Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học tân sơn số 1 huyện lục ngạn tỉnh bắc giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HỨA THỊ THU VÂN

“KHÓ KHĂN TÂM LÍ CỦA GIÁO VIÊN KHI CHUYỂN CÁCH
ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ SANG
ĐÁNH GIÁ BẰNG NHẬN XÉT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN
SƠN SỐ 1 HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HỨA THỊ THU VÂN

“KHÓ KHĂN TÂM LÍ CỦA GIÁO VIÊN KHI CHUYỂN CÁCH
ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ SANG
ĐÁNH GIÁ BẰNG NHẬN XÉT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN
SƠN SỐ 1 HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Tâm lí học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Lê Thị Thu Hà

SƠN LA, NĂM 2016



LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Lê Thị
Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa
luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học - Mầm non những
người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong thời
gian học tập tại trường, xin cảm ơn các thầy, cô giáo và các em học sinh Trường
Tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong quá trình tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển
cách đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét.
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K53 C Đại học giáo dục Tiểu học, cũng
như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và nhiệt tình giúp
đỡ em để hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện

Hứa Thị Thu Vân


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt
GV

Giáo viên


HS

Học sinh

KKTL

Khó khăn tâm lí

TB

Thứ bậc

SL

Số lượng

ĐGHSTH

Đánh giá học sinh tiểu học


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 7
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................. 1
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 3
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
6. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4

8. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ
CỦA GIÁO VIÊN KHI CHUYỂN CÁCH ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU
HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ SANG ĐÁNH GIÁ BẰNG NHẬN XÉT................... 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề......................................................................... 7
1.1.1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý ....................................................... 7
1.1.2. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ................ 9
1.2. Một số khái niệm công cụ ............................................................................ 10
1.2.1. Khó khăn ................................................................................................... 10
1.2.2. Khó khăn tâm lí ......................................................................................... 11
1.2.3. Đánh giá .................................................................................................... 11
1.2.4. Đánh giá học sinh tiểu học ........................................................................ 12
1.2.5. Đánh giá bằng điểm số .............................................................................. 13
1.2.6. Đánh giá bằng nhận xét ............................................................................. 13
1.2.7. Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh học sinh tiểu học
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ......................................................... 14
1.2.7.1. Khái niệm ............................................................................................... 14
1.2.7.2. Biểu hiện khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học
sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ................................... 15


1.3. Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh
giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét....................... 17
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét .............. 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO VIÊN
KHI CHUYỂN CÁCH ĐÁNH GIÁ BẰNGCHO ĐIỂM SANG ĐÁNH GIÁ
BẰNG NHẬN XÉT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN SƠN SỐ 1 HUYỆN
LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG ................................................................... 22

2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu ................................................ 22
2.2. Thực trạng khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học
sinh tiểu học bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân
Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ......................................................... 23
2.2.1. Khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển cách đánh giá bằng cho điểm
sang đánh giá bằng nhận xét ............................................................................... 23
2.2.1.1. Thực trạng khó khăn tâm lí của GV qua các biểu hiện về nhận thức .... 23
2.2.1.2. Thực trạng khó khăn tâm lí của GV qua các biểu hiện về thái độ ......... 25
2.2.1.3. Thực trạng khó khăn tâm lí của GV qua các biểu hiện về hành vi ....... 27
2.2.3. Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh
giá học sinh bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét .................................... 29
2.2.3.1. Nguyên nhân chủ quan ........................................................................... 29
2.2.3.2. Nguyên nhân khách quan ....................................................................... 32
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng cho điểm sang đánh giá nhận xét ở trường tiểu
học Tân Sơn số 1, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang .......................................... 36
2.3.1. Giới tính và khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh
tiểu học bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét............................................... 36
2.3.2. Số năm công tác và khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh
giá học sinh tiểu học bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét. ................... 39
2.3.3. Trình độ chuyên môn và khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét .............. 42


2.4. Một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét ở trường
tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang .................................... 45
2.4.1. Nâng cao nhận thức của GV về tầm quan trọng của đánh giá bằng nhận
xét ........................................................................................................................ 45
2.4.2. Tích cực tham gia các buổi tập huấn, trao đổi chuyên môn với đồng

nghiệp về đánh giá bằng nhận xét ....................................................................... 46
2.4.3. Động viên khích lệ GV, giúp họ thích ứng với quá trình đánh giá HS bằng
nhận xét ............................................................................................................... 47
2.4.4. Vận dụng một cách linh hoạt các hình thức đánh giá bằng nhận xét đối với
học sinh................................................................................................................ 48
2.4.5. Dành nhiều thời gian hơn cho việc đánh giá bằng nhận xét ..................... 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 51
1. Kết luận ......................................................................................................... 51
2. Kiến nghị ....................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 54
PHỤ LỤC ...............................................................................................................


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Vài nét về khách thể nghiên cứu............................................................ 23
Bảng 2: Biểu hiện khó khăn tâm lí về mặt nhận thức của giáo viên khi chuyển
cách đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét................................ 24
Bảng 3: Biểu hiện khó khăn tâm lí về mặt thái độ của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét ........................................ 25
Bảng 4: Biểu hiện khó khăn tâm lí về mặt hành vi của giáo viên khi chuyển
cách đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét................................ 27
Bảng 5: Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến khó khăn tâm lí của giáo viên
khi chuyển cách đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét ............. 30
Bảng 6: Những nguyên nhân khách quan dẫn đến khó khăn tâm lí của giáo viên
khi chuyển cách đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét ............. 32
Bảng 7: Bảng so sánh mức độ ảnh hưởng của yếu tố khách quan và chủ quan tới
khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học bằng
điểm số sang ........................................................................................................ 35
Bảng 8: Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu
học bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét xét theo giới tính ................... 37

Bảng 9: Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá bằng cho điểm
sang đánh giá bằng nhận xét theo số năm công tác ............................................ 39
Bảng 10: Khó khăn tâm lí của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu học
khi chuyển cách đánh giá bằng cho điểm sang đánh giá bằng nhận xét theo trình
độ chuyên môn .................................................................................................... 42


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục – đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đào tạo,
bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.Tiểu học là bậc học nền
tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục
học ở bậc học cao hơn. Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục tiểu
học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho việc phát triển
đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học lên bậc trung học cơ sở”.
Đối với học sinh, học tập là một trong những hình thức hoạt động không
thể thiếu nhằm lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử của xã hội loài người
đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đánh giá là hoạt động mà thông qua đó người
giáo viên nắm được mức độ hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực thông
qua các môn học và các hoạt động giáo dục khác nhau. Từ đó, giúp giáo viên điều
chỉnh việc dạy học và giáo dục sao cho phù hợp.
Theo thông tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên đánh giá kết quả
học tập một số môn của học sinh tiểu học bằng điểm số. Tuy nhiên việc đánh giá
học sinh đã có sự thay đổi khi Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thông tư
30/2014/TT - BGDĐT. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/10/2014 và thay thế
Thông tư 32. Thông tư 30 có những điểm mới so với Thông tư 32 đó chính là
không đánh giá bằng điểm số thường xuyên với các môn học mà đánh giá bằng
nhận xét, không đánh giá trên hai tiêu chí học lực và hạnh kiểm. Chỉ cho điểm
cuối kì và cuối năm học. Nội dung đánh giá dựa trên ba nội dung: hoạt động học

tập, năng lực, phẩm chất. Sau một thời gian thực hiện, việc đánh giá học sinh
bằng nhận xét trong từng đơn vị bài học, từng tuần, từng tháng, từng kì mang lại
những hiệu quả thiết thực nhưng người tham gia đánh giá gặp không ít khó khăn
tâm lí.Vì vậy, việc phát hiện khó khăn tâm lý của giáo viên trong việc đánh giá
học sinh tiểu học bằng nhận xét trong hoạt động đánh giá của giáo viên là việc
cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học.

1


Đối với trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang một
trường nằm cách xa trung tâm huyện 30km, giáo viên phần lớn không phải
người địa phương nên việc giao tiếp với học sinh, phụ huynh dân tộc còn nhiều
khó khăn; học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số nhận thức của các em còn
chậm nên giáo viên mất nhiều thời gian để giúp các em tiếp thu kiến thức, phát
triển năng lực, phẩm chất. Vì vậy việc đánh giá học sinh thường xuyên bằng
nhận xét của giáo viên gặp nhiều khó khăn tâm lý, đặc biệt các bậc phụ huynh
học sinh chưa quan tâm tới việc học của con em mình, trình độ dân trí còn thấp
và còn nhiều bậc phụ huynh không biết chữ.
Trong thời gian qua, các nhà tâm lý học thường tập trung nhiều vào các
nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập, những trở ngại tâm lý trong
giao tiếp của sinh viên…. Vấn đề khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển
cách đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét được
các nhà tâm lý, các cấp, các ngành và xã hội cũng đã được quan tâm. Nhưng
việc nghiên cứu khó khăn tâm lí của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu
học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ở
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang thì chưa có ai đi sâu tìm hiểu.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khó khăn tâm lí
của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang
đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn - tỉnh

Bắc Giang”.
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khó khăn tâm lí của giáo viên
trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số
sang đánh giá bằng nhận xét.
2.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là giáo viên tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu

2


Từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài phát hiện những khó khăn
tâm lí của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh
giá bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1
và một số nguyên nhân dẫn tới những khó khăn đó. Trên cơ sở kết quả nghiên
cứu, đề xuất một số biện pháp tháo gỡ khó khăn tâm lí cho giáo viên trong việc
đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang đánh giá
bằng nhận xét.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến khó khăn tâm lí của giáo viên
trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số
sang đánh giá bằng nhận xét.
- Tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lý, nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí
của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất một số biện pháp để tháo gỡ khó khăn tâm lí cho giáo viên trong
việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang

đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Do điều kiện thời gian và khuôn khổ đề tài có hạn mà vấn đề khó khăn tâm
lí là một vấn đề lớn. Nên xét về điều kiện của bản thân tôi chỉ tập trung nghiên
cứu: khó khăn tâm lý của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi
chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét.
- Nghiên cứu trên khách thể là 34 giáo viên trường tiểu học Tân Sơn số 1,
trong đó: Nhà quản lí giáo dục: 3; giáo viên chủ nhiệm: 24; giáo viên dạy các
môn đặc thù: 7.
6. Giả thuyết khoa học
Nhìn chung, giáo viên tiểu học còn gặp nhiều khó khăn tâm lí trong việc
đánh giá học sinh khi chuyển cách đánh giá thường xuyên bằng điểm số sang đánh
3


giá bằng nhận xét. Mức độ khó khăn tâm lí không đồng đều nhau theo giới tính, độ
tuổi và trình độ chuyên môn. Nếu tìm ra biện pháp khắc phục phù hợp thì sẽ tháo
gỡ được khó khăn.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Sưu tầm, phân tích các tài liệu liên quan đến khó khăn tâm lý của giáo viên
trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang
đánh giá bằng nhận xét ( như sách, báo, tạp chí, khóa luận, luận án) nhằm nắm bắt
được nội dung cơ bản về mặt lí luận của vấn đề nghiên cứu làm cơ sở cho việc
nghiên cứu thực trạng.
7.2. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm thu thập những biểu
hiện về khó khăn tâm lí của GV khi chuyển cách đánh giá thường xuyên bằng cho
điểm sang đánh giá thường xuyên bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1,

huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Cách tiến hành: Dự một số giờ học, quan sát việc GV nhận xét HS bằng
“lời” hoặc “viết” với từng nhiệm vụ bài học, với mức độ hoàn thành mục tiêu bài
học của HS để thấy GV gặp các khó khăn tâm lí nào khi chuyển cách đánh giá
thường xuyên bằng cho điểm sang đánh giá thường xuyên bằng nhận xét.
7.3. Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thêm về khó khăn tâm
lí của giáo viên trong việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét.
Phiếu điều tra được xây dựng theo quy trình hai bước:
- Bước 1: Xây dựng phiếu khảo sát sơ bộ: chúng tôi tiến hành khảo sát 34
giáo viên trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bằng
phiếu khảo sát có nội dung gồm các câu hỏi:
+ Theo thầy cô, việc đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét có gặp khó khăn tâm lí không? Đó là
những khó khăn nào?
4


+ Nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn đó?
+ Làm thế nào để khắc phục khó khăn tâm lí ?
- Bước 2: Thiết kế phiếu điều tra chính thức:
Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi xây dựng phiếu điều tra chính thức.
Nội dung phiếu điều tra gồm 7 vấn đề:
+ Quá trình đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng
điểm số sang đánh giá bằng nhận xét có khó khăn không?
+ Đó là những khó khăn nào?
+ Biểu hiện của khó khăn đó
+ Yếu tố chủ quan gây nên khó khăn
+ Yếu tố khách quan gây nên khó khăn

+ Ảnh hưởng của khó khăn
+ Biện pháp khắc phục khó khăn
Sau đó chúng tôi cho điểm mỗi câu theo quy định chuẩn sau:
+ Câu trả lời a được 3 điểm: Có khó khăn tương ứng
+ Câu trả lời b được 2 điểm: Có khó khăn tương ứng nhưng không
thường xuyên
+ Câu trả lời c được 1 điểm: Không có khó khăn tương ứng
7.4. Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Nhằm tìm hiểu những biểu hiện và nguyên nhân của những
khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học bằng
điểm số sang đánh giá bằng nhận xét.
- Cách tiến hành: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng giáo viên trong một
phòng học chỉ gồm người phỏng vấn và người được phỏng vấn nhằm nâng cao
tính khách quan cho kết quả điều tra.
7.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức toán học như trung bình cộng, số phần trăm, hệ số tương
quan… để xử lí kết quả nghiên cứu thu được nhằm rút ra các nhận xét khoa học
của đề tài nghiên cứu.

5


8. Đóng góp của khóa luận
- Phát hiện khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh
tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số
1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Bước đầu tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn tâm lí của giáo viên trong việc
đánh giá học sinh tiểu học khi chuyển cách đánh giá bằng điểm số sang đánh giá
bằng nhận xét, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học.


6


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ
CỦA GIÁO VIÊN KHI CHUYỂN CÁCH ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU
HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ SANG ĐÁNH GIÁ BẰNG NHẬN XÉT
1.1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề
Cho đến nay, vấn đề KKTL ( khó khăn tâm lí) đã được các nhà nghiên cứu
xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau. Do
phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có điều kiện đề cập một cách hệ
thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về KKTL. Chúng tôi chỉ trình bày một
cách tổng quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài.
1.1.1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý
- Trong công trình nghiên cứu của G.M.Anctrecva, tác giả đã đề cập đến
những khó khăn tâm lí trong quá trình giao tiếp. Theo tác giả, trong quá trình
giao tiếp, con người bắt gặp một số rào cản tâm lí. Những trở ngại tâm lí đó có
thể nảy sinh do sự bất đồng ngôn ngữ, do sự khác biệt về xã hội, chính trị tôn
giáo nghề nghiệp, do những đặc điểm tâm lí cá nhân của những người tham gia
giao tiếp.
Công trình nghiên cứu này của G.M.Anctrecva chủ yếu đi vào lí luận về
khó khăn tâm lí trong lĩnh vực giao tiếp trên khách thể nghiên cứu là người lớn.
Các nghiên cứu khó khăn tâm lí của sinh viên
- Tác giả V.A.Cancalic trong khi nghiên cứu giao tiếp sư phạm của GV
(giáo viên) cũng đã nêu ra một số trở ngại trong giao tiếp của sinh viên sư phạm
– những người thầy giáo tương lai đó là:
+ Không biết cách dàn xếp, tổ chức một cuộc tiếp xúc
+ Không hiểu lập trường của đối tượng giao tiếp
+ Thụ động trong giao tiếp
+ Có tâm trạng sợ hãi, lo lắng
+ Lúng túng khi điều khiển trạng thái tâm lí của bản thân trong giao tiếp

+ Không biết cách xây dựng mối quan hệ qua lại và đổi mới quan hệ đó
tùy theo nhiệm vụ sư phạm
7


+ Bắt chước máy móc cách ứng xử của giáo viên khác
- Trong khi nghiên cứu về một số trở ngại tâm lí trong giao tiếp của sinh
viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đưa
ra kết luận: trở ngại tâm lí trong giao tiếp là những đặc điểm tâm lí và kiểu hành
vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. Những
trở ngại tâm lí trong giao tiếp được biểu hiện ở 3 mặt: nhận thức, xúc cảm – tình
cảm và hành vi của chủ thể giao tiếp. Bản chất của các trở ngại tâm lí này là sự
không phù hợp giữa những đặc điểm tâm lí cá nhân và kiểu hành vi ứng xử với
nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. Ở đây, tác giả còn nêu lên những
nguyên nhân chủ quan và khách quan gây nên những trở ngại tâm lí và đề xuất
một số biện pháp để giải quyết trở ngại này [2].
Tác giả Lê Thị Thủy trong đề tài luận văn Thạc sĩ “Một số khó khăn tâm lí
trong hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường Đại học Sư
phạm” cũng đã nghiên cứu và đưa ra khái niện về KKTL “là những yếu tố tâm
lý gây nên cản trở hoạt động của con người làm giảm hiệu quả hoạt động” và
phân loại KKTL.
Các nghiên cứu khó khăn tâm lí của học sinh
- Trong bài viết “Những khó khăn tâm lí trong quá trình giải toán của học
sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Minh Hải, tác giả đã đề cập đến những
nguyên nhân khác nhau đã hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học
trong đó có những khó khăn về mặt tâm lí [6, tr.25].
- Tác giả Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” cũng đã nêu
lên những khó khăn tâm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Theo tác giả “giữa
phương thức học tập ở mẫu giáo và lớp 1 có một sự biến động đột ngột đối với
trẻ em, một bước ngoặt quan trọng đòi hỏi một sự thích nghi về nhiều mặt không

dễ gì vượt qua. Đúng là một cửa ải phân chia hai cuộc sống khác nhau [13,
tr.14].
Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề KKTL được rất nhiều
các tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên vấn đề KKTL của GV trong hoạt
động đánh giá HSTH còn ít được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, vấn đề KKTL
8


của GV trong hoạt động đánh giá HSTH đặc biệt là đánh giá thường xuyên bằng
nhận xét cần được quan tâm nghiên cứu.
1.1.2. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
Theo hướng này có các công trình tiêu biểu:
Trong bài viết “Một số khía cạnh về đánh giá bằng nhận xét học sinh tiểu
học dưới góc độ tâm lí học giao tiếp” của tác giả Nguyễn Thị Chính, tác giả đã
đưa ra kết luận: việc đánh giá bằng nhận xét có tác động mạnh mẽ đến các mặt
tâm lý của học sinh tiểu học. Nó có thể thúc đẩy sự hình thành và phát triển
nhân cách lành mạnh cho học sinh nhưng cũng có thể cản trở, gây khó khăn cho
quá trình này, nếu giáo viên không biết cách nhận xét [4].
Trong bài viết “Đánh giá học sinh tiểu học bằng nhận xét, tiếp cận từ phía
người học” của nhóm tác giả Trịnh Thị Hương, Nguyễn Ngọc Diệp và Nguyễn
Túy An. Theo các tác giả đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng nhận xét là
một hoạt động khá phức tạp, đòi hỏi những người đánh giá phải có cái nhìn sâu
sắc và cần có căn cứ cụ thể. Những phản hồi về kết quả học tập của học sinh
phải thật sự có ý nghĩa đối với bản thân mỗi học sinh vì có như vậy nó mới tác
động đến nhận thức và hành vi của học sinh. Trong hoạt động đánh giá này, học
sinh cũng cần được xem là nhân tố quan trọng khi đánh giá mình và đánh giá
bạn [9].
Trong bài viết “Suy nghĩ về hoạt động đánh giá và đổi mới đánh giá học
sinh tiểu học hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hường, tác giả đưa ra kết

luận: việc đánh giá học sinh tiểu học cần được chuyển biến từ nhận thức đúng về
bản chất của hoạt động đánh giá bằng lời thay cho đánh giá bằng điểm số, tìm
được sự đồng thuận trong quan điểm, nhất quán trong hành động của đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh cấp tiểu học để thực sự nâng cao
kiến thức, kĩ năng, rèn luyện phẩm chất, năng lực cho học sinh tiểu học. Chính
vì vậy, đội ngũ giáo viên càng phải được nâng cao chất lượng, phương pháp
giảng dạy, kĩ năng hướng dẫn học sinh học tập. Đồng nghĩa với việc chất lượng
học sinh được cải thiện, nâng lên [10].
9


Trong bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá bằng nhận xét của
giáo viên đối với học sinh tiểu học theo thông tư 30/2014/BGDĐT của Bộ Giáo
dục – Đào tạo” của tác giả Ngô Minh Anh, tác giả đưa ra kết luận: Thông tư
30/2014/BGDĐT của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã tạo nên một sự chuyển biến
trong kiểm tra, đánh giá ở bậc tiểu học. Thông tư thể hiện quan điểm giáo dục
toàn diện trong giáo dục tiểu học, tạo điều kiện để học sinh phát triển các năng
lực, phẩm chất và kĩ năng sống. Tuy nhiên, nhiều vấn đề nảy sinh trong quá
trình thực hiện đòi hỏi giáo viên, các cấp quản lý và cả xã hội cần có những giải
pháp để hoàn thiện nhằm thực hiện việc đánh giá học sinh bằng nhận xét đạt
được hiệu quả cao nhất [1].
Như vậy, trên bình diện về lí luận và thực tiễn, khó khăn tâm lí của giáo
viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá
bằng nhận xét đã được nghiên cứu và có nhiều tư liệu quý báu, có thể đặt cơ sở
lí luận cho việc nghiên cứu thực tiễn. Song nghiên cứu khó khăn tâm lí của giáo
viên tiểu học trên địa bàn một huyện miền núi Đông Bắc thì chưa có ai đi sâu
tìm hiểu. Chính vì thế, đề tài nghiên cứu của chúng tôi góp phần tìm hiểu những
khó khăn tâm lý của giáo viên khi chuyển đánh giá bằng điểm số sang đánh giá
bằng nhận xét ở trường tiểu học Tân Sơn số 1 huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
1.2. Một số khái niệm công cụ

1.2.1. Khó khăn
- Theo từ điển Tiếng Việt: Khó khăn nghĩa là có nhiều trở ngại hoặc thiếu
thốn.
- Theo từ điển Anh – Việt thì từ “Hardship” hoặc từ “Difficult” đều được
dùng để chỉ sự khó khăn khắc nghiệt.
- Theo từ điển Pháp – Việt thì từ “Difficile” chỉ sự khó khăn, sự việc gây
trở ngại.
Như vậy, qua các từ điển nói trên khi bàn về khó khăn cho phép chúng ta
hiểu: khó khăn là sự gay go, sự khắc nghiệt, sự thiếu thốn…gây ra những trở
ngại đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua.

10


1.2.2. Khó khăn tâm lí
Trong thực tiễn, khi tiến hành bất kì một hoạt động nào con người đều
gặp những khó khăn, làm cho hoạt động chệch hướng, làm giảm hiệu quả mà
con người mong muốn, thậm chí không đạt hiệu quả hoạt động. Những khó khăn
này được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người
được tạo nên bởi các yếu tố mang tính chất tiêu cực. Đó là những yếu tố khách
quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên trong).
Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi
trường…. Đây là những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hoạt động của
con người. Những yếu tố bên trong chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân
mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động đó, như nhận thức, thái độ tình cảm,
năng lực, vốn kinh nghiệm, thao tác kĩ năng tiến hành hoạt động. Xét theo
phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia làm hai loại:
yếu tố sinh học và yếu tố tâm lí. Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là
những khó khăn tâm lí. Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến
trình và kết quả hoạt động của con người.

Xuất phát từ quan điểm trên, khó khăn tâm lí trong đề tài này được hiểu
như sau: Khó khăn tâm lí là những nét tâm lí cá nhân, nảy sinh trong quá
trình hoạt động của chủ thể, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và
hiệu quả hoạt động của chủ thể.
1.2.3. Đánh giá
Đánh giá là khái niệm được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau:
- Theo quan điểm triết học:
+ Là thái độ đối với hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người.
+ Xác định các giá trị của chúng tương xứng với những nguyên tắc và
chuẩn mực đạo đức nhất định.
+ Đánh giá mang tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động.
- Theo góc độ giáo dục:
+ Là biểu thị thái độ, đòi hỏi sự phù hợp, theo một chuẩn nhất định.

11


+ Trên cơ sở đó, người đánh giá cho một thông tin tổng hợp, đôi khi là một
con số đối với người được đánh giá.
Đánh giá cũng có thể là thước đo kết quả bài làm của học sinh bằng điểm
số; khi đó, sự đánh giá biểu hiện dưới hình thức cho điểm. Hệ thống điểm số này
phản ánh trình độ học tập của học sinh.
Theo Vialletfet Maisomnerrvep – 1981 “Đánh giá là biểu thị một thái độ,
đòi hỏi một sự phù hợp, theo một chuẩn nhất định. Nhờ đó mà người đánh giá
cho một thông tin tổng hợp đôi khi là một con số đối với người được đánh giá”.
Đánh giá là một yếu tố vô cùng quan trọng của quá trình dạy học. Có thể
nói, đánh giá là động lực thúc đẩy việc đổi mới, là yếu tố quyết định chất lượng
giáo dục. Hay nói cách khác, đánh giá có tác dụng điều chỉnh quá trỉnh quá trình
dạy học và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Như vậy, đối với đề tài này tôi sử dụng khái niệm đánh giá là: Khẳng định

giá trị chân thực của đối tượng được đánh giá như nó vốn có theo những
chuẩn khách quan có ý nghĩa đối với con người và được xã hội thừa nhận.
1.2.4. Đánh giá học sinh tiểu học
Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh nhận ra
được mình đã đạt được các mục tiêu bài học, chuẩn kiến thức, kỹ năng nào.
Đánh giá không làm cho học sinh lo sợ, mất sự tự tin mà phải giúp các em nhận
thức được mình cần phải khắc phục những thiếu sót.
Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp các em liên tục
được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả giáo viên
và học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự phát
triển, phải nâng cao năng lực của người học
Theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐTvề đánh giá học sinh tiểu học có
ghi rõ: Đánh giá là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận
xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học
sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình
thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học.

12


1.2.5. Đánh giá bằng điểm số
Đánh giá bằng điểm số là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một
thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã thể hiện
được thông qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập.
Thang điểm là một tập hợp các mức điểm liền nhau theo trật tự số từ cao
đến thấp hay ngược lại. Trong thang điểm, đi kèm với mỗi mức điểm là phần
miêu tả những tiêu chí tương ứng cho từng mức điểm.
Điểm số được xem là kí hiệu phản ánh trình độ học lực của học sinh. Có
thể coi điểm số là một chứng cứ xác định trình độ học vấn của học sinh. Việc lí
giải những kiến thức hay năng lực của học sinh thể hiện qua điểm số có tác dụng

thúc đẩy học sinh học tốt hơn, ngày càng thành công hơn.
Như vậy, đánh giá bằng điểm số là loại đánh giá định lượng, được dùng
sau khi kết thúc một bài kiểm tra kết quả học tập của một bài học, môn học nào
đó.
1.2.6. Đánh giá bằng nhận xét
Từ góc độ tâm lý học thì việc đánh giá bằng nhận xét là một phần của
năng lực giao tiếp sư phạm. Người giáo viên phải nắm được các cơ sở tâm lý
của quá trình giao tiếp sư phạm mới có thể thực hiện được việc đánh giá bằng
nhận xét một cách hiệu quả và thuận lợi.
Đánh giá bằng nhận xét từ góc độ tâm lí học giao tiếp chính là quá trình
người GV sử dụng ngôn ngữ (nói và viết) của mình để phản hồi cho HS, phụ
huynh và nhà trường về mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập cũng như mức độ
hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực của HS.
Cách đánh giá bằng nhận xét ở tiểu học đang là xu thế của nhiều nước
trên thế giới và nó có các ưu điểm sau:
Một là, đánh giá bằng nhận xét sẽ giúp học sinh biết được một cách cụ thể
những ưu điểm và hạn chế trong kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, học
sinh biết một cách tường tận mình đã được khen ở chỗ nào và chỗ nào phải cố
gắng thêm, từ đó giúp các em phấn đấu để phát huy những mặt mạnh và khắc
phục những điểm cần cố gắng.
13


Hai là, do đánh giá bằng nhận xét cho biết những thông tin cụ thể về kết
quả học tập của học sinh từ đó không những giúp học sinh biết định hướng phấn
đấu mà cả giáo viên và cha mẹ học sinh có cách hướng dẫn và giáo dục phù hợp.
Nhất là đối với giáo viên để có thể đưa ra những nhận xét cụ thể về kết quả học
tập, rèn luyện cũng như sự hình thành và phát triển một số phẩm chất và năng
lực của học sinh giáo viên cần theo dõi, quan sát quá trình học tập và rèn luyện
của các em nên nhờ vậy mà giáo viên hiểu rõ trình độ, năng lực của từng em và

từ đó có thể đưa ra những cách tác động phù hợp với từng em để giúp các em
tiến bộ.
Ba là, nếu khi nhận xét giáo viên nhấn mạnh vào những điểm tốt, những
mặt đạt được của học sinh, thì những nhận xét đó sẽ có tác dụng động viên,
khích lệ các em từ đó sẽ giúp các em tự tin, tự giác và có hứng thú học tập hơn.
Như vậy, đánh giá bằng nhận xét là việc giáo viên đưa ra những nhận
định bằng lời nói hoặc chữ viết về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh. Việc
đánh giá bằng nhận xét hay còn gọi là đánh giá định tính đối lập với đánh giá
định lượng hay cho điểm. Để có thể đánh giá bằng nhận xét giáo viên cần theo
dõi quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, chứ không chỉ qua một lần kiểm
tra để có thể đưa ra những nhận định.
1.2.7. Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh học sinh tiểu học
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
1.2.7.1. Khái niệm
Do mới áp dụng việc đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30/2014/TTBGDĐT nên giáo viên tiểu học còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt nhất là khó
khăn khi chuyển từ đánh giá bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét. Giáo viên
lúng túng, trở ngại khi phải nghĩ nhiều câu từ để ghi lời nhận xét, nhiều lời nhận xét
còn trùng lặp, một số giáo viên viết chữ chưa đẹp nên còn ngại ghi lời nhận xét vào
vở học sinh…
Thời gian một tiết dạy có hạn nên việc nhận xét vào vở của học sinh còn
hạn chế. Giáo viên mất nhiều thời gian để tìm lời nhận xét cho phù hợp với từng
học sinh và ghi lời nhận xét vào vở học sinh.
14


Phần lớn giáo viên còn ảnh hưởng theo cách đánh giá cũ nên nhận xét còn
chung chung, chưa cụ thể, chưa có nhiều tác dụng hỗ trợ học sinh dẫn đến học
sinh chưa tích cực trong học tập, làm bài chậm hơn trước, nhiều học sinh không
biết được khả năng học tập của mình đạt được ở mức độ nào…
Việc xét khen thưởng từng học sinh có thành tích nổi bật ở các môn học,

khen thưởng theo từng môn học gặp nhiền khó khăn, quá nhiều giấy khen làm học
sinh dễ ỷ lại.
Nội dung khen để ghi vào giấy khen cuối năm cũng vất vả đối với giáo
viên. Mỗi học sinh là một lời khen, khen phải sát với năng lực, sự tiến bộ của
học sinh nên rất mất thời gian của giáo viên.
Thông tư 30 còn mới nên giáo viên thực hiện còn chậm, vừa thực hiện
vừa rút kinh nghiệm, có những nội dung đôi lúc cũng chưa thống nhất, vì chưa
có mẫu cụ thể để giáo viên xem đó là chuẩn.
Như vậy, khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển đánh giá bằng điểm số
sang đánh giá bằng nhận xét là những nét tâm lý của cá nhân nảy sinh trong
quá trình đánh giá học sinh do những yếu tố khách quan hay chủ quan tác động,
làm cản trở đến tiến trình và kết quả của hoạt động đánh giá.
1.2.7.2. Biểu hiện khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá
học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
Khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách đánh giá học sinh tiểu học
bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét biểu hiện ở ba mặt: nhận thức, hành
vi và thái độ.
Cụ thể:
Một là, biểu hiện về nhận thức:
GV chưa hiểu về tầm quan trọng của việc đánh giá bằng nhận xét. Vẫn
tư duy theo kiểu truyền thống dạy là phải chấm điểm, những con điểm có sức
nặng của nó khi dường như định lượng được kết quả học tập của học sinh, là
một tiêu chí của thầy cô định đoạt mức độ tiến bộ của HS. Học sinh là phải lấy
điểm những con điểm vừa giúp các em khẳng định sự nỗ lực của mình vừa là
một thành tích để báo cáo với cha mẹ, được cha mẹ khen.
15


Hai là, biểu hiện về thái độ:
Nhiều GV vẫn còn không ít những băn khoăn, lo lắng trong việc thực

hiện như thế nào để đánh giá chính xác, không gây áp lực, khuyến khích được
từng học sinh vươn lên trong học tập.
Nhiều GV tỏ ra căng thẳng, “áp lực” khi phải làm quá nhiều hồ sơ sổ
sách. Thậm chí GV có thái độ “chống đối” làm cho xong nhiệm vụ đánh giá
học sinh theo yêu cầu mới.
Ba là, biểu hiện về hành vi:
Trong quá trình đánh giá thường có những biểu hiện như: lúng túng, thiếu
tự tin, diễn đạt nội dung đánh giá thiếu chính xác, chưa có phương pháp đánh
giá phù hợp...Trong một tiết dạy, giáo viên không có nhiều thời gian để thực
hiện đánh giá hầu hết tất cả học sinh bằng lời và viết. Do vậy, số lượng học sinh
được học sinh kiểm tra bài làm trong vở, phiếu học tập,...là không nhiều.
Giáo viên không khỏi lúng túng khi phải chọn câu từ, lời lẽ để nhận xét
cho thật sâu sát, phù hợp với từng học sinh. Đồng thời, giáo viên phải điều
chỉnh phương pháp dạy học và hình thức tổ chức học tập để thấy được sự tiến
bộ của học sinh. Vì vậy giáo viên đã gặp không ít áp lực về thời gian. Hàng
ngày, hàng tháng phải nhận xét một lượng lớn sẽ dẫn đến tình trạng giáo viên
lặp lại những câu nhận xét, đánh giá chung chung.
Đối với học sinh lớp 1 đang học đánh vần, không đọc được nhận xét của
cô, trong khi không phải phụ huynh nào cũng quan tâm kiểm tra vở con hàng
ngày; còn nhận xét bằng lời thì không phải em nào cũng nhớ để về nói lại với
cha mẹ.
Đối với các khối lớp lớn hơn, giáo viên lại gặp khó khăn với câu từ nhận
xét, bởi yêu cầu nhận xét phải cụ thể, rõ ràng, chỉ cho học sinh biết mình làm
tốt phần nào, phần nào phải khắc phục. Đặc biệt với những em có học lực giảm
sút, nếu nhận xét không khéo sẽ làm cho học sinh mặc cảm, phụ huynh hoang
mang.
Giáo viên bộ môn gặp rất nhiều khó khăn trong việc đánh giá bằng
“viết” vào sổ Theo dõi chất lượng giáo dục. Vì những giáo viên phải dạy gần
16



như tất cả các lớp trong nhà trường nên các đối tượng học sinh cũng đa dạng.
Do vậy, không tránh khỏi sự trùng lặp, hoặc những lời nhận xét chung chung.
Giáo viên tổ chức cho học sinh tiểu học bình bầu lẫn nhau làm căn cứ để
tặng giấy khen, khen thưởng là thiếu thực tiễn và không phù hợp với tâm lý,
nhận thức của lứa tuổi học sinh tiểu học. Vì quá sức với lứa tuổi tuổi tiểu học,
nhất là các em lớp 1, lớp 2. Ở lứa tuổi này các em chưa phân biệt được bạn nào
có đầy đủ các yếu tố để được tặng giấy khen, khen thưởng. Vì vậy, các em
chưa nhận ra được những điểm tốt của từng bạn. Và kết quả bình bầu đó có
đảm bảo được sự công bằng bởi HSTH vẫn còn nhỏ nên việc lựa chọn, bình
bầu cũng chưa thật chính xác.
Tóm lại, KKTL trong quá trình đánh giá học sinh được biểu hiện thông
qua 3 mặt trên, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Thông thường, nhận
thức đúng dẫn đến thái độ đúng, dẫn đến hành vi đúng. Do vậy, trong quá
trình đánh giá học sinh tiểu học muốn tháo gỡ khó khăn tâm lý chủ thể cần chú
ý đến 3 mặt trên.
1.3. Nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí của giáo viên khi chuyển cách
đánh giá học sinh tiểu học bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
Thông tư 30 về đánh giá học sinh tiểu học thể hiện tinh thần đổi mới giáo
dục – đào tạo nhưng còn mới và khác với cách đánh giá bằng điểm số đã ăn sâu
vào tư duy và thói quen của giáo viên cũng như phụ huynh học sinh nên khó
được chấp nhận ngay. Những con điểm có sức nặng của nó khi định lượng được
kết quả học tập của học sinh và thầy cô định đoạt mức độ tiến bộ của học sinh.
Còn đối với học sinh, thì những điểm số giúp các em khẳng định được sự nỗ lực
của mình, là một thành tích để báo với cha mẹ, được cha mẹ khen thưởng…Với
phụ huynh, điểm số là một minh chứng thuyết phục về năng lực và sự tiến bộ
của con mình.
Việc tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn của các cấp quản lý giáo dục
chưa hiệu quả, chưa tường minh và có khi không đúng tinh thần của Thông tư đã
tạo ra nhiều áp lực cho giáo viên, học sinh.


17


×