Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (734.81 KB, 12 trang )

1

2

MỞ ĐẦU

bổ sung và số lượng lớn văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Bối cảnh và thực trạng nêu trên đã làm cho vấn đề tiếp tục hoàn thiện cơ
chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước trở nên vô cùng cần
thiết. Đó cũng là lý do mà nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài "Hoàn thiện
cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam" để làm Luận án tiến sĩ Luật học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn
nhằm chỉ ra những mặt tích cực, những vấn đề còn hạn chế, bất cập và
nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam,
từ đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án nhằm chỉ ra các vấn đề mà luận án có thể kế thừa, cần tiếp tục
triển khai trong các nội dung nghiên cứu.
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, như khái
niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố, tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; chỉ ra những mặt tích
cực, những vấn đề còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân.


- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là các vấn đề lý
luận và thực tiễn về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các

1. Tính cấp thiết
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với xây
dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, chủ động hội nhập quốc
tế là những quyết sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng
định trong nhiều văn kiện quan trọng. Tinh thần này tiếp tục được khẳng
định trong Hiến pháp năm 2013.
Những năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành
một số lượng rất lớn văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc
đổi mới đất nước. Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt, hệ thống
pháp luật của nước ta vẫn bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết.
Cùng với việc nâng cao chất lượng và kỹ thuật lập pháp, chúng ta
đã có nhiều nỗ lực và thực hiện nhiều hoạt động khác nhau nhằm loại trừ
tối đa những khiếm khuyết, bất cập của hệ thống pháp luật. Một trong
những hoạt động quan trọng đó chính là, kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật. Từ khi nhiệm vụ kiểm tra văn bản được chuyển giao cho
Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân các cấp (năm 2003), công tác này đã có những chuyển biến
nhất định. Mặc dù vậy, công tác này vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất
cập; thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra, xử lý văn bản chưa thực sự rõ
ràng, rành mạch và chưa theo một cơ chế ổn định.
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính chính nhà nước ở Việt Nam được hình thành, đi vào vận hành từ

năm 2003 và đạt được những kết quả quan trọng, song quá trình vận
hành cơ chế này trong thời gian qua cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất
cập, cần phải có giải pháp khắc phục. Hơn nữa, trong bối cảnh Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được Quốc hội khóa XII,
kỳ họp thứ 8 thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2016 và cùng với đó, một loạt đạo luật mới được ban hành hoặc sửa đổi,


3

4

cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng; kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về
cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2015.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiếp cận trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan
điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước
theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Về phương pháp cụ thể, luận án sử dụng
các phương pháp sau đây: (i) Phương pháp phân tích: được áp dụng để phân
tích các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp; (ii) Phương pháp chuyên gia: sử
dụng để thu thập thông tin và ý kiến của những chuyên gia, các nhà khoa học
Việt Nam; (iii) Phương pháp thống kê: thống kê số liệu, đánh giá thực trạng
cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Việt Nam; (iv) Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để tổng
hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu; (v) Phương
pháp luật học so sánh: sử dụng để nghiên cứu mô hình, kinh nghiệm của nước
ngoài, từ đó rút ra những giá trị tham khảo ở Việt Nam; (vi) Phương pháp
quy nạp và diễn dịch: Thực hiện để khái quát hóa hoặc cụ thể hóa đối
tượng, nội dung, vấn đề nghiên cứu, đảm bảo chính xác, khách quan.

5. Những điểm mới của luận án
- Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận án phân
tích và làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan, xây dựng khái niệm và chỉ
ra đặc điểm, vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; chỉ ra các yếu tố, mối quan hệ
giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra và tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Làm sâu sắc sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam,
trong đó, làm rõ về mặt lý luận cũng như nhu cầu thực tiễn của một số
vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện, như: quy định của pháp luật (thể chế
pháp luật) về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam; chủ thể (tổ chức, bộ máy, nhân sự) kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở
Việt Nam; các điều kiện bảo đảm của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Đưa ra bức tranh tổng thể về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc nghiên cứu,
hoàn thiện thể chế; tăng cường tổ chức, biên chế; bổ sung các nguồn lực
của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là công trình khoa học có giá trị
tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận án gồm bốn chương, chín mục.


5

6

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

nhưng những nội dung này thực sự có ý nghĩa khi triển khai nghiên cứu
hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của Trường Đại học Luật
Hà Nội đã dành một chương riêng đề cập đến kiểm tra và xử lý văn bản.
Dù tiếp cận hoạt động kiểm tra và xử lư văn bản pháp luật nói chung

nhưng nội dung của giáo trình này đã đem lại ý nghĩa thiết thực để luận
giải về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Cuốn sách "Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động
của văn bản quy phạm pháp luật", Nxb Tư pháp phát hành năm 2011.
Nhiều nội dung có giá trị mang tính nền tảng để tác giả luận án bàn luận
cũng như lý giải sâu sắc hơn, logic hơn về cơ chế kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật…
Đề tài "Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng
và giải pháp hoàn thiện" của Bộ Tư pháp (năm 2003). Đề tài chỉ giới
hạn trong phạm vi cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, chưa đề
cập đến xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
- Luận án, luận văn và các bài báo
Luận án tiến sĩ "Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở
Việt Nam hiện nay" của Đoàn Thị Tố Uyên, bảo vệ tại Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2012. Luận án có phạm vi nghiên cứu rộng và phức
tạp; luận án đã đưa ra giải pháp trao thẩm quyền cho Tòa án hành chính
trong việc phán quyết tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật.
Luận văn thạc sĩ: "Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp bộ ở Việt Nam hiện nay" của
chính tác giả luận án, bảo vệ năm 2010 tại Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh. Với quy mô luận văn thạc sĩ nên phạm vi
còn hẹp, một số vấn đề cần tiếp tục tranh luận, hoàn thiện thêm.
Bên cạnh đó, một loạt bài viết có giá trị tham khảo cao, như: Bài
viết "Văn bản quy phạm pháp luật và quy định của luật thực định Việt

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế và hoàn
thiện cơ chế có liên quan đến đề tài
Tác giả Trương Thị Hồng Hà với Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn

thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Hà Nội, 2007). Một số vấn đề lý
luận về các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý có ý nghĩa tham khảo
đối với đề tài của nghiên cứu sinh.
Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Quang Anh "Hoàn thiện cơ chế
pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam" (Hà Nội,
2015). Một số vấn đề lý luận về khái niệm cơ chế, hoàn thiện cơ chế
pháp lý có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài của nghiên cứu sinh.
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình, bài viết, như: "Cơ chế thực thi
giám sát quyền lực nhà nước" của ThS. Nguyễn Mạnh Bình, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 12(149), tháng 6/2009; bài "Cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền"
của GS.TSKH.Lê Văn Cảm và ThS. Dương Bá Thành, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 1(162), tháng 01/2010...
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật và cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
- Sách và đề tài khoa học
Cuốn sách "Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật"
do TS. Uông Chu Lưu chủ biên đã được Nxb Tư pháp xuất bản và phát
hành năm 2005. Tuy hoạt động kiểm tra mới chỉ được xem xét, đánh giá
về tính hợp pháp còn tính hợp lý chưa được đề cập đến trong cuốn sách


7

8

Nam về văn bản quy phạm pháp luật" của TS. Nguyễn Minh Đoan đăng
trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2010; GS.TS. Phạm Hồng Thái
đã thể hiện quan điểm của mình trong bài viết "Văn bản quy phạm pháp

luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật" đăng trên Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 7(232), năm 2011…
1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Những cơ sở lý luận về thiết kế mô hình tổ chức quyền lực nhà
nước ở các nhà nước tư bản đương đại, dựa trên cơ sở học thuyết phân
quyền của Motesquieu và Học thuyết chủ quyền nhân dân của Rousseau.
Mặc dù các học thuyết nêu trên chủ yếu đề cập đến xây dựng mô hình
quyền lực nhà nước..., song có thể tham khảo có chọn lọc một số giá trị
trong quá trình nghiên cứu, đề xuất vấn đề liên quan đến thẩm quyền xử
lý văn bản.
Cuốn sách "Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp" của Martin
Lombard, Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Panthéon-Assas và Gilles
Dumont (Paris II), Giáo sư Trường Đại học Luật và Kinh tế Limoges,
NXB Tư pháp phát hành năm 2007. Cuốn sách là tài liệu hữu ích để tác
giả luận án có điều kiện so sánh, tham khảo luận giải về những vấn đề
liên quan đến tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản.
Cuốn sách "Cải cách cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn
bản hành chính ở Trung Quốc", tác giả Meng Sheng do Đinh Văn Minh
và Nguyễn Văn Toàn biên dịch đã được Nxb Chính trị quốc gia xuất bản
năm 2008. Tuy có quan niệm khác nhau về cơ chế kiểm tra văn bản giữa
Việt Nam và Trung Quốc, nhưng cuốn sách có giá trị tham khảo bổ ích
và liên quan đến đề tài luận án.
1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Ở những khía cạnh khác nhau, việc nghiên cứu về kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật đã được đề cập đến, tuy nhiên, các tác giả
chưa có điều kiện để giải quyết toàn diện và sâu sắc mọi khía cạnh của
kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Các nghiên cứu về cơ chế pháp lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý, đã
phân tích, luận giải tương đối toàn diện về một số vấn đề liên quan, như:

khái niệm cơ chế pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các
yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý, có giá trị tham khảo bổ ích khi
nghiên cứu về cơ chế và các yếu tố cấu thành một cơ chế nhất định nào đó.
Các nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không
nhiều và chưa mang tính hệ thống; thường ở phạm vi hẹp, các tác giả
thường nghiên cứu một khía cạnh, hay một, một số nội dung của kiểm
tra văn bản như các hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật, các
điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản, thực trạng kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật hiện nay…
Mặc dù cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt, song,
dường như chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Công trình nghiên
cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án đó là, luận văn thạc sĩ luật
học của chính tác giả luận án "Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp Bộ" bảo vệ năm 2010 tại
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tuy nhiên, dưới
góc độ của một luận văn thạc sĩ, công trình này còn một số hạn chế,
phạm vi hẹp, một số nội dung cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện thêm.
Ở nước ngoài, trong phạm vi những công trình mà tác giả đã tiếp
cận được, có thể thấy rằng, hầu như không có nghiên cứu về cơ chế
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, có thể nói rằng, cơ chế
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam là một đặc thù.
Trên cơ sở sơ lược và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các
vấn đề liên quan đến đề tài luận án, tác giả luận án thấy rằng, việc kế
thừa, tiếp thu một số kết quả nghiên cứu trước đây như: các đánh giá,
phân tích về khái niệm liên quan đến cơ chế, các yếu tố cấu thành cơ
chế, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế; một số vấn đề liên
quan đến khái niệm, đặc điểm, vai trò của kiểm tra văn bản quy phạm



9

10

pháp luật; về thực trạng hệ thống pháp luật…, đồng thời, sẽ tiếp tục đánh
giá, bình luận và từ đó đưa ra nhận định riêng của mình là cần thiết.
1.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận án phải làm sáng tỏ:
- Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam;
- Các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở
Việt Nam;
- Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, bao gồm: thực
trạng các quy định của pháp luật; thực trạng chủ thể kiểm tra văn bản;
các điều kiện bảo đảm.
- Từ lý luận và thực tiễn, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ
chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Việt Nam.
Kết luận chƣơng 1
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết.
Trên cơ sở đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên
quan đến đề tài luận án cho thấy, công trình nghiên cứu về kiểm tra văn

bản quy phạm pháp luật đến nay chưa nhiều; các nghiên cứu về kiểm tra
văn bản nói chung hoặc là ở phạm vi hẹp hoặc là quá rộng. Riêng nghiên
cứu về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam hầu như chưa được nhắc đến. Ở nước

ngoài, hầu như không có nghiên cứu về cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật với cơ chế tương tự Việt Nam, vì vậy, có thể nói rằng,
cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam là một đặc thù.
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam
2.1.1. Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Kiểm tra là hoạt động của chủ thể có chức năng (có thẩm quyền)
thực hiện việc xem xét, đối chiếu đối tượng được kiểm tra với các tiêu
chí đã được định sẵn nhằm đánh giá, nhận xét, kết luận về sự đúng đắn,
phù hợp của đối tượng được kiểm tra so với các tiêu chí tương ứng và
đặt ra các yêu cầu, phương án nhằm làm cho đối tượng được kiểm tra trở
nên đúng, phù hợp với các tiêu chí.
Cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam gồm: Chính phủ, các
Bộ, cơ quan ngang Bộ. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
Ủy ban nhân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn. Văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ
ban hành thuộc diện giám sát tối cao của Quốc hội mà không thuộc đối
tượng văn bản được kiểm tra theo pháp luật về kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật, do vậy, có thể xác định được văn bản quy phạm luật

của các cơ quan hành hành chính nhà nước ở Việt Nam nói ở đây chính
là văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan


11

12

ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Theo Luật Ban hành

thành do pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho công tác này được thực
hiện đúng mục đích, yêu cầu.
Hai là, cơ chế đó đảm bảo cho hoạt động của một hệ thống các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chuyên trách công tác kiểm tra và được tổ
chức tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Ba là, cơ chế này được thực hiện bằng một hệ thống các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đối với đối tượng nhất định, gắn với quá trình
thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy công quyền,
cũng như công vụ của các công chức trong bộ máy đó.
Bốn là, mục đích của cơ chế kiểm tra là nhằm làm cho quá trình
thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước, cũng
như công vụ của các công chức trong bộ máy đó đạt được hiệu quả cao,
phù hợp với những nguyên tắc cơ bản được thừa nhận của nhà nước
pháp quyền và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và xã hội.
2.1.3. Vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam với toàn bộ các yếu tố cấu thành và sự vận

của các yếu tố đó có vai trò quan trọng và tác động trở lại một cách
mạnh mẽ, tích cực đối với hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
2.2. Các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà
nƣớc ở Việt Nam
2.2.1. Các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Một là, các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ ban hành thông tư hoặc thông tư liên tịch; Ủy ban nhân dân
ban hành quyết định.
Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra định nghĩa về kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt
Nam như sau: Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam là hoạt động xem xét, đánh giá và kết
luận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tính hợp hiến, hợp
pháp, tính thống nhất đối với thông tư, thông tư liên tịch của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định của Ủy ban nhân dân các
cấp, nhằm phát hiện và xử lý đối với những văn bản trái pháp luật, đồng
thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành
văn bản trái pháp luật đó.
Để công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, hiệu
quả, đòi hỏi phải có một cơ chế kiểm tra hữu hiệu. Cơ chế kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt
Nam là toàn bộ các yếu tố và sự vận hành các yếu tố như thể chế pháp
luật, chủ thể và các điều kiện bảo đảm khác, do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định và vận hành để xem xét, đánh giá và kết luận về

tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đối với thông tư, thông tư liên
tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định của Ủy
ban nhân dân các cấp, nhằm phát hiện và xử lý đối với những văn bản
trái pháp luật, đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan,
người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó.
2.1.2. Đặc điểm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Một là, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bao gồm tổng thể các yếu tố cấu


13
Hai là, chủ thể thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Ba là, các điều kiện bảo đảm đối với công tác kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

2.2.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Mỗi yếu tố cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đóng một vai trò nhất định, có
mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
Quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam suy cho cùng cũng là do
con người (chủ thể kiểm tra) tạo lập ra và tổ chức thực hiện; chất lượng
các quy định pháp luật về về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và
hiệu quả của việc áp dụng nó không phải do ai khác, mà do chính các
chủ thể đã tạo lập và tổ chức thực thi nó quyết định. Pháp luật về kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật phải có "bổn phận" xác lập đầy đủ, rõ
ràng, rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể kiểm tra... Cứ như

vậy, các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
2.3. Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam

2.3.1. Khái lƣợc về tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là các tiêu chuẩn dùng để
đánh giá, kiểm định về thể chế pháp luật, tổ chức, bộ máy và các yếu tố
khác của cơ chế kiểm tra.
2.3.2. Các tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Một là, có đầy đủ các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

14
Hai là, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo về thẩm quyền,
kiểm tra; đa dạng hóa các phương thức kiểm tra.
Ba là, bảo đảm sự phối hợp trong công tác kiểm tra văn bản
Bốn là, bảo đảm phán quyết và xử lý kịp thời, triệt để văn bản có
sai sót.
Năm là, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra văn
bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Kết luận chƣơng 2
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam là tổng thể và sự vận hành của các yếu tố
tạo nên. Mỗi một yếu tố của cơ chế đóng một vai trò nhất định và tác
động qua lại lẫn nhau. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy pham
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam suy cho
cùng là hoàn thiện các yếu tố tạo nên cơ chế này.

Để trả lời câu hỏi tại sao phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế này, trên cơ
sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện, cần phải nghiên cứu,
đánh giá về thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Chƣơng 3
TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT TRONG THỜI GIAN QUA VÀ THỰC TRẠNG
CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
trong thời gian qua
Về tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản, từ năm 2003 đến hết
tháng 3/2013, các bộ, ngành và địa phương đã tự kiểm tra được


15

16

3.665.901 văn bản, đã phát hiện 30.115 văn bản có dấu hiệu vi phạm các
1.255.808 văn bản, đã phát hiện được 6.872 văn bản vi phạm quy định

3.2. Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam
3.2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy

tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Năm 2015, đã tự kiểm tra được

phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam


232.550 văn bản, đã phát hiện 2.894 văn bản vi phạm tính hợp hiến, hợp

3.2.1.1. Về đối tượng văn bản kiểm tra, nội dung và thẩm quyền
kiểm tra văn bản
Về đối tượng văn bản kiểm tra, theo Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2015, sẽ không còn hình thức thông tư liên tịch
giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; chỉ thị của Ủy ban
nhân dân các cấp; bổ sung thêm hình thức văn bản quy phạm pháp luật
do chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành, do đó, cần
có phương án giải quyết vấn đề này.
Về nội dung kiểm tra, quy định của pháp luật hiện hành về nội dung
kiểm tra văn bản: nội dung quy định về kiểm tra trình tự, thủ tục xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa thực sự chi tiết, cụ thể,
trên thực tế, việc kiểm tra nội dung này chỉ được tiến hành khi phát hiện văn
bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng kiểm tra có dấu hiệu trái pháp
luật; pháp luật hiện hành chưa quy định kiểm tra về tính hợp lý của văn bản.
Về thẩm quyền kiểm tra văn bản, do đối tượng văn bản kiểm tra đã
có sự thay đổi, nên thẩm quyền kiểm tra văn bản cũng cần được điều
chỉnh cho phù hợp. Riêng về hình thức xử lý văn bản trái pháp luật,
pháp luật không quy định hình thức hủy bỏ văn bản nữa, quy định về
hình thức bãi bỏ văn bản như hiện nay không thể phân biệt được áp dụng
trên cơ sở kết quả rà soát văn bản hay kết quả kiểm tra văn bản, từ đó
dẫn đến khó khăn trong việc việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với
người/cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật.
3.2.1.2. Về xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật
Về các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật, pháp luật hiện hành quy
định các hình thức sau đây: (i) Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn
bộ nội dung văn bản; (ii) Hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản;

điều kiện về tính hợp pháp của văn bản. Năm 2014, đã tự kiểm tra được


pháp của văn bản.
Về kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, từ năm 2003 đến hết tháng
3/2013, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã kiểm tra theo
thẩm quyền được 2.353.490 văn bản, đã phát hiện được 63.277 văn bản
có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản. Năm
2014, kiểm tra được 495.737 văn bản, đã phát hiện 1.642 văn bản sai
về thẩm quyền ban hành và nội dung. Năm 2015, đã kiểm tra được
66.600 văn bản, đã phát hiện 111 văn bản sai về thẩm quyền ban hành
và nội dung.
Kết quả kiểm tra, xử lý văn bản thời gian qua đã góp phần quan
trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh
nghiệp, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra văn bản
luật vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, nổi lên là: (i) Vẫn còn văn bản
có nội dung trái pháp luật nhưng chưa được kiểm tra, phát hiện và xử
lý kịp thời; (ii) Cơ quan ban hành văn bản chưa chủ động xử lý đối
với văn bản trái pháp luật dẫn đến tình trạng văn bản trái pháp luật
này vẫn được áp dụng; (iii) Việc kiểm tra văn bản theo yêu cầu, kiến
nghị của cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin đại chúng
chưa được chú ý đúng mức; (iv) Việc khắc phục hậu quả do ban
hành, áp dụng các văn bản trái pháp luật còn hạn chế; (v) Việc xử lý
trách nhiệm đối với cá nhân tham mưu, ban hành văn bản trái pháp
luật còn chưa nghiêm.


17

18


(iii) Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản. Ngoài ra, trong quá
trình kiểm tra phát hiện văn bản chỉ sai về căn cứ pháp lý được viện dẫn,
thể thức, kỹ thuật trình bày thì đính chính đối với những sai sót đó.
3.2.1.3. Về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người đã ban hành
văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật
Quy định về xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người đã
ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật còn mang tính
nguyên tắc, rất khó áp dụng; pháp luật cũng chưa quy định về trách
nhiệm bồi thường trong trường hợp ban hành văn bản trái pháp luật.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định cụ thể về thời
hạn kiểm tra đối với một văn bản (bao gồm tự kiểm tra và kiểm tra theo
thẩm quyền), nên việc xem xét trách nhiệm đối với các chủ thể kiểm tra
văn bản gặp khó khăn, vướng mắc; liên quan đến vai trò trách nhiệm của
Tòa án trong kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay pháp
luật chưa quy định, vấn đề này cần được nghiên cứu, hoàn thiện (trường
hợp triển khai phương án giao thẩm quyền kiểm tra văn bản cho Tòa
án); một số mức chi quy định tại văn bản hiện hành về kinh phí hỗ trợ
cho hoạt động kiểm tra văn bản không còn phù hợp với tình hình thực
tiễn, một số khoản chi chưa được pháp luật quy định...
3.2.2. Thực trạng về chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
3.2.2.1. Về tổ chức bộ máy, cán bộ chuyên trách kiểm tra văn bản
Tổ chức, bộ máy làm công tác kiểm tra văn bản tại bộ, cơ quan
ngang bộ và địa phương hiện nay còn chưa thống nhất; thiếu biên chế;
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ còn chưa đồng đều.
3.2.2.2. Về chủ thể khác
Kiểm tra văn bản như hiện nay, dù có hoàn thiện đến mức nào chăng
nữa, song vẫn chỉ là trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước,
nên còn có những dấu hỏi, băn khoăn về tính khách quan, minh bạch (ở
đây đề cập đến vai trò của Tòa án trong kiểm tra, xử lý văn bản).


Về tổ chức hoạt động của đội ngũ công tác viên kiểm tra văn
bản, một số nơi chưa được quan tâm triển khai, phát triển; trình độ
chuyên môn của công tác viên còn chưa đồng đều, một số trường hợp
ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn còn hạn chế, chưa đáp ứng
yêu cầu.
3.2.3. Thực trạng các điều kiện bảo đảm và một số vấn đề khác
liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
3.2.3.1. Kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra văn bản
còn chưa đồng đều, nhiều nơi chưa bố trí (thậm chí không có) kinh phí
hỗ trợ công tác này; trang thiết bị làm việc còn thiếu.
3.2.3.2. Hệ cơ sở dữ liệu: nhiều nơi đã xây dựng được cơ sở dữ liệu,
nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; một số nơi chưa có hệ cơ sở dữ liệu.
3.2.3.3. Một số vấn đề khác: sự vào cuộc và tham gia của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vào hoạt động kiểm tra còn chưa
đáp ứng yêu cầu;
; kết quả
kiểm tra, xử lý văn bản được đăng tải trên các phương tiện thông tin
còn rất ít…
Kết luận chƣơng 3
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung, trong đó có
kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước được hình thành
và vận hành từ năm 2003 đến nay. Bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế
này cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; các quy định của pháp luật
chưa đồng bộ; việc kiểm tra, xử lý văn bản chưa đầy đủ, kịp thời; điều
kiện bảo đảm còn nhiều khó khăn v.v...
Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, cần phải khắc phục
những hạn chế, bất cập, có các giải pháp đồng bộ để làm thay đổi căn

bản công tác này.


19

20

Chƣơng 4
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM

giá mà còn kết luận, xử lý vụ việc, đưa ra những kiến nghị để sửa chữa
kịp thời, sớm khắc phục hậu quả, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
4.1.4. Bảo đảm tính độc lập tương đối của các chủ thể kiểm tra;
sự phối hợp với hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và giám sát trực tiếp của nhân dân
Việc đưa ra quan điểm này cũng chính là việc tiếp tục khẳng định
"tính quyền lực nhà nước" trong hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật. Cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, một mình cơ
quan chuyên trách công tác kiểm tra văn bản không thể hoàn thành
nhiệm vụ nếu không có sự phối hợp. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở
Việt Nam cần bám sát quan điểm này.
4.1.5. Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, cá nhân vào
quá trình kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật
Sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, của các
phương tiện thông tin đại chúng và của mọi tầng lớp nhân dân vào quá
trình kiểm tra, phát hiện và xử lý văn bản có sai sót đã có những chuyển

biến; không ít văn bản có sai sót đã được phát hiện và kiến nghị xử lý
qua kênh này, nên việc chú trọng, khuyến khích sự quan tâm, phát hiện
và kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật là
rất cần thiết.
4.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam
4.2.1. Hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Một là, loại bỏ một số loại văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối
tượng được kiểm tra.
Hai là, hoàn thiện quy định của pháp luật về nội dung kiểm tra trình
tự, thủ tục xây dựng, ban hành và tính hợp lý của văn bản.

4.1. Quan điểm hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam
4.1.1. Gắn với yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền, tinh
thần Hiến pháp 2013, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Trong những năm tới, hệ thống pháp luật của Việt Nam sẽ có bước
đổi mới căn bản để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu hội
nhập quốc tế trong tình hình mới. Vì vậy, các giải pháp bảo đảm chất
lượng của hệ thống pháp luật cần được xem xét, đánh giá từ nhiều phương
diện, kết nối chặt chẽ các khâu đoạn, trong đó có hoạt động giám sát,
kiểm tra (hậu kiểm văn bản).
4.1.2. Gắn với cải cách thể chế hành chính; xác lập cụ thể, rõ
ràng hơn thẩm quyền, phạm vi và đối tượng kiểm tra
Kiểm tra, xử lý văn bản là một nhiệm vụ xuất phát từ chính yêu cầu
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, phục vụ trực tiếp yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế,
chủ động hội nhập quốc tế. Do vậy, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản
gắn với cải cách thể chế hành chính; xác lập cụ thể, rõ ràng hơn thẩm

quyền, phạm vi và đối tượng kiểm tra.
4.1.3. Bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra văn
bản và tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện chức năng của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước
Hoạt động kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở
Việt Nam mang tính quyền lực nhà nước, do chủ thể là cơ quan công
quyền có thẩm quyền riêng thực hiện, ở đây là các cơ quan hành chính
nhà nước; việc kiểm tra văn bản không chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh


21

22

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, hình thức xử lý văn
bản trái pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Bốn là, ban hành văn bản quy định cụ thể làm cơ sở cho việc xem
xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người ban hành văn bản trái
pháp luật.
Năm là, ban hành văn bản quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường
do áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây hậu quả.
Sáu là, quy định về thời hạn kiểm tra văn bản (trong đó, quy định
rõ thời hạn, trách nhiệm tự kiểm tra sau khi văn bản được ký ban hành;
quy định rõ thời hạn kiểm tra văn bản theo thẩm quyền).
Bảy là, sửa đổi, bổ sung quy định về kinh phí phục vụ công tác
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.2.2. Củng cố, kiện toàn các chủ thể thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
4.2.2.1. Củng cố kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính

nhà nước ở Việt Nam
Vấn đề tổ chức, biên chế tại các cơ quan kiểm tra văn bản hiện nay
vẫn cần tiếp tục được quan tâm củng cố, hoàn thiện. Các Bộ, cơ quan
ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp cần có sự quan tâm thích đáng nhằm
kiện toàn, bảo đảm thống nhất về tổ chức làm công tác này; củng cố, bố
trí đủ công chức có năng lực, trình độ và phẩm chất làm công tác kiểm
tra văn bản.
4.2.2.2. Nghiên cứu, giao Tòa hành chính xem xét, xử lý văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
có nội dung không hợp hiến, không hợp pháp
Ở Việt Nam, việc ra đời Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án
nhân dân là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát huy dân chủ,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa… Tuy nhiên, Tòa hành chính hiện
nay chưa đảm nhận chức năng phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp

của văn bản quy phạm pháp luật. Kinh nghiệm của các quốc gia có thể
có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu, trao thẩm quyền cho Tòa hành chính
xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật.
4.2.3. Tăng cường, bảo đảm các nguồn lực và các điều kiện bảo đảm
khác phục vụ vận hành cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
4.2.3.1. Về kinh phí và trang thiết bị làm việc
Bảo đảm về kinh phí là bảo đảm cơ bản. các cấp, các ngành cần linh
hoạt bổ sung kinh phí kịp thời cho công tác này. Bên cạnh đó, cần bố trí
trụ sở, các trang thiết bị làm việc… phục vụ công tác kiểm tra văn bản.
4.2.3.2. Hoàn thiện hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, rà
soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
Việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu càng
sớm, càng hoàn chỉnh thì hiệu quả kiểm tra văn bản càng cao. Căn cứ
vào trách nhiệm được giao, tổ chức pháp chế các Bộ, ngành và địa phương
có nhiệm vụ tổng hợp, biên tập, xây dựng hệ cơ dữ liệu hoàn chỉnh của

cơ quan mình.
4.2.3.3. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong kiểm tra văn bản
Bất kỳ hoạt động nào liên quan đến sự tham gia của nhiều chủ thể
thì vai trò của tổ chức, cá nhân chuyên trách (làm đầu mối) là vô cùng
quan trọng, song nếu chỉ đơn thương độc mã tổ chức, cá nhân chuyên
trách thì rất khó khăn và khó có thể đạt được kết quả, hiệu quả.
Việc phối hợp cần được chú trọng thực hiện tốt cả trong nội bộ các
cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản; giữa các cơ quan kiểm tra văn
bản với nhau, với cơ quan có văn bản được kiểm tra và với các cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác có liên quan (phương tiện truyền thông, người
phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật...).
Kết luận chƣơng 4
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là kết
quả được kết tinh của quá trình nghiên cứu về tổng quan những vấn đề


23

24

liên quan đến đề tài, từ nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng của cơ
chế này, đồng thời, việc đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà
nước ở Việt Nam cũng là mục tiêu cao nhất của đề tài luận án.

Với mục tiêu trên, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả
nghiên cứu trước đây, luận án nghiên cứu, giải quyết những vấn đề sau:
Một là, về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ: (i) Khái niệm, đặc điểm
và vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ

quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; (ii) Các yếu tố và mối quan hệ
giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; (iii) Tiêu chí hoàn thiện cơ
chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Việt Nam.
Hai là, về mặt thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá thực
trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam, bao gồm: thực trạng quy định của pháp luật
(thể chế pháp luật) về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; thực trạng chủ thể (tổ chức, bộ
máy, nhân sự) thực thi nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; thực trạng các điều
kiện bảo đảm khác. Bên cạnh đó, luận án còn nghiên cứu, đánh giá tình
hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trong
thời gian qua.
Ba là, từ lý luận và thực tiễn cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân, luận án luận chứng, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ
chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính
nhà nước ở Việt Nam.

KẾT LUẬN
Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là thiết chế mới, có ý
nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật và
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó
có kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà

nước ở Việt Nam là một trong các hoạt động nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật bằng cách loại bỏ những quy định mâu thuẫn, không hợp hiến,
không hợp pháp của văn bản thuộc đối tượng kiểm tra, làm cho hệ thống
pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch. Để bảo đảm hiệu lực, hiệu
quả của công tác này, góp phần nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, cũng như tiến trình đổi mới và hội nhập của đất
nước, vấn đề đặt ra là phải có một cơ chế hữu hiệu để vận hành và tổ
chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Trên thực tế, việc nghiên cứu
về hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm luật không nhiều, đặc
biệt là hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm luật của các cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam dường như chưa có, vì thế, rất
cần thiết phải có nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề về
hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà
nước ở Việt Nam, để từ đó đánh giá, đưa ra được những giải pháp khoa
học, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm cho hoạt động này ngày càng đạt
hiệu quả, góp phần đắc lực vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp
luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi.



×