là vấn đề nhạy cảm. Bởi lẽ, chính các biện
pháp này là phương tiện ngăn chặn tội phạm có hiệu quả nhất và bảo đảm cho
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố
tụng hình sự quy định nhưng hay bị lạm dụng quá mức cần thiết và không
"tiết kiệm”. Đi đôi với việc áp dụng các biện pháp đó, thì một số tự do và
quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 là đi vào cuộc
sống, bảo đảm tính thượng tôn của Hiến pháp, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
cải cách tư pháp, một nhiệm vụ lớn và trọng tâm lúc này là căn chỉnh, hoàn
thiện hệ thống pháp luật về tư pháp cho phù hợp với tinh thần và nội dung của
Hiến pháp mới và các định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020. Bởi vậy, chúng trở thành trọng tâm nghiên cứu của nhiều nhà lý luận,
cán bộ làm công tác thực tiễn trong các ngành bảo vệ pháp luật.
Cho đến nay đã có nhiều công trình chuyên khảo nghiên cứu các biện
pháp ngăn chặn đáng chú ý của các tác giả mà ở các mức độ nhất định đã
phân tích và xây dựng khái niệm biện pháp ngăn chặn theo một số nội dung,
như: Đối tượng bị áp dụng, căn cứ chủ thể và mục đích áp dụng các biện pháp
4



ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, đồng thời phân
tích, đánh giá thực tiễn áp dụng chúng, đưa ra mô hình lý luận về các quy
phạm pháp luật, cụ thể là:
3) Nguyễn Thị Nhung "Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Đắk
Lắk)", Luận văn Thạc sĩ Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội 2013;
4) Lê Hữu Soái "Các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là
người chưa thành niên phạm tội trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên
cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Đắk Lắk)", Luận văn Thạc sĩ Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội 2013.
5) Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), “Bảo
vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” Đề tài khoa học cấp Đại học
Quốc gia Hà Nội 2004.
Qua các công trình nghiên cứu trên, cho thấy: Về hình thức đều lấy
những quy phạm các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng 2003 làm đối
tượng nghiên cứu, nhưng tuyệt nhiên chưa đề cập đến các quy phạm về bắt tạm
giữ để dẫn độ được đề cập trong các HĐTTTP&PL mà Việt Nam đã ký kết với
nước ngoài, cũng như, bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho
người bị oan do người có thẩm quyền tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
gây ra tại Nghị quyết 388 và thực tiễn áp dụng, về nội dung, các tác giả đã đề
cập đến khái niệm biện pháp ngăn chặn với các nội dung riêng lẻ, như: căn cứ,
người có thẩm quyền, mục đích áp dụng, đối tượng bị áp dụng và đưa ra nhiều
quan niệm khác nhau; đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện các biện pháp
ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Các nghiên cứu đó với
những mục tiêu, quan điểm, định hướng của Đảng ta được khẳng định tại Nghị
quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ

5



thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020" (gọi tắt là Nghị quyết 48 và Nghị quyết 49).
(Nêu rõ sao cho logic).................. Nội dung các bài viết đã phân tích
các biện pháp ngăn chặn cụ thể, thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
điều kiện để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực trạng áp dụng các biện
pháp ngăn chặn và đề xuất khắc phục những hạn chế trong việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn.
Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của chế định các
biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự. Do sự hạn chế của số trang
dành cho luận văn thạc sĩ, hơn nữa tác giả còn có sự hạn chế về nhận thức
khoa học hình sự, tố tụng hình sự vì tác giả hiện đang công tác và làm việc
trong Cơ quan Thi hành án dân sự nên trong phạm vi luận văn của mình tác
giả chỉ đề cấp đến ba biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Hơn nữa, tỉnh Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía bắc có địa hình phức tạp,
điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội còn nhiều khó khăn về tình hình tội phạm
vẫn diễn ra rất phức tạp, càng đòi hỏi phải nâng cao chất lượng việc áp dụng
pháp luật về các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong
việc áp dụng theo quy định, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp tại "Kết
luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020" [2].
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận-thực tiễn và những biện
pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở các số

6



liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2010 đến năm 2014, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả về ba biện pháp
ngăn chặn: 1) Cấm đi khỏi nơi cư trú, 2) Bảo lĩnh, 3) Đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong việc giải
quyết các vụ án hình sự của Cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang, góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, tính mạng, danh dư,
nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ
sau đây:
3.2.1. Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật
tố tụng hình sự Việt Nam.
3.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trên cơ
sở các số liệu của địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 – 2014.
3.2.3. Nguyên nhân và những hạn chế về áp dụng các biện pháp ngăn
chặn (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm) của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở tỉnh Tuyên Quang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó: “Các biện
pháp ngăn chặn - Cấm đi khỏi nơi cư trú - Bảo lĩnh - Đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu
các vấn đề cụ thể của chế định ba biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng


7


về bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, đối tượng
bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng để đưa ra khái niệm khoa học về
biện pháp ngăn chặn nói chung. Phân loại ba biện pháp ngăn chặn nêu trên
với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác theo nhiều tiêu chí và căn
cứ; nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng, sửa đổi, bổ sung chúng nói riêng
trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tỉnh Tuyên
Quang từ giai đoạn năm 2010 đến năm 2014.
4.2.2. Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt
động áp dụng pháp luật về ba biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố
tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ở giai đoạn
thực hiện, áp dụng theo quy định.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các
Chỉ thị, Nghị quyết, đường lối chính sách, quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Đó là cơ sở phương pháp luận để giải quyết nội dung cần nghiên
cứu của luận văn. Ngoài ra, luận văn còn dựa vào những thành tựu đã đạt
được từ các chuyên ngành khoa học pháp lý, như: Triết học, lịch sử nhà nước
và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết
trong các tạp chí của nhiều nhà khoa học luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan


8


điểm phát triển, toàn diện và lịch sử cụ thể. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu
Luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp khảo sát thu
thập thông tin số liệu; phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp;
phương pháp phỏng vấn trực tiếp các Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm
phán có nhiều năm công tác trong ngành có năng lực trình độ, có bản lĩnh
nghề nghiệp để thu thập và đúc rút thành kinh nghiệm phục vụ cho việc hoàn
thành Luận văn.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tương đối và có hệ
thống ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ về ba biện pháp ngăn chặn, gồm có: 1)
Cấm đi khỏi nơi cư trú, 2) Bảo lĩnh, 3) Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang, với những điểm mới sau:
Một là, phân loại ba biện pháp ngăn chặn theo những căn cứ cần thiết
và đưa ra ý nghĩa của chúng để làm sâu sắc hơn về khái niệm trên, đồng thời,
sử dụng việc phân loại có căn cứ làm cơ sở nghiên cứu pháp luật thực định và
thực tiễn áp dụng, sửa đổi, bổ sung chúng ở chương 2.
Hai là, phân tích những ưu điểm và hạn chế của các khái niệm khoa
học về ba biện pháp ngăn chặn để phù hợp với các tiêu chí: Bản chất pháp lý,
căn cứ áp dụng, người có quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, mục đích và
phạm vi điều chỉnh bảo đảm tính logic, chính xác, đầy đủ.
Ba là, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, bổ sung hay hủy
bỏ một trong ba biện pháp ngăn chặn theo thời gian từ năm 2010 đến 2014,
đồng thời, phân tích, đánh giá thực tiễn. Qua đó xác định những tồn tại và
nguyên nhân của chúng.
Bốn là, luận văn chỉ ra sự cần thiết, quan điểm và những định hướng

hoàn thiện về các chế định trong ba biện pháp ngăn chặn, từ đó đề ra phương

9


hướng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả phục vụ công cuộc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý và quyền con người.
7. Ý nghĩa lý luận và thực hiện của luận văn
Có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra viên, Kiểm sát
viên và Thẩm phán các cấp nói chung, đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán hai cấp ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng, để nghiên cứu, áp dụng
trong hoạt động thực tiễn đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật trên cơ
sở giải quyết và áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang nhằm nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được sử dụng
để xây dựng các kỹ năng nghề nghiệp, các thao tác nghiệp vụ trong quan
hệ phối hợp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các
biện pháp ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm) và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai
đoạn 2010 – 2014.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng về các biện pháp
ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm).

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Phạm Ngọc Ánh (2010), “Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng
biện pháp ngăn chặn - Đặt tiền hoặc tài sản có giá để đảm bảo”, Tạp
chí Tòa án Nhân dân, (4), tr. 29-31.

2.

Ban chấp hành Trung ương (2014),"Kết luận số 92-KL/TW ngày
12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số
49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020", Hà Nội.

3.

Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2004), Tài liệu tập huấn về Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003, Hà Nội.

4.

Ban soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự (2009), Một số định hướng
nghiên cứu bước đầu về việc xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi,
Hà Nội.


5.

Trần Duy Bình (2012), “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định
của Bộ Luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, Tạp chí
Toà án nhân dân, 18(9), tr. 30-34.

6.

Bộ Chính trị (2000), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

7.

Bộ Chính trị (2006), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến
lược cải cách hệ thống tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

8.

Bộ Nội Vụ (1982), Giáo trình nghiệp vụ tố tụng hình sự, chương trình
đào tạo Đại học Công an, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

9.

Bộ Tư pháp (Viện Khoa học pháp lý) (2006), Từ điển Luật học, Nxb
Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà Nội.

11



10. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài Chính, Viện Kiểm
sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao (2013), Thông tư liên
tịch số 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VSKNDTC-TANDTC
ngày 14/11/2013 Hướng dẫn về việc đặt tiền để đảm bảo theo quy định
tại Điều 93 của Bộ luật tố tụng hình sự.
11. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Chính phủ (2002), Nghị định của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của quy chế tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số
89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ, Hà Nội.
13. Lê Cảm (2010), “Những vấn đề cơ bản về tổ chức – Thực hiện quyền
tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”,
Tạp chí Tòa án Nhân dân, (5), tr. 02-8.
14. Lê Cảm (2011), “Toà án là trung tâm – Xét xử là trọng tâm trong tố
tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án Nhân
dân, (5), tr. 1-7.
15. Lê Cảm (2011),“Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm
sát, (6), tr. 28-32, 37-38.
16. Lê Cảm (2014), “Mô hình lập pháp về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam vì con người”, Tạp chí khoa học Kiểm sát, (01), tr. 16-26.
17. Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì) (2004),
Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố
tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đề tài
khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội.
18. Lê Tấn Cường (2010), “Trao đổi vấn đề liên quan giữa thời hạn điều
tra và thời hạn tạm giam để điều tra trong Bộ Luật tố tụng hình sự”,
Tạp chí Tòa án Nhân dân, (11), tr. 32-35.

12



19. Nguyễn Đức Dũng (2010), “Thực hiện quy định tại Điều 93 Bộ Luật
tố tụng hình sự như thế nào cho chính xác”, Tạp chí Tòa án Nhân dân,
(7), tr. 24-26.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết sổ 48-NQ/TW, Bộ Chính
trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW, Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Nguyễn Văn Điệp (1996), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự Việt Nam, Trường Đại học Luật, Hà Nội.
26. Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
27. Trần Văn Độ (2012), “Hoàn thiện các quy định của bộ Luật tố tụng
hình sự về biện pháp tạm giam”, Tạp chí Kiểm sát, 21(11), tr. 37-45.
28. Nguyễn Sơn Hà (2014), “Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền của bị can, bị cáo đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, 20(10), tr. 47-50.
29. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02
ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình
sự, Hà Nội.


13


30. Nguyễn Ngọc Khánh (2011), “Thẩm quyền của Viện Kiểm sát trong
việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp
cưỡng chế tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách
tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, 01(01), tr. 44-54.
31. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng
hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
32. Phan Hữu Kỳ, Phạm Quang Mỹ (1982), Một số điều cần biết về bắt,
giam giữ; khám xét, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
33. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các biện pháp ngăn chặn và những vấn
về nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
34. Bình Nguyên (1995), “Từ thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong
TTHS Việt Nam”, Kỷ yếu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
của TTHS Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
35. Nguyễn Trọng Phúc (2005), “Một số vấn đề về thời điểm kết thúc của
thời hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự”, Nhà nước và
pháp luật.
36. Dương Văn Phùng (2012), “Tăng cường trách nhiệm thực hành quyền
công tố trong việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn”, Tạp
chí Kiểm sát, 16(8), tr. 29-34.
37. Đỗ Ngọc Quang (2003), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam (Dùng
cho hệ đào tạo sau đại học), Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
38. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
39. Quốc hội (1985), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
40. Quốc hội (1988), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
41. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
42. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
43. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.


14


44. Quốc hội (2001), Luật tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
45. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
46. Quốc hội (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, Hà Nội.
47. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
48. Quốc hội (2006), Các văn bản hướng dẫn Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. Quốc hội (2009), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hà Nội.
50. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.
51. Quốc hội (2014), Luật cư trú, Hà Nội.
52. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng Hình sự (sửa đổi năm 2015), Hà Nội.
53. Hoàng Thị Minh Sơn (2006), Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, Trong sách: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Tư pháp, Hà Nội.
54. Hoàng Đình Thanh (2012), “Một số điểm bất cập về tạm giữ và thủ tục
bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong Bộ Luật tố tụng hình sự
năm 2003”, Tạp chí Toà án Nhân dân, 23(12), tr. 05-06.
55. Trịnh Văn Thanh (2001), Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của lực
lượng vũ trang nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
56. Trịnh Văn Thanh (2001), Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tổ tụng
hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của lực
lượng cảnh sát nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
57. Nguyễn Duy Thuân (1999), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn, NxbCông an nhân dân,
Hà Nội.


15


58. Trần Quang Tiệp (2005), Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố
tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2010), Báo cáo tổng kết công tác
ngành Tòa án nhân dân Tuyên Quang, Tuyên Quang.
60. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2011), Báo cáo tổng kết công tác
ngành Tòa án nhân dân Tuyên Quang, Tuyên Quang.
61. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2012), Báo cáo tổng kết công tác
ngành Tòa án nhân dân Tuyên Quang, Tuyên Quang.
62. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2013), Báo cáo tổng kết công tác
ngành Tòa án nhân dân Tuyên Quang, Tuyên Quang.
63. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2014), Báo cáo tổng kết công tác
ngành Tòa án nhân dân Tuyên Quang, Tuyên Quang.
64. Trung tâm Đào tạo từ xa - Đại học Huế (2006), Giáo trình Luật tố
tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
65. Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ Hà Nội (1992), Từ điển tiếng Việt, Nxb
Hà Nội.
66. Trường Đại học Cảnh sát (1999), Giáo trình luật TTHS, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
67. Trường Đại học Luật Hà Nội (1998), Giáo trình Luật TTHS, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
68. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Lý luận nhà nước và
pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
69. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội
70. Trần Ngọc Tú (2010), “Một số ý kiến về việc người đang bị tạm giữ,
tạm giam, người đang chấp hành phạt tù xin kết hôn”, Tạp chí Tòa án

Nhân dân, 13(7), tr. 37.

16


71. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2010), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
72. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2011), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
73. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2012), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
74. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2013), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
75. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2014), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
76. Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), Tội phạm học, luật
hình sự và Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Võ Khánh Vinh (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
78. Võ Khánh Vinh (2007), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
79. Trương Vĩnh Xuân và Phùng Thị Thanh Liêm (2014), “Cụ thể hoá các
quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 vào Bộ Luất
tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, 23(12), tr. 21-24.
80. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn
hóa I Thông tin, Hà Nội.

17




×