Tải bản đầy đủ (.doc) (113 trang)

Luận văn cao học Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (774.08 KB, 113 trang )

i

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nội dung

BTC

Bộ Tài chính

CP

Chính phủ

CQHC

Cơ quan hành chính

ĐVSN

Đơn vị sự nghiệp


HCSN

Hành chính sự nghiệp

NSNN

Ngân sách nhà nước

PTĐL

Phương tiện đi lại

TSC

Tài sản công

TSLV

Trụ sở làm việc

UBND

Uỷ ban nhân dân


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG



iv

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Phân loại tài sản công theo công dụng của tài sản. Error: Reference
source not found
Sơ đồ 1.2: Phân loại tài sản theo cấp quản lý....Error: Reference source not
found
Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản công theo đối tượng sử dụng tài sản......Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh. Error: Reference source not
found
Biểu đồ 3.2: Tình hình thanh lý phương tiện đi lại giai đoạn 2008-2011 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế và tồn tại của cơ chế
quản lý TSC................................................. Error: Reference source not found


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản công bao gồm tài sản hiện vật, quyền sử dụng đất, vốn ngân
sách nhà nước cấp mua sắm tài sản để phục vụ quá trình hoạt động của cơ
quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước hoạt động. Tài sản
công là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động của
các đơn vị này. Thực tế thời gian qua, quản lý tài sản công luôn là vấn đề thời
sự được Chính phủ và nhân dân đặc biệt quan tâm. Song công tác quản lý tài
sản công hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chế, không thực sự hiệu quả, thiếu
một cơ sở khoa học cả về lý thuyết và thực tế trong quản lý, sử dụng lượng tài
sản lớn, đặc biệt quan trọng này. Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
tình trạng sử dụng tài sản công không đúng mục đích, gây lãng phí, thất thoát

diễn ra phổ biến như: Sử dụng đất đai sai mục đích, đầu tư xây dựng mới,
mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức, cho thuê, mượn tài sản công
không đúng quy định, tự ý sắp xếp, xử lý làm thất thoát tài sản công, sử dụng
tài sản cho ca nhân cá nhân... Đây là biểu hiện rõ ràng nhất về bất cập, vướng
mắc trong quản lý tài sản công, đang được người dân và các phương tiện
thông tin đại chúng quan tâm, nhất là trên diễn đàn Quốc hội.
Việc tiếp quản lý tài sản công là một yêu cầu cấp bách chống lãng phí,
tham ô, sử dụng sai mục đích tạo nền móng vững chắc phát triển kinh tế - xã
hội hiện nay. Do đó việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài sản
công nhất là đất đai có ý nghĩa quan trọng trong các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài:
“Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại các cơ
quan hành chính và đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận
văn thạc sĩ.


2
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính và
đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh, từ đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản công.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến tài sản công
và công tác quản lý tài sản công.
Phân tích thực trạng công tác quản lý tài sản công, trong đó tập trung vào
phân tích thực trạng sử dụng tài sản công là phương tiện đi lại và trụ sở làm việc
của các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp của tỉnh Quảng Ninh.
Đề xuất được một số giải pháp chính để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản
công tại các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp của tỉnh Quảng Ninh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc sử dụng, quản lý tài sản
công tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công
lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan, tổ
chức, đơn vị) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý
trụ sở làm việc và phương tiện đi lại tại của một số cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi
chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.


3
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi về mặt thời gian: đề tài nghiên cứu số liệu trong giai đoạn
2008-2011.
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài đã hệ thống hóa được các cơ sở lý luận liên quan đến công tác
quản lý tài sản công, kinh nghiệm quản lý tài sản công tại các nước. Tác giả
đã phân tích thực trạng sử dụng, quản lý tài sản công mà trọng tâm là tài sản
công là trụ sở làm việc và phương tiện đi lại ở các cơ quan hành chính và đơn
vị sự nghiệp. Từ đó, tác giả phân tích những thành tựu đã đạt được, đồng thời
chỉ ra các nguyên nhân, tồn tại cần giải quyết trong thời gian tới.
Đây là đề tài có nội dung tương đối mới về công tác quản lý tài sản
công. Do vậy đề tài luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý, nhà
khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài sản công trong các cơ quan

hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 04 chương:
- Chương 1: Tổng quan về quản lý tài sản công trong các cơ quan hành
chính và đơn vị sự nghiệp
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Chương 3: Thực trạng công tác quản lý tài sản công trong các cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý tài sản
công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.


4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1.1. Những vấn đề cơ bản về tài sản công
1.1.1. Khái niệm về tài sản công
Tài sản công (TSC) theo Hiến pháp năm 1992 được cho là: Đất đai,
rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng
biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp,
công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ
thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật
quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tài sản thuộc hình
thức sở hữu Nhà nước như sau: "Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà
nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân
sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất,
nguồn lợi từ nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn

và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các
ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại
giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy
định". Từ những căn cứ pháp luật hiện hành, chúng ta có thể đưa ra khái
niệm về tài sản công như sau:
Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà
nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của
pháp luật như: đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời.
Tài sản công là những tài sản mà Nhà nước giao cho cơ quan nhà
nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị,


5
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị) trực
tiếp quản lý, sử dụng phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn
vị.
Tài sản công - Tài sản nhà nước bao gồm: Trụ sở làm việc và tài sản
khác gắn liền với đất; Quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ
sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy
móc, phương tiện vận tải (ô tô, xe máy, tàu, thuyền...), trang thiết bị làm việc
và các tài sản khác do quy định của pháp luật.
Những tài sản trên đây đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức,
đơn vị quản lý, sử dụng theo nguyên tắc:
- Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức,
đơn vị quản lý, sử dụng.
- Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có
phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước
và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước.

- Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục
đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm.
- Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị
theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua,
bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao
dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
- Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy
định.
- Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai,
minh bạch; mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.


6

1.1.2. Đặc điểm của tài sản công
Tài sản công rất phong phú về số lượng và chủng loại, mỗi loại tài
sản có đặc điểm, tính chất và công dụng khác nhau. Tài sản công bao gồm
nhiều loại tài sản có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau và do nhiều
cơ quan sử dụng khác nhau, song chúng đều có những đặc điểm chung
sau:
Thứ nhất, tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của
ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước. Trừ một số tài
sản đặc biệt như: đất đai, tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước, sau đó
được chuyển giao cho cơ quan hành chính quản lý sử dụng; còn lại đại bộ
phận tài sản công là những tài sản được hình thành từ kết quả đầu tư xây
dựng, mua sắm bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân
sách nhà nước (thừa kế của thời kỳ trước). Ngay cả những tài sản thiên
nhiên ban tặng như đất đai, tài nguyên, các cơ quan hành chính muốn sử

dụng được cũng phải đầu tư chi phí bằng tiền của ngân sách nhà nước cho
các công việc khảo sát, thăm dò, đo đạc, san lấp mặt bằng, tiền trưng mua
đất (tiền bồi thường đất)...
Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ
không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập
quyền sở hữu Nhà nước. Đối với tài sản này, ngân sách nhà nước không
trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan
sử dụng. Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các cơ quan hành chính
sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được
xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu
cho ngân sách nhà nước. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập
quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng
góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành


7
từ ngân sách nhà nước.
Từ sự phân tích trên cho thấy dù là tài sản nhân tạo hay tài sản
thiên tạo và được hình thành từ kết quả đầu tư trực tiếp, xây dựng mua
sắm tài sản hay các nguồn tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì
tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước đều được đầu tư, mua sắm
bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tài sản công là cơ
sở vật chất để phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Do vậy,
sự hình thành và sử dụng tài sản công tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ
của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị hành chính tài sản công là
điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính
thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được giao của mình. Tài sản công của

các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc, các phương tiện giao thông vận
tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm
việc. Số lượng tài sản công cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ
máy và biên chế cán bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị.
Đối với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: tài sản công
chỉ đơn thuần là phương tiện để các tổ chức này thực hiện các hoạt
động thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm phát huy vai trò của tổ
chức này. Tài sản công của tổ chức này cũng như các cơ quan quản lý nhà
nước là công sở, phương tiện giao thông vận tải phục vụ công tác và các
máy móc, trang thiết bị văn phòng và các tài sản khác. Số lượng tài sản
công tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và số lượng cán bộ, công nhân
viên trong các tổ chức.
Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu
hồi được trong quá trình sử dụng tài sản công. Thực tế các nước trên thế
giới cho thấy khoảng 80% chi NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản


8
chi là chi thanh toán, được hoàn trả trực tiếp. Khác với doanh nghiệp kinh
doanh, tài sản công chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải
vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong quá trình sử
dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường; do
đó, không chuyển giá trị bị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi
phí lưu thông. Vì thế, trong quá trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn
nhưng không trích khấu hao được (đối với tài sản cố định), vì giá trị của nó
không được chuyển dần sang giá trị của sản phẩm vật chất, dịch vụ để hình
thành bộ phận giá trị mới cần phải thu hồi. Do không thực hiện trích khấu
hao tài sản cố định, nên nguồn vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản
không thu hồi được trong quá trình sử dụng và không có nghĩa vụ tài chính
với ngân sách nhà nước trong việc sử dụng.

Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản công có sự tách rời, nghĩa là
quyền sở hữu tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng được thực
hiện bởi từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức.
Về chế độ quản lý: Nhà nước là chủ thể quản lý tài sản công, ở tầm vĩ
mô tài sản công được quản lý thống nhất theo pháp luật của nhà nước, ở
tầm vi mô tài sản công được Nhà nước giao cho các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp và các tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định, chế độ của
Nhà nước.
Tài sản công rất đa dạng và phong phú, được phân bố rộng trên phạm
vi cả nước; mỗi loại tài sản có tính năng, công dụng khác nhau và được
sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo những
tiêu thức khác nhau; tài sản công nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi
loại tài sản lại có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác
nhau… Tài sản công có loại không có khả năng tái tạo được phải bảo tồn để
phát triển; do đó việc quản lý đối với mỗi loại tài sản cũng có những
đặc điểm khác nhau.


9
1.1.3. Phân loại tài sản công
Để nhận biết và có các biện pháp quản lý có hiệu quả, tài sản công
được phân loại theo các tiêu thức như sau:
1.1.3.1. Phân loại theo công dụng của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công được chia thành 03 nhóm chính:
trụ sở làm việc, phương tiện đi lại và máy móc, thiết bị và các tài sản khác (sơ
đồ 1.1).
Tài sản công

Trụ sở làm việc


Phương tiện đi
lại

Máy móc, thiết
bị và các tài
sản khác

Sơ đồ 1.1. Phân loại tài sản công theo công dụng của tài sản
a) Trụ sở làm việc bao gồm:
- Khuôn viên đất: là tổng diện tích đất do cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp và các tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng được Nhà nước giao; nhận
chuyển nhượng hoặc do tiếp quản từ chế độ cũ được xác lập sở hữu Nhà nước
theo quy định của pháp luật.
- Nhà công sở: là nhà cửa, vật kiến trúc và công trình xây dựng khác
gắn liền với đất. Nhà công sở bao gồm: công sở ở Trung ương và địa phương,
công sở phục vụ công (bệnh viện, trường học, nhà thi đấu, phòng thí
nghiệm…), cơ quan nghiên cứu, báo chí, phát thanh truyền hình của Nhà


10
nước... Nhà công sở bao gồm các bộ phận: bộ phận làm việc, bộ phận công
cộng và kỹ thuật, bộ phận phụ trợ và phục vụ. Vật kiến trúc gồm: giếng
khoan, giếng đào, sân chơi, hệ thống cấp thoát nước...
b) Phương tiện đi lại bao gồm:
- Xe ô tô gồm: xe từ 16 chỗ ngồi trở xuống; xe chở khách; xe ô tô tải;
xe ô tô chuyên dùng như: xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chở tiền, xe phòng
chống dịch, xe phòng chống lụt bão, xe hộ đê ...
- Xe máy.
- Tàu xuồng, ca nô.
c) Máy móc, thiết bị và các tài sản khác bao gồm:

- Máy móc, thiết bị là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho
cán bộ, công chức để làm việc và phục vụ hoạt động của cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, thiết bị truyền
dẫn, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ...
- Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp như: máy
vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy
hút bụi...
- Các loại tài sản khác như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật, vườn cây
lâu năm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống (vườn cà phê, vườn
chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả và đàn gia súc các loại)...
1.1.3.2. Phân loại theo cấp quản lý
Căn cứ vào cấp quản lý, tài sản công được chia thành 04 nhóm: Tài sản
công do Chính phủ quản lý, Tài sản công do UBND cấp tỉnh quản lý, Tài sản
công do UBND cấp huyện quản lý và tài sản công do UNBD cấp xã quản lý
(sơ đồ 1.2).


11

Tài sản công

TSC do CP
quản lý

TSC do
UBND cấp
tỉnh quản lý

TSC do UBND

cấp huyện
quản lý

TSC do
UBND cấp
xã quản lý

Sơ đồ 1.2: Phân loại tài sản theo cấp quản lý
- Tài sản công do Chính phủ quản lý bao gồm: Tài sản công do các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác do trung ương
quản lý.
- Tài sản công do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quản lý (gọi chung là UBND cấp tỉnh): bao gồm tài sản công do các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức thuộc cấp tỉnh quản lý.
- TSC do UBND cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản
lý (gọi chung là UBND cấp huyện): bao gồm tài sản công do các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức thuộc cấp huyện quản lý.
- TSC do UBND cấp xã, phường, thị trấn quản lý (gọi chung là UBND
cấp xã) bao gồm: TSC do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và
các tổ chức thuộc cấp xã quản lý.
1.1.3.3. Phân loại theo đối tượng sử dụng tài sản
Căn cứ vào đối tượng sử dụng tài sản, tài sản công được chia thành 04
nhóm: tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành chính, tài sản
công dùng cho hoat động của các đơn vị hành chính, tài sản công dùng cho


12
hoạt động của các tổ chức, và tài sản công chưa được nhà nước giao cho cơ
quan, đơn vị nào sử dụng.
Tài sản công


TSC dùng cho
hoạt động của
các CQHC

TSC dùng cho
hoạt động của
các ĐVSN

TSC dùng cho
hoạt động của
các tổ chức

TSC chưa
được giao sử
dụng

Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản công theo đối tượng sử dụng tài sản
Một là, tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước gồm: tài sản làm việc, nhà công vụ; phương tiện đi lại; máy
móc, thiết bị và các tài sản khác trực tiếp phục vụ hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước. Là cơ quan công quyền nên các cơ quan hành chính
nhà nước được NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gồm cả kinh
phí mua sắm, sửa chữa tài sản). Về nguyên tắc, các cơ quan cơ quan hành
chính được bình đẳng sử dụng tài sản phù hợp với chức năng nhiệm vụ
được giao. Việc quản lý tài sản phải tuân thủ theo chế độ, chính sách quản
lý chung của Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản, chế độ
báo cáo, mua sắm, bán thanh lý tài sản... đồng thời phải chịu sự kiểm tra,
giám sát của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng. Nhà nước quản lý toàn
diện đối với tài sản do cơ quan hành chính nhà nước sử dụng, ở tất cả các

khâu theo vòng đời tồn tại của tài sản gồm: đầu tư, mua sắm; bố trí sử
dụng, mục đích sử dụng, báo cáo thống kê, kiểm kê, chuyển đổi công năng,


13
thanh lý tài sản... Về nguồn kinh phí mua sắm: chỉ có một nguồn duy nhất
đó là NSNN. Trong quá trình sử dụng, giá trị hao mòn của những tài sản
này được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng công.
Hai là, TSC dùng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp: là những tài
sản mà nhà nước giao cho các ĐVSN trực tiếp sử dụng để thực hiện các mục
tiêu sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Loại này
gồm: đất, nhà, công trình xây dựng và vật kiến trúc thuộc cơ sở hoạt động
của ĐVSN như: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, phòng thí nghiệm, trạm
trại nghiên cứu...; phương tiện đi lại; máy móc chuyên dùng, thiết bị công
tác, dây truyền công nghệ ... Ở Việt Nam hiện nay, có 2 loại hình ĐVSN là:
ĐVSN công lập tự chủ tài chính và ĐVSN công lập chưa tự chủ tài chính.
TSC tại các ĐVSN phần lớn là tài sản chuyên dùng, sử dụng mang tính đặc
thù ở từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động. Theo chế độ hiện hành, kinh phí
đầu tư mua sắm tài sản của ĐVSN có thể có nhiều nguồn khác nhau như:
nguồn NSNN, nguồn thu sự nghiệp hoặc các nguồn huy động khác do
ĐVSN trực tiếp huy động và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Do đó, các
ĐVSN có quyền tự chủ cao hơn các CQHC nhà nước trong việc quản lý, sử
dụng tài sản, nhất là những tài sản mà đơn vị mua sắm bằng nguồn kinh phí
không thuộc NSNN. Bên cạnh đó, theo chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá các
lĩnh vực sự nghiệp, nhà nước đã áp dụng thực hiện cơ chế khoán chi cho các
ĐVSN. Đơn vị được quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc: đầu
tư mua sắm, sử dụng, khai thác tài sản, thanh lý tài sản phục vụ đổi mới
dây truyền công nghệ của đơn vị theo nhu cầu hoạt động của mình. Trong
quá trình sử dụng, giá trị của tài sản giảm dần. Phần giá trị giảm dần đó được
xem là yếu tố chi phí để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công, một yếu tố cấu

thành nên giá thành sản phẩm dịch vụ đó.


14
Ba là, TSC dùng cho hoạt động của tổ chức chính trị, các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phục vụ cho hoạt
động của tổ chức, bao gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại, máy móc,
thiết bị và những tài sản khác. Những tài sản này có thể là toàn bộ hoặc chỉ là
một phần trong tổng số tài sản mà tổ chức đang quản lý, sử dụng.
Bốn là, TSC mà Nhà nước chưa giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức
nào sử dụng, gồm: tài sản dự trữ nhà nước, tài sản mà nhà nước thu hồi từ
các cơ quan, đơn vị do vi phạm chế độ quản lý do nhà nước quy định. Pháp
luật hiện hành giao cho cơ quan tài chính nhà nước các cấp tạm thời quản lý.
1.1.3.4. Phân loại theo đặc điểm, tính chất, hoạt động của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm có tài sản hữu hình và
tài sản vô hình:
- Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được
hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được.
- Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện ra bằng những lợi ích kinh
tế. Chúng không có cấu tạo vật chất mà tạo ra những quyền và những ưu
thế đối với người sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng.
Tài sản vô hình bao gồm: giá trị quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng
chế, bản quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp, phần mềm máy tính…
1.1.3.5. Phân loại theo đặc điểm hao mòn của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm:
- Tài sản hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian
như: máy móc thiết bị, phương tiện đi lại…
- Tài sản không bị hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn
giữ được hình dạng ban đầu như: đất đai, cây lâu năm...
1.1.4. Vai trò của tài sản công

Tài sản công là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lực phát triển
đất nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tài sản công là nền


15
tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân
giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân” (Nguyễn Phố và Trần Thọ
Kim, tr.79, 1989). Vai trò của TSC có thể được xem xét dưới nhiều khía
cạnh: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục... ở đây, luận án chỉ đề cập
đến vai trò kinh tế của nó. Theo đó TSC có những vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, tài sản công là một bộ phận nền tảng vật chất quan trọng
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Như đã trình bày ở trên, biểu
hiện dưới hình thái hiện vật, tài sản công

bao gồm: tài sản làm việc, nhà

cửa; phương tiện đi lại; máy móc, trang thiết bị ... Đây chính là nền tảng vật
chất căn bản để nhà nước tồn tại và phát triển. Nói rộng hơn, đây là môi
trường và là điều kiện đảm bảo sự tồn vong cho một chế độ xã hội. Thực tiễn
lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy hầu hết các nhà nước bị sụp đổ khi
không còn kiểm soát được quyền lực công, trong đó có quyền lực về TSC.
Thông qua cuộc cách mạng xã hội, quyền lực công chuyển dịch sang tay nhà
nước mới. Nhà nước mới ra đời tiếp quản và sử dụng ngay toàn bộ cơ sở vật
chất của nhà nước tiền nhiệm làm cơ sở sinh tồn của mình. Trên nền tảng vật
chất này, Nhà nước triển khai các hoạt động thuộc chức năng của mình để
kiểm soát, quản lý kinh tế -xã hội của đất nước. Mọi hoạt động của các cơ
quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở, gắn liền với việc sử dụng tài sản
công. Với phạm vi rộng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về công
dụng ..., tài sản công trực tiếp giúp cho hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà
nước thực hiện được trôi chảy liên tục và thông suốt. Công năng của từng tài

sản liên tục phát huy tác dụng góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà
nước. TSLV chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc
hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch
của nhà nước với dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi... Nếu
không có TSLV thì nhà nước không thể triển khai thực hiện được các hoạt


16
động của mình, theo đó quyền lực nhà nước cũng không thể thực hiện được.
Mặt khác, TSC là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các
hoạt động sự nghiệp nhằm giúp các đơn vị sự nghiệp cung cấp các sản phẩm
dịch vụ công với chất lượng cao cho con người. Nó là điều kiện vật chất để
đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học; để thực hiện nghiên cứu
khoa học và áp dụng các thành tựu khoa học vào sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội. Nước ta là nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước với yêu cầu phải rút ngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về công
nghệ. Từ đó, tại Hội nghị Trung ương 2 Khoá VIII Đảng ta đã khẳng định,
chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là khâu đột phá
để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để phát triển các hoạt
động này có nhiều yếu tố, trong đó TSC là điều kiện vật chất quan trọng để
đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học, công nghệ và các sản
phẩm khoa học công nghệ phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ không ngừng củng cố, xây
dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật được xem là nhiệm vụ sống còn,
có tính quy luật đối với mọi nhà nước. Tiêu chí về mức độ hiện đại, tiện ích,
quy mô về TSC được coi là nhân tố đánh giá như sức mạnh, hiệu quả hoạt
động của một nhà nước. Có thể nói rằng, Nhà nước khó có thể hoàn thành
nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ... của đất
nước khi chỉ có trong tay một nguồn lực công là cơ sở vật chất nghèo nàn,
lạc hậu. Với ý nghĩa đó, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước thì

bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải cách tổ chức bộ máy,
cải cách thủ tục hành chính, khuôn khổ pháp lý.... thì Nhà nước còn phải
không ngừng đầu tư phát triển TSC cả về quy mô, số lượng và chất lượng
theo hướng ngày càng hiện đại, tiên tiến.


17
Thứ hai, tài sản công là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội.
Chúng ta biết rằng, sự phát triển của xã hội chủ yếu do 3 yếu tố: Lao động, tri
thức và quản lý, trong đó vai trò quản lý Nhà nước ngày càng có ý nghĩa
quan trọng. Bởi lẽ, một mặt quản lý là tổ chức lao động; mặt khác, quản lý là
phải tạo ra khả năng phát triển tri thức. Điều quan trọng của quản lý Nhà
nước là sự kết hợp tri thức với lao động để hoàn thiện quản lý hơn nữa và
thúc đẩy xã hội phát triển. Vì vậy, quản lý nhà nước biểu hiện trước hết ở
chính những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển xã hội, vào ý
thức con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng
và các mục tiêu đã định.
Nhà nước thực hiện chức năng kinh tế thông qua các hoạt động nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành bình thường, hướng
quá trình sản xuất xã hội tới những mục tiêu đã định trước. Cùng với việc
phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế kinh tế theo hướng thúc đẩy, giải phóng
mọi nguồn lực tập trung cho sản xuất ra của cải vật chất để đạt mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, thì hoạt động của bộ máy nhà nước phải được đổi mới, cải
cách theo hướng gọn nhẹ, hiệu lực và hiệu quả, thông suốt từ trung ương đến
cơ sở. Với vai trò là nền tảng vật chất đảm bảo cho nhà nước hoạt động, TSC
giữ vị trí hết sức quan trọng. Một mặt, TSC là phương tiện để truyền tải
thông tin, sự lãnh đạo điều hành quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, đồng
thời là công cụ để thực hiện ý trí của nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát duy
trì sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu
đã định trước. Mặt khác, chúng ta đều đã biết rằng quá trình sản xuất xã hội

chỉ có thể diễn ra được bình thường khi có sự quản lý thường xuyên, liên tục
của nhà nước.
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì tác động của hoạt động
quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất xã hội của một quốc gia càng lớn


18
hơn bao giờ hết. Thực tiễn cho thấy, khi hoạt động quản lý nhà nước kém
hiệu quả, đặc biệt ở những nước xảy ra mất ổn định về chính trị thì ngay lập
tức nền kinh tế rơi vào suy thoái, thậm chí khủng hoảng. Với ý nghĩa đó, có
thể khẳng định: tài sản công là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã
hội.
1.2. Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
1.2.1. Phân biệt cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
Đơn vị sự nghiệp công là một phần của khu vực công, là cơ quan được
Nhà nước thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp như giáo dục, y tế,
văn hoá thể thao, truyền hình, nghiên cứu...có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân vì các đơn vị này cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng
cao, các công trình nghiên cứu khoa học cơ bản phục vụ kinh tế xã hội phát
triển, đồng thời các đơn vị này còn cung cấp cho xã hội các dịch vụ công
trong lĩnh vực y tế, văn hoá, thể thao, truyền hình...
Sự khác nhau cơ bản giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp nhà
nước được thể hiện cụ thể như sau:
- Về chức năng nhiệm vụ: Cơ quan hành chính thực hiện chức năng
quản lý nhà nước, còn đơn vị sự nghiệp công thực hiện chức năng cung cấp các
dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, văn hoá, thể thao, phát thanh truyền hình...
Trong khi các cơ quan hành chính được phân cấp, phân quyền phân định rõ lĩnh
vực quản lý riêng không trùng lặp, chồng chéo, thì nhiều đơn vị sự nghiệp công có
thể cùng thực hiện một nhiệm vụ tại một địa phương, một cấp.
Phạm vi quản lý của cơ quan hành chính căn cứ vào phân cấp phân

quyền, đơn vị sự nghiệp công không bị giới hạn hay ràng buộc theo địa lý.
- Về kinh phí hoạt động:
Cơ quan hành chính được ngân sách nhà nước đảm bảo toà bộ kinh phí
hoạt động, còn đơn vị sự nghiệp công hoạt động tuỳ theo từng loại hình sự
nghiệp sau:


19
Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường
xuyên là các đơn vị sự nghiệp công có thu, ngân sách nhà nước không phải
cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, các đơn vị này còn có thể đóng góp
thêm cho NSNN.
Đơn vị sự nghiệp có thu nhưng chỉ đảm bảo được một phần kinh phí
hoạt động thường xuyên là các đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu sự nghiệp
là phí hạn chế nên NSNN phải cấp bổ sung kinh phí cân đối thu chi của đơn
vị và thường được quản lý theo nguyên tắc ghi thu, ghi chi.
Đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo 100% kinh phí hoạt động thường
xuyên. Đây là những đơn vị không có thu, NSNN cấp phát theo dự toán phê
duyệt, phương thức cấp theo hạn mức.
- Về quản lý tài sản công tại các cơ quan: Nguồn hình thành tài sản
công tại các cơ quan hành chính từ NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN. Đối
với đơn vị sự nghiệp công tài sản công đựơc hình thành từ nhiều nguồn khác
nhau như: từ đầu tư của NSNN, từ nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị hoặc
từ nguồn đặc thù...
Trên phương diện đặc điểm tài sản công trong quá trình sử dụng, khai
thác: Tài sản công hay tài sản nhà nước (TSNN) tại các cơ quan hành chính là
tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không tham gia trực tiếp vào
quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó TSNN của cơ quan hành chính không
chuyển giao giá trị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chí phí sản xuất
lưu thông mặc dù đối với tài sản cố định vẫn theo dõi giá trị còn lại, trích khấu

hao. Đối với TSNN của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình sử dụng một
phần giá trị của tài sản là yếu tố chi phí tiêu dùng công nếu là đơn vị sự nghiệp
không có thu. Ngược lại nếu là đơn vị sự nghiệp có thu thì giá trị tài sản công
là những yếu tố đầu vào của sản xuất để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công và
phần giá trị hao mòn của tà sản cố định trong quá trình sử dụng là yếu tố cấu
thành lên giá sản phẩm dịch vụ công của các đơn vị này.
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp


20
Tiêu chí

Cơ quan hành chính

Cơ quan hành chính có chức năng
Về chức chính là quản lý nhà nước:
năng
+ Quốc hội: Hoạt động quản lý nhà
nước nhằm hoàn thành chức năng lập
pháp.
+ Toà án: Hoạt động quản lý nhằm
hoàn thành chức năng xét xử.
+ Viện kiểm sát: Hoạt động quản lý
nhằm hoàn thành chức năng kiểm
sát.
+ Chính phủ: là trung tâm thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà
nước đối với các hoạt động trừ các
hoạt động của cơ quan nêu trên.
+ Do pháp luật quy định

Về địa vị + Không chồng chéo, trùng lặp trong
pháp lý
quản lý, dựa trên phân cấp, phân
quyền

Tổ chức
hoạt
động

Bản
chất sử
dụng tài
sản
công

Đơn vị sự nghiệp
Đơn vị sự nghiệp có chức năng
chính là cung cấp dịch vụ công
mang tính phục vụ cho hoạt
động của nền kinh tế quốc dân:
+ Hoạt động độc lập hoặc trực
thuộc cơ quan hành chính nhà
nước.
+ Hoạt động không giới hạn
phạm vi, địa lý, được quyết định
bởi cơ quan hành chính cấp quản
lý.

+ Do cơ quan chủ quản đặt ra
trong khuôn khổ luật pháp.

+ Có thể chồng chéo, trùng lặp
trong hoạt động và phạm vi địa

+ Cơ quan cấp trung ương: Thẩm
+ Không nhất thiết phải phân
quyền quản lý nhà nước trên cả nước. cấp và phân định hoạt động.
+ Cơ quan hành chính địa phương:
+ Phạm vi hoạt động không bị
Chịu sự kiểm soát của TW, phạm vi
giới hạn.
địa phương.
+ Hoạt động trong giới hạn cho
+ Chấp hành và phục tùng theo Luật phép của pháp luật về ngành
tổ chức chính phủ và Hiến pháp
nghề, lĩnh vực và quy định của
+ Kinh phí hoạt động 100% từ
cấp trên quản lý.
NSNN
+ Kinh phí hoạt động tuỳ thuộc
loại hình: Đơn vị có thu, không
có thu.
+ là tài sản trong tiêu dùng của cải + Một phần tài sản là yếu chi phí
vật chất
tiêu dùng công đối với đơn vị sự
+ Không tham gia trực tiếp vào sản
nghiệp không có thu.
xuất, không chuyển giao giá trị hao
+ Là yếu tố đầu vào của sản xuất
mòn mặc dù có theo dõi khấu hao.
tạo ra sản phẩm, dịch vụ công,

giá trị hao mòn cấu thành giá sản
phẩm dịch vụ của đơn vị sự
nghiệp có thu

1.2.2. Quá trình quản lý nhà nước đối với tài sản công trong cơ quan


21
hành chính và đơn vị sự nghiệp
Theo Olga Kaganova and James Mckellar (2006) thì: “Quản lý nhà
nước đối với TSC có thể được định nghĩa là quá trình đưa ra quyết định và
thực hiện liên quan đến việc mua, sử dụng và thanh lý tài sản”.
Nội dung quản lý TSC trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
là thực hiện quản lý quá trình hình thành; khai thác, sử dụng và quá trình kết
thúc tài sản. Nội dung cụ thể như sau:
a) Quản lý quá trình hình thành TSC
- Khi cơ quan, đơn vị được thành lập, cùng với quy định về chức năng,
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ công chức; cơ quan, đơn vị được
cấp một số tài sản gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại và các tài sản
khác...Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan, đơn vị được đầu tư xây dựng mới,
mua sắm tài sản từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng
theo quy định của pháp luật. Quá trình này gồm hai giai đoạn: quyết định chủ
trương và thực hiện đầu tư, mua sắm TSC. Sau khi có chủ trương; việc đầu tư,
mua sắm tài sản được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ
bản và quy định về mua sắm TSC do Chính phủ quy định. Toàn bộ tài sản này
được quản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở chế độ của Nhà
nước quy định và đặc thù hoạt động của cơ quan.
- Bổ sung tài sản: hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao đơn vị lập
kế hoạch bổ sung tài sản; việc bổ sung tài sản hàng năm được thực hiện như
sau: Mua sắm từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo

quy định của pháp luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân
khác hoặc thu hồi từ các dự án đã kết thúc.
b) Quản lý quá trình khai thác, sử dụng TSC
Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết vai trò của
TSC. Quản lý khâu này là thực hiện quản lý TSC theo mục đích, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức; quản lý quá trình thu hồi, điều chuyển, bán tài sản từ đơn vị


×