Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Hoạch định chiến lược kinh doanh của công ty sản xuất thương mại và kỹ thuật phương anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.74 MB, 111 trang )

Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-------------------------------------VƯƠNG THỊ LAN HƯƠNG

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT -THƯƠNG MẠI VÀ KỸ
THUẬT PHƯƠNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ HIẾU HỌC

HÀ NỘI - 2012

Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 1


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế khu vực và thế giới đã
đặt các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh phải luôn luôn vận động không
ngừng, luôn tìm cho mình một cách đi riêng tạo sự khác biệt. Do vậy, các doanh
nghiệp phải hoạch định được cho mình một chiến lược đúng đắn, phù hợp với hoàn
cảnh bên ngoài trên cơ sở tận dụng các điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình.


Trong những năm gần đây, mặt hàng máy biến áp, ổn áp và cáp điện luôn
không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước vì vậy mà đa số các mặt hàng này
đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy các doanh nghiệp trên khắp thế giới cũng
đang cố gắng vươn ra khỏi phạm vi thị trường một quốc gia để tranh thủ các cơ hội
kinh doanh mà nền kinh tế toàn cầu mang lại. Do vậy, cơ hội cũng như rủi ro kinh
doanh có thể nhanh chóng đến và nhanh chóng đi đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có một cái nhìn tổng thể về bản
thân mình cũng như về môi trường kinh doanh bên ngoài để hình thành nên những
mục tiêu chiến lược và sách lược, giải pháp thực hiện thành công những mục tiêu đó.
Từ các vấn đề tổng quan trong quá trình hoạt động của mỗi doanh nghiệp kinh
doanh nói chung và thực tiễn hoạt động của ngành kinh doanh máy biến áp, ổn áp và
cáp thép nói riêng đã cho thấy, nếu doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh đúng
đắn, có tầm nhìn rộng, tạo được tư duy hành động, nhằm hướng tới mục tiêu chiến
lược cụ thể, thì doanh nghiệp đứng vững và thành công trong cạnh tranh hiện nay,
còn nếu ngược lại thì sẽ rơi vào tình trạng bế tắc, hoạt động không có hiệu quả hoặc
đi đến phá sản.
Do vậy, vấn đề cốt lõi của các doanh nghiệp kinh doanh máy biến áp, ổn áp
và cáp điện là phải có định hướng phát triển lâu dài thông qua một chiến lược kinh
doanh đúng đắn được xây dựng phù hợp với bối cảnh môi trường và tương thích với

Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 2


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

khả năng, vị thế của từng doanh nghiệp trong điều kiện thị trường nhiều biến động và
cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, sôi động như hiện nay.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế và bối cảnh phát triển chung của đất nước và của

doanh nghiệp nói riêng, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoạch định chiến lược kinh doanh
của Công ty sản xuất thương mại và kỹ thuật Phương Anh” với mong muốn từ
thực tế nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty sẽ đưa ra giải pháp
nhằm đóng góp một số ý kiến của mình tạo thêm cơ sở cho các quyết định chiến lược
phát triển lâu dài và ổn định của Công ty.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Như đã được đề cập ở lý do chọn đề tài, môi trường kinh doanh của Công ty
Phương Anh đang biến đổi rất nhanh và tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Chọn đề tài này, tác giả mong muốn đạt được các mục tiêu chính như sau.
- Tổng hợp cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh.
- Phân tích các căn cứ hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty Phương
Anh
- Đề xuất các chiến lược kinh doanh và các giải pháp thực hiện chiến lược.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến quy trình hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp và vận dụng để
hoạch định chiến lược phát triển cho Công ty Phương Anh trong giai đoạn tiếp theo
đảm bảo khả năng thực thi và tính hiệu quả của chiến lược.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sản phẩm máy biến áp của Công ty Phương Anh.
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá những vấn đề liên quan đến chiến

lược kinh doanh, đồng thời hoạch định chiến lược kinh doanh cụ thể cho Công ty
Phương Anh trong giai đoạn 2012-2020.

4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đi tập trung vào nghiên cứu, phân tích các thông tin và số liệu thứ cấp thu
thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp từ nội bộ Công ty
Phương Anh ở những nội dung cơ bản nhất.

Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 3


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Việc nghiên cứu và xây dựng các ma trận lựa chọn chiến lược được thực
hiện bằng phương pháp chuyên gia, tức là tham khảo ý kiến những chuyên gia có am
hiểu sâu về sản phẩm, về tình hình thị trường kinh doanh máy biến áp tại Việt Nam
để từ đó thiết lập các tiêu chí và đánh giá các tiêu chí đó. Ưu điểm của hương
pháp này là đơn giản dễ thực hiện, tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm
là mức độ chuẩn xác thường không ở mức độ cao so với việc khảo sát thực tế vì nó
xuất phát từ ý chí chủ quan của các chuyên gia. Mặc dù vậy phương pháp này cũng
đủ để xây dựng một chiến lược kinh doanh tốt.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và suy luận logic : để tổng hợpnhững

số liệu, dữ kiện nhằm xác định những mục tiêu cũng như việc lựa chọn những
phương án, giải pháp chiến lược. Bên cạnh đó cũng sử dụng thêm phương pháp điều
tra thực tế : để tìm hiểu khả năng đáp ứng nhu cầu và lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp.

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học : Hoạch định chiến lược là một phương pháp hữu hiệu để
doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời xác định đường lối riêng
của mình nhưng cũng do nhiều lý do khác nhau mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam
chưa quan tâm và vận dụng đúng mức.Thực tế hiện nay, rất ít doanh nghiệp Việt
Nam tiến hành hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp mình
một cách nghiêm túc, khoa học và lâu dài. Do vậy, đề tài này sẽ trình bày một
phương pháp tiếp cận để hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp và vận dụng

vào điều kiện cụ thể của Công ty Phương Anh, từ đó góp phần đem lại những kinh
nghiệm hoạch định chiến lược phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn :Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các chiến lược kinh
doanh của Công ty giúp cho Công ty có được tầm nhìn cụ thể hơn về môi trường
kinh doanh của mình, từ đó nhận ra những cơ hội và thách thức cũng như điểm
mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của vấn đề của Công ty để có những chiến lược
kinh doanh cụ thể trong quá trình phát triển của mình.
Luận văn có một vài kiến nghị và đề xuất các giải pháp, làm cơ sở thực tiễn
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong nghành và đảm bảo thích ứng trong điều
kiện hiện nay.
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 4


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

6. Kết cấu của luận văn
Để luận văn đạt được các mục đích chính mà tác giả đã lựa chọn khi nghiên
cứu đề tài thì ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì có thêm những sơ đồ và bảng
biểu minh họa, các tài liệu tham khảo.
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh.
Chương II: Phân tích các căn cứ xây dựng chiến lược kinh doanh cho công
ty Phương Anh.
Chương III: Đề xuất giải pháp chiến lược kinh doanh của Công ty Phương
Anh.

Luận văn Thạc sĩ QTKD


Trang 5


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1.1. Tổng quan về chiến lược và quản trị chiến lược kinh doanh
1.1.1. Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Một chiến lược kinh doanh hiệu quả kèm theo việc xuất hiện xuất sắc là sự
đảm bảo tốt nhất cho thành công của mội doanh nghiệp. Một doanh nghiệp tồn tại
trong một môi trường thay đổi gồm những thay đổi như: công nghệ, các giá trị xã
hội, tập quán tiêu dùng, các điều kiện kinh tế, các chính sách và thậm chí cả các
chuẩn mực về ô nhiễm môi trường thì có thể gặp những nguy cơ, thách thức cũng
như có thể gặp những cơ hội lớn. Vì vậy, đó cũng chính là lý do khiến cho mỗi
doanh nghiệp đều phải hoạch định chiến lược, lập kế hoạch để hành động có hiệu
quả trong hoạch định chiến lược, kế hoạch thực hiện chiến lược kinh doanh. Những
nguyên nhân thất bại thường gặp khi thực hiện chiến lược.
"Chiến lược" là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "Strategos" dùng trong
quân sự. Nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cũng cho rằng: chiến lược quân
sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế. Một xuất bản của từ điển Larous xem chiến
lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng .
Ngày nay, thị trường là nơi diễn ra cạnh tranh gay gắt, vì thế chiến lược cũng
được áp dụng trong các thuật ngữ kinh tế. Từ thập kỷ trước chiến lược được ứng
dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời
Tuy nhiên, quan niệm về chiến lược kinh doanh cũng được phát triển dần theo
thời gian và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có rất nhiều quan điểm về chiến lược
nhưng đều có nhận định chung coi chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật để gành
thắng lợi trong cạnh tranh.
- Theo Micheal Porter: "Chiến lược tính doanh là một nghệ thuật xây dựng

các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ ".
- Theo K.Ohmae: "Mục đích của chiến lược là mang lại những điều thuận lợi
nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng ranh giới
của sự thỏa hiệp" và ông nhấn mạnh "Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần
chiến lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi bền vững
đối với đối thủ cạnh tranh".
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 6


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Theo nhiều nhận định đã nghiên cứu của các tác giả thì lại cho rằng chiến
lược là tập hợp các kế hoạch chiến lược làm cơ sở hướng dẫn các hoạt động:
- Theo Alfred Chandler (trường đại học Harward): "Chiến lược kinh doanh
bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành, đồng thời lựa chọn
cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện
các mục tiêu đó".
Theo quan điểm của chiến lược thì có thể định nghĩa chiến lược kinh doanh như
sau: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là trong điều kiện kinh tế thị trường,
căn cứ vào điều kiện khách quan và chủ quan, vào nguồn lực mà doanh nghiệp có thể
định ra mưu lược biện pháp đảm bảo sự tồn tại, phát triển ổn định, lâu dài theo mục
tiêu phát triển mà doanh nghiệp đã đặt ra.
Chiến lược kinh doanh cho thấy rằng kế hoạch hoạt động của đơn vị hoạt
động sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều mục tiêu, nhiều giải pháp và nhiều biện
pháp để đạt được mục tiêu đã đề ra. Chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp
đạt được mục tiêu trước mắt, lâu dài và tầm nhìn cho các năm tiếp theo là một điều
hết sức quan trọng và cần thiết. Mục đích của việc hoạch định chiến lược kinh doanh
là "dự kiến tương lai trong hiện tại”. Dựa vào chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý

có thể lập các kế hoạch cho những năm tiếp theo. Tuy nhiên quá trình hoạch định
chiến lược cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh trong từng chu kỳ đi. Một
chiến lược vững mạnh luôn cần đến khả năng điều chỉnh linh hoạt, sử dụng được các
nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng.
Như vậy, có thể hiểu chiến lược là phương pháp mà các công ty sử dụng để
định hướng tương lai nhằm đạt được những thành công. Chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp chính là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối
hợp các hoạt động của các đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh
nghiệp.

1.1.2 Các yêu cầu của chiến lược kinh doanh
Để trả lời cho câu hỏi là tại sao phải hoạch định chiến lược thì ta phải biết
được các yêu cầu của chiến lược như thế nào? Thì chiến lược kinh doanh cần phải
đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 7


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Chiến lược kinh doanh luôn luôn phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản mà
doanh nghiệp mong muốn đạt được trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực cụ thể trong
hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh phải phù hợp với nội dung, mục tiêu của chiến lược
kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp cụ thể.
- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo huy động tối đa và kết hợp một cách
tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong kinh doanh
nhằm phát huy được những lợi thế, nắm bắt những cơ hội để giành lợi thế trong cạnh

tranh.
- Chiến lược kinh doanh phải có tính linh hoạt đáp ứng theo sự thay đổi của
môi trường kinh doanh nói riêng và thay đổi của nền kinh tế nói chung.
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh trong một quá trình
liên tục và dài lâu từ việc xây dựng kế hoạch cho đến việc thực hiện, đánh giá, kiểm
tra và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.

1.1.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với các doanh nghiệp
Nhà lãnh đạo và nhà nghiên cứu có thể đưa ra nhiều lý do là tại sao các doanh
nghiệp khác nhau đều tiến hành hoạch định chiến lược kinh doanh. Một trong những
lý do mà Glueck đưa ra là:
+ Điều kiện của hầu hết công việc kinh doanh thay đổi quá nhanh mà hoạch
định chiến lược chỉ là một cách để đổi lại những khó khăn và cơ hội trong tương lai.
+ Hoạch định chiến lược cung cấp cho mọi thành viên của doanh nghiệp
những mục tiêu và phương hướng cụ thể của doanh nghiệp trong tương lai.
+ Hoạch định chiến lược là một cơ sở để điều khiển và đánh giá việc quản lý.
+ Các tổ chức và các nhân có hoạch định chiến lược sẽ thành công và đạt
hiệu qua cao hơn là không hoạch định.
Chính vì vậy mà hoạch định có vai trò vô cùng quan trong đối với mỗi doanh nghiệp:
- Giúp doanh nghiệp nhận rõ mục đích, hướng đi của mình trong từng thời kỳ,
là kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Nó giúp doanh nghiệp có thể chủ động hơn thay
vì bị động trong việc vạch rõ tương lai của mình.
- Làm cho mọi thành viên của doanh nghiệp hiểu và nắm vững được những
việc phải làm và cam kết thực hiện nó. Điều đó có thể tạo sự ủng hộ và phát huy
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 8


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội


năng lực sẵn có của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp, làm rõ trách nhiệm của
từng bộ phận.
- Giúp doanh nghiệp khai thác những ưu thế cạnh tranh trên thương trường để
tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó các thành viên có thái độ tích cực với những sự thay
đổi từ môi trường bên ngoài.
- Giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế của mình trên thương trường như tổ chức
các sự kiện, quảng bá thương hiệu, tham gia vào các tổ chức trong và ngoài nước,
các tổ chức nhân đạo,... những điều này cũng là cơ hội tạo cho doanh nghiệp một sức
mạnh cạnh tranh vô hình của mỗi doanh nghiệp.
- Làm giảm tối thiểu các rủi ro, nguy cơ tiềm tàng đối với các doanh nghiệp.
- Là cơ sở, căn cứ để lựa chọn phương án kinh doanh, phương án đầu tư, đổi
mới công nghệ, mở rộng thị trường, . . .
Như vậy doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển lâu dài trong tương lai đáp ứng
được yêu cầu của xã hội, ứng phó được những thay đổi thường xuyên diễn ra trên thị
trường, muốn giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến lược
kinh doanh phù hợp. Điều đó một lần nữa khẳng định: Chiến lược kinh doanh là yếu
tố không thể thiếu đối với sự tồn tại của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.

1.1.4 . Quản trị chiến lược
1.1.4.1 Khái niệm, vai trò của quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược có thể định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết
lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ
chức đạt được các mục tiêu đề ra. Quản trị chiến lược tập trung vào việc hợp nhất
việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ
thống thông tin các lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức.
Quản trị chiến lược là một quá trình kết hợp trực giác và phân tích để tiếp cận
thiết thực, hợp lý và có hệ thống đến việc đưa ra những quyết định chủ yếu trong tổ
chức. Tổ chức thông tin lượng và chất theo cách thức cho phép đưa ra được các
quyết định trong những điều kiện không chắc chắn.

Dựa trên kinh nghiệm đã qua, sự suy xét và cảm tính, trực giác là thiết yếu
trong việc đưa ra các quyết định chiến lược tốt. Những tình huống này cho thấy bản
chất và trung tâm điểm của quản trị chiến lược. Phần lớn các tổ chức có thể làm lợi từ
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 9


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

việc quản trị chiến lược dựa trên sự kết hợp, bổ sung giữa trực giác và phân tích trong
việc ra quyết định.
Quản trị chiến lược phải là một quá trình mà con người đạt đến thành công.
Con người bao gồm các quản trị viên và những nhân viên, chính là những người tạo
ra sự khác biệt.
Quản trị chiến lược phải thích nghi với sự thay đổi bởi dựa trên cơ sở niềm tin
rằng các tổ chức sẽ liên tục kiểm soát những biến cố bên trong và bên ngoài để có
thể tiến hành những thay đổi khi cần thiết. Tốc độ và mức độ của những thay đổi ảnh
hưởng đến tổ chức đang tăng nhanh một cách đáng sợ. Vì vậy, để có thể tồn tại,
các tổ chức phải có khả năng nhạy bén nhận ra và thích nghi với sự thay đổi.
Trong thời kỳ kinh doanh khó khăn như hiện nay như môi trường kinh doanh
luôn thay đổi, lạm phát cao, cho vay tín dụng bị thắt chặt,... tạo cho doanh nghiệp
nhiều nguy cơ bất ngờ, quá trình quản trị chiến lược giúp chúng ta nhận biết được cơ
hội và nguy cơ trong tương lai, các doanh nghiệp xác định rõ hướng đi, vượt qua
những thử thách trong kinh doanh, vươn tới tương lai bằng nỗ lực của chính mình.
Các doanh nghiệp cần phải cố gắng chiếm được vị thế chủ động, tăng thêm khả năng
ngăn chặn những nguy cơ của tổ chức, tối thiểu hóa rủi ro. Việc nhận thức kết quả
mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên
nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công. Như vậy sẽ khuyến khích cả
hai nhóm đối tượng nói trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt

hơn phúc lợi lâu dài của doanh nghiệp .
Quá trình quản trị chiến lược giúp cho doanh nghiệp gắn kết được kế hoạch đề ra
và môi trường bên ngoài, sự biến động càng lớn doanh nghiệp càng phải cố gắng chủ
động. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình hệ
thống quản trị chiến lược có tính thích ứng, thay đổi cùng với sự biến động của thị
trường. Do vậy quản trị chiến lược đi theo hướng hành động hướng tới tương lai, không
chấp nhận việc đi theo thị trường, mà nó có tác động thay đổi môi trường kinh doanh.
Nhờ việc vận dụng quá trình quản trị chiến lược đã đem lại cho công ty thành
công hơn, do đoán được xu hướng vận động của thị trường, doanh nghiệp sẽ gắn liền
các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Thành quả thu được là
những con số về doanh thu, lợi nhuận và uy tín trên thị trường. . .
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 10


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Tóm lại, quản trị chiến lược là một sản phẩm của khoa học quản lý hiện đại dựa
trên cơ sở thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm của rất nhiều công ty. Tuy vậy mức độ
thành công của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào năng lực triển khai, thực hiện,
kiểm soát của hệ thống bên trong và được xem như là nghệ thuật trong quản trị kinh
doanh.

1.1.4.2 Quá trình quản trị chiến lược kinh doanh
Quản trị chiến lược gồm có ba giai đoạn:
Hình 1.1: Quá trình quản trị chiến lược kinh doanh

Hoạch định
chiến lược


Tổ chức
thực hiện

Đánh giá,
điều chỉnh

(Nguồn: Khái niệm về Quản trị chiến lược- RredR David, 2006 )

a. Hoạch định chiến lược
Thiết lập chiến lược gồm việc phát triển nhiệm vụ kinh doanh, xác định các
cơ hội, nguy cơ đến với tổ chức từ bên ngoài, chỉ rõ các điểm mạnh, điểm yếu bên
trong, thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra các chiến lược thay thế và chọn ra các
chiến lược đặc thù để theo đuổi.

b. Thực hiện chiến lược
Hình thành hoặc xây dựng chiến lược là chưa đủ đối với các nhân viên của tổ
chức mà cần phải thực hiện chiến lược. Thực hiện chiến lược là quá trình đưa những
chiến lược khác nhau của tổ chức vào thực thi. Các biện pháp thực hiện những cấp
khác nhau của chiến lược được gắn chặt với việc xây dựng chiến lược.

c. Đánh giá, điều chỉnh
Giai đoạn cuối của quản lý chiến lược là đánh giá chiến lược. Tất cả chiến
lược tùy thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi
đều đặn. Ba hoạt động chính yếu của giai đoạn này là:
- Xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại,
- §o lường các thành tích
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 11



Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Thực hiện các hoạt động điều chỉnh.
Giai đoạn đánh giá chiến lược v« cïng quan träng vì thành công hiện tại
không có nghĩa là đảm bảo cho thành công tương lai. Sự thành công hay thất bại
trong mỗi giai đoạn và mỗi thời kỳ đều khác nhau.

1.2. Hoạch định chiến lược kinh doanh
1.2.1. Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạch định chiến lược và theo sự nghiên
cứu của Michael Porter về chiến lược kinh doanh tác giả đã đưa ra các định nghĩa về
hoạch định chiến lược kinh doanh như sau:
Hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình tư duy nhằm tạo lập chiến
lược kinh doanh trên cơ sở nghiên cứu và dự báo các thông tin cơ bản về môi trường
kinh doanh. Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm vào một thời gian dài do vậy nó
phải dựa trên cơ sở dự báo dài hạn. Hoạch định chiến lược kinh doanh cũng là giai đoạn
khởi đầu của quá trình hoạch định trong doanh nghiệp đồng thời là một chức năng của
quản trị chiến lược. Giai đoạn hoạch định chiến lược kinh doanh bao gồm việc phát triển
nhiệm vụ, chức năng, xác định cơ hội và nguy cơ, chỉ rõ điểm mạnh, yếu, thiết lập các
mục tiêu chiến lược, nghiên cứu các giải pháp chiến lược và chọn lựa giải pháp chiến
lược để theo đuổi. Hoạch định chiến lược không những phác thảo tương lai cho doanh
nghiệp cần đạt tới mà còn phải vạch ra các con đường để đạt tới tương lai đó.
Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh chủ yếu tập trung làm rõ mục
tiêu mà doanh nghiệp cần vươn tới, đồng thời dự kiến các phương thức để đạt được
các mục tiêu này. Hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một giai
đoạn không thể tách rời của quá trình quản trị chiến lược: hoạch định chiến lược,
thực hiện chiến lược, kiểm soát chiến lược. Đây là một quá trình liên tục trong đó
các giai đoạn có tác động qua lại với nhau tạo thành một chu kỳ chiến lược.


1.2.2 Trình tự, nội dung các bước hoạch định chiến lược kinh doanh
Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh gồm 5 bước: Thiết lập mục tiêu,
đánh giá vị trí hiện tại, phân tích môi trường kinh doanh, chuẩn bị và thực hiện kế
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 12


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

hoạch chiến lược, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch. Các bước hoạch định chiến lược
tại bảng 1.1.
Bảng 1.1: Các bước hoạch định chiến lược
Bước 1: Xác định mục tiêu chiến lược
Bước 2: Đánh giá vị trí hiện tại của Công ty
Bước 3: Phân tích môi trường kinh doanh
Phân tích môi trường bên trong
Phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp
doanh nghiệp
Bước 4: Chuẩn bị và thực hiện kế hoạch chiến lược
Đưa ra giải pháp thực hiện Đưa ra các biện pháp Tính hiệu quả kinh tế của biện
cụ thể

pháp

Bước 5: Đánh giá và điều chỉnh kế hoạch
Đánh giá lại quá trình thực Điều chỉnh kế hoạch Quyết định áp dụng kế
hiện kế hoạch


chiến lược

hoạch chiến lược

(Nguồn: Khái niệm về Quản trị chiến lược- RredR David, 2006 )

1.2.3 Xác định nhiệm vụ hay sứ mạng của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều có nhiệm vụ hay sứ mạng nhất định, tất cả các hoạt
động của doanh nghiệp đều phải hướng đến nhiệm vụ của mình. Chính vì vậy chiến
lược sản xuất kinh doanh cũng phải bắt nguồn từ nhiệm vụ của doanh nghiệp,
nhiệm vụ là cơ sở cho chiến lược kinh doanh và mục đích của chiến lược cũng là
nhằm hoàn thành nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Do đó việc đầu tiên của quá trình hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh
là phải xác định được nhiệm vụ hay sứ mạng của doanh nghiệp là gì?
a. Xác định mục tiêu chiến lược của Công ty
Xây dựng các mục tiêu hoặc là mục đích mà công ty mong muốn đạt được
trong tương lai. Các mục tiêu đó phải mang tính thực tế và được lượng hóa thể hiện
chính xác những gì công ty muốn thu được. Trong quá trình hoạch định chiến lược,
các mục tiêu đặc biệt cần là: doanh thu, lợi nhuận, thị phần, tái đầu tư, uy tín….
- Nguyện vọng của cổ đông.
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 13


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Khả năng tài chính
- Cơ hội…
Hệ thống mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được phân loại theo các căn cứ sau:

- Vị trí đầu tiên của mục tiêu: thông thường với doanh nghiệp mục tiêu chủ
yếu là lợi nhuận. Các mục tiêu thứ cấp như là thị phần, đổi mới năng suất, kết quả
công việc, sự phát triển của bộ phận quản lý, thái độ của người lao động, trách nhiệm
với xã hội . . .
- Thời gian: có mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Các bộ phận, nhóm khác nhau trong doanh nghiệp: gồm mục tiêu của các cổ đông,
mục tiêu của ban giám đốc, mục tiêu của người lao động, mục tiêu của công đoàn.
- Theo các loại chiến lược tương ứng: mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp,
mục tiêu của đơn vị trực thuộc, mục tiêu chức năng như thương mại, sản xuất tài
chính, nhân lực…
Nhiệm vụ hay là sứ mệnh của doanh nghiệp mang tính tổng quát, còn mục
tiêu là cụ thể hóa nhiệm vụ hay sứ mệnh của doanh nghiệp, ví dụ nhiệm vụ của một
ngân hàng là huy động vốn và cho vay, thì mục tiêu cụ thể hóa nhiệm vụ ở đây là
huy động và cho vay bao nhiêu, trong thời gian bao lâu? S ố lượng và đối tượng
khách hàng là ai?…
Mục tiêu được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ hay là sứ mệnh của doanh
nghiệp và các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Mục tiêu
phải phù hợp với các điều kiện cả khách quan và chủ quan, tức là cần phải được cân
nhắc xây dựng và điều chỉnh dựa trên cơ sở các yếu tố môi trường cả bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp.
b. Đánh giá vị trí hiện tại của Công ty
Có hai lĩnh vực cần đánh giá: đánh giá môi trường kinh doanh và đánh giá nộilực:
- Đánh giá môi trường kinh doanh: Nghiên cứu môi trường kinh doanh để xác
định xem yếu tố nào trong môi trường hiện tại đang là nguy cơ hay cơ hội cho mục
tiêu và chiến lược của công ty. Đánh giá môi trường kinh doanh gồm một sô các yếu
tố như: kinh tế, các sự kiện công nghệ, áp lực thị trường, quan hệ và xã hội.
- Đánh giá nội lực: Phân tích đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu của công
ty về các mặt sau: Quản lý, Marketing, tài chính, hoạt động sản xuất, nghiên cứu và
Luận văn Thạc sĩ QTKD


Trang 14


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

phát triển.
Sau khi hoàn thành bước đánh giá, nhà hoạch định sẽ chuyển sang giai đoạn
lựa chọn. Để có được lựa chọn, cần cân nhắc các biến nội lực cũng như các biến
khách quan. Sự lựa chọn thông thường là rõ ràng từ tất cả những thông tin có liên
quan trong các phần đánh giá của quá trình hoạch định. Tuy nhiên, để có được sự lựa
chọn, mỗi dự án phải được xem xét theo các phần chi phí, sử dụng các nguồn lực
khan hiếm, thời gian - tiến độ và liên quan tới khả năng chi trả.

1.3. Phân tích môi trường kinh doanh của công ty
Bất kể một doanh nghiệp hay một ngành sản xuất kinh doanh nào cũng đặt
trong một môi trường nhất định, bao hàm cả các yếu tổ chủ quan.
Môi trường kinh doanh của công ty bao gồm: Môi trường bên ngoài doanh
nghiệp và môi trường bên trong doanh nghiệp. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp
gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô (môi trường ngành).
Bất kể một doanh nghiệp hay một ngành sản xuất kinh doanh nào cũng đặt
trong một môi trường nhất định, bao hàm cả các yếu tổ chủ quan (môi trường bên
trong) và các yếu tố khách quan (môi trường bên ngoài). Để phân tích các yếu tố
môi trường bên trong và bên ngoài, chúng ta có thể sử dụng các số liệu có sẵn hoặc
qua khảo sát nghiên cứu từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Hình 1.2: Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường vĩ mô
Môi trường vi mô
Môi trường nội bộ
(Nguồn: Khái niệm về Quản trị chiến lược- RredR David,


Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 15


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.3.1. Môi trường vĩ mô
1.3.1.1 Môi trường kinh tế
+ Những ảnh hưởng của nền Chính trị thế giới: Không phải chỉ thay đổi nền
chính trị thế giới, từng khu vực mà ngay cả sự thay đổi thể chế chính trị của một
nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở các nước khác
đang có quan hệ làm ăn kinh tế với nước đó. Sở dĩ như vậy vì mọi sự thay đổi về
chính trị của một nước ít nhiều đều dẫn đến các thay đổi trong quan hệ kinh tế với
các nước khác.
+ Các quy luật về pháp luật của mỗi quốc gia, thông lệ thế giới: Luật pháp của
mỗi quốc gia là nền tảng tạo ra môi trường kinh doanh của nước đó. Các quy định
luật pháp của mỗi nước cũng tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh tại quốc gia đó.
Môi trường kinh doanh quốc tế và tại từng khu vực lại phụ thuộc vào luật pháp và
các thông lệ quốc tế của từng khu vực đó. Việt Nam là một thành viên của ASEAN,
tham gia vào các thỏa thuận khu vực thương mại tự do theo lộ trình CEPT/AFFTA.
Các thỏa thuận này vừa tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam được
giao lưu kinh tế, mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp ở các nước trong khu vực,
đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư ra
nước ngoài; tuy nhiên nó cũng đưa các doanh nghiệp trong nước đứng trước thử
thách cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế: Sự đi lên hay suy thoái của nền kinh tế
như: GDP, nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân bình quân đầu người/năm,

tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chỉ số
chứng khoán, tỷ lệ thất nghiệp, việc làm, đầu tư nước ngoài… Mỗi yếu tố kinh tế nói
trên đều có thể là cơ hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở mọi quốc gia tham gia vào quá trình
toàn cầu hóa nền kinh tế. Việc phân tích các yếu tố của môi trường kinh tế giúp cho
các nhà quản lý tiến hành các dự báo và đưa ra kết luận về những xu thế chính của sự
biến đổi môi trường tương lai, là cơ sở cho các dự báo ngành và dự báo thương mại.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố Khoa học công nghệ: Kỹ thuật công nghệ tác động
trực tiếp đến cả việc sử dụng các yếu tố đầu vào, nó ảnh hưởng đến năng suất, chất
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 16


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

lượng, giá thành,.. nên là nhân tố tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của
mọi doanh nghiệp.

1.3.1.2. Môi trường chính trị
Các yếu tố chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh
nghiệp. Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuê mướn, cho vay, an toàn,
vật giá, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường.
Đồng thời hoạt động của chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ. Thí
dụ, một số chương trình của chính phủ như biểu thuế hàng ngoại nhập cạnh tranh,
chính sách miễn giảm thuế tạo cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng hoặc cơ hội tồn
tại. Ngược lại, việc tăng thuế trong các ngành công nghiệp nhất định như trò chơi
điện tử, game online có thể đe doạ đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động được là vì điều kiện xã hội cho phép.
Chừng nào xã hội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhất định,

thì xã hội sẽ rút lại sự cho phép đó bằng cách đòi hỏi chính phủ can thiệp bằng chế
độ chính sách hoặc thông qua hệ thống pháp luật. Thí dụ, mối quan tâm của xã hội
đối với vấn đề ô nhiễm môi trường hoặc tiết kiệm năng lượng được phản ánh trong
các biện pháp của chính phủ. Xã hội cũng đòi hỏi có các quy định nghiêm ngặt bảo
đảm các sản phẩm tiêu dùng được sử dụng an toàn. Vấn đề then chốt là chỉ tuân thủ
các quy định hiện hành vẫn chưa đủ mà các doanh nghiệp còn phải tính đến việc tự
mình gây ảnh hưởng đối với các quy định có thể được ban hành. Việc tự mình đặt ra
các quy định còn cần thiết hơn so với các quy định của chính phủ.
Trong việc hoạch định chiến lược của doanh nghiệp, tình hình chính trị, sự ổn
định của chính phủ có ý nghĩa rất quan trọng. Chính phủ và chính quyền địa phương
là người điều hành đất nước, đề ra các chính sách, luật lệ, đồng thời cũng là khách
hàng lớn của các doanh nghiệp, các yếu tố sau đây cần phải được phân tích khi
hoạch định chiến lược:
- Sự ổn định của hệ thống chính trị, thể chế, ảnh hưởng của các đảng phái đến
chính phủ, các xung đột chính trị...
- Hệ thống luật pháp nói chung và các luật có liên quan đến kinh doanh, luật
bảo vệ môi trường, chính sách thuế, bảo hộ mậu dịch, bảo vệ quyền kinh doanh hợp
pháp, bản quyền, thừa nhận sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 17


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Nhà nước, các luật chống độc
quyền, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nước ngoài...
- Quan hệ giữa các tổ chức đoàn thể, chính trị, giữa chính quyền các địa phương
với chính phủ trung ương..


1.3.1.3..Môi trường xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các
cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Tuy nhiên các yếu tố xã hội như xu hướng nhân
chủng học, sở thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức và quan điểm về mức sống,.
..thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khi thường khó nhận biết thí dụ như
hiện nay có một số lượng lớn lao động là nữ giới, điều này do quan điểm của nam
giới cũng như nữ giới đã thay đổi, nhưng rất ít doanh nghiệp nhận ra sự thay đổi
quan điểm này để dự báo tác động của nó và đề ra chiến lược tương ứng.
Nói chung, khi phân tích ảnh hưởng của các yếu tố xã hội tới việc hoạch định chiến
lược của doanh nghiệp, cần quan tâm phân tích các yếu tố sau:
- Chất lượng cuộc sống của dân cư, sở thích vui chơi giải trí của các tầng lớp xã hội.
- Các chuẩn mực về đạo đức và phong cách sống.
- Tình hình về nhân lực như: lực lượng lao động nữ, tình hình dự trữ lao động.
- Trình độ văn hoá và nghề nghiệp của dân cư và của người lao động.
- Truyền thống văn hoá và các tập tục xã hội.
- Các tôn giáo, vai trò các tôn giáo trong đời sống xã hội, các xung đột tôn giáo.
- Tình hình nhân khẩu: tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân cư.

1.3.1.4. Môi trường tự nhiên
Trong việc hoạch định chiến lược của doanh nghiệp, các yếu tố tự nhiên cũng
có những ảnh hưởng quan trọng do ngày nay người ta nhận thức rất rõ ràng: Các
hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên của con người đã làm thay đổi rất nhiều
hoàn cảnh tự nhiên.
Về mặt tích cực, con người đã xây dựng những cơ sở hạ tầng như cầu đường,
sân bay, bến cảng, viễn thông, làm điều kiện tự nhiên có những thay đổi tốt lên.
Nhưng ngược lại thì làm cho môi trường sống xấu thêm rất nhiều.
Bởi vậy, chính phủ và công chúng đòi hỏi hoạt động của các doanh nghiệp
không được làm ô nhiễm môi trường, không làm mất cân bằng sinh thái, không làm
lãng phí tài nguyên thiên nhiên.
Luận văn Thạc sĩ QTKD


Trang 18


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Do đó, phân tích môi trường thiên nhiên, nhà chiến lược phải quan tâm đến
những vấn đề sau:
- Điều kiện địa lý thuận lợi hay khó khăn?
- Dự trữ tài nguyên làm nguyên liệu hoạt động của doanh nghiệp như thế nào?
- Nguồn cung cấp năng lượng và nước có dồi dào không?
- Các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường và tài nguyên.

1.3.1.5. Môi trường công nghệ
Đây là một nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh của
các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp. Thực tế trên thế giới đã chứng
kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh vực, nhưng
đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc hoàn thiện hơn.
Ngày nay kỹ thuật – công nghệ phát triển rất nhanh đã chi phối mạnh mẽ sự
phát triển kinh tế của nhiều nước theo hướng càng đổi mới công nghệ nhanh thì hiệu
quả trong sản xuất kinh doanh càng cao. Bởi vì, một công nghệ mới ra đời ưu việt
hơn bao giờ cũng gây ra sự suy vong của công nghệ cũ.
Đối với các doanh nghiệp, các yếu tố công nghệ như: Bản quyền, đổi mới công
nghệ, khuynh hướng tự động hoá, điện tử hoá, tin học hoá... sẽ làm cho chu kỳ sống
của sản phẩm bị rút ngắn rất nhiều, sản phẩm mới ra đời có tính năng tác dụng tốt
hơn nhưng chi phí sản xuất lại thấp hơn. Bởi vậy, để hạn chế nguy cơ tụt hậu về công
nghệ và chớp cơ hội trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá
hiệu quả công nghệ đang sử dụng, theo dõi sát sao diễn biến sự phát triển của công
nghệ và thị trường công nghệ, tập trung ngày càng nhiều cho hoạt động nghiên cứu
và phát triển.


1.3.1.6. Phương pháp phân tích môi trường vĩ mô
Trong các yếu tố môi trường bên ngoài, thì yếu tố cạnh tranh là yếu tố quan trọng
nhất. Ma trận hình ảnh cạnh tranh giúp nhận diện các đối thủ cạnh tranh chủ yếu và
những ưu, khuyết điểm của họ từ đó giúp doanh nghiệp có chiến lược phù hợp.
Để phân tích môi trường vĩ mô người ta thường dùng Ma trận đánh giá các yếu
tố bên ngoài. Ma trận này cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông
tin kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, tự nhiên, công nghệ, các yếu tố hội nhập có ảnh
hưởng đến doanh nghiệp.
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 19


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trong ma trận này có điểm lưu ý sau:
- Tổng số các mức phân loại tầm quan trọng phải bằng 1 .
- Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà tổ chức có thể đạt được là 4 và thấp nhất
là 1. Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5. Tổng số điểm quan trọng bằng 4 cho
thấy tổ chức đang phản ứng rất tốt với các cơ hội và đe dọa từ môi trường kinh
doanh. Nếu tổng số điểm bằng 1 thì ngược lại.
- Các yếu tố môi trường sẽ hình thành các tiền đề của kế hoạch chiến lược, đó là
những căn cứ quan trọng để vạch ra chiến lược.
- Các yếu tố môi trường vĩ mô cũng hình thành những cơ hội và nguy cơ mà nhà
chiến lược cần phát hiện sớm để có chiến lược thích nghi.
- Phân tích môi trường vĩ mô không những chỉ để biết cái quá khứ và hiện tại, mà
điều quan trọng hơn là để dự đoán cho tương lai mà trong hoàn cảnh đó chiến lược
của doanh nghiệp phải thích ứng.
Bảng 1.2: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài - Ma trận EFE


Mức quan trọng
Các yếu tố bên

Số điểm
Phân loại các yếu tố đối với

của các yếu tố đối

quan

ngoài chủ yếu

công ty
với ngành

1

trọng

2

3

4

Liệt kê các cơ

Mức quan trọng


Phân loại các yếu tố tác động (2) x (3)

hội và nguy cơ

của mỗi yếu tố có

đến công ty có giá trị:

chủ yếu từ môi

giá trị từ 0.0

4. Phản ứng tốt

trường bên ngoài (Không quan trọng) 3. Phản ứng trên trung bình

Tổng cộng

đến 1.0 (Rất quan

2. Phản ứng trung bình

trọng)

1. Ít phản ứng

1.0

Tổng


(Nguồn: Khái luận về quản trị chiến lược Fred R David, 2006 trang 178)
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 20


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.3.2. Phân tích môi trường vi mô (môi trường ngành)
Môi trường ngành (vi mô) bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố
ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong
ngành sản xuất kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, khách hàng,
nhà cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Các yếu tố này có
quan hệ và tương tác lẫn nhau, ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự
thực phải chấp nhận đối với tất cả các doanh nghiệp, để đề ra một chiến lược thành
công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó. Sự hiểu biết các yếu tố này giúp
doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và
nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải. Các yếu tố môi trường ngành có thể khái
quát như Hình 1.3 Các yếu tố của môi trường ngành.
Luận văn sẽ lần lượt phân tích cụ thể từng yếu tố như trình bày dưới đây

1.3.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp đang hoạt động cùng ngành kinh
doanh với doanh nghiệp, hiện họ đang tìm cách tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi
nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp.
Vì dung lượng thị trường có hạn, các doanh nghiệp “cạnh tranh” giành nhau thị phần
bằng các biện pháp giảm giá, quảng cáo, khuyến mãi, thuyết phục khách hàng, cải
tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những nét khác biệt trong cung cấp sản
phẩm và dịch vụ, tạo ra giá trị cho khách hàng.
Mức độ cạnh tranh trong một ngành thể hiện qua 3 yếu tố cơ bản sau đây:

-Cơ cấu cạnh tranh: Đó là sự phân bổ số lượng các doanh nghiệp tầm cỡ trong
ngành kinh doanh đó theo quy mô, tiềm lực cạnh tranh, khu vực thị trường, thị
trường mục tiêu và thị phần nắm giữ… Một ngành bao gồm nhiều nhà cạnh tranh có
tiềm lực ngang nhau thường cạnh tranh khốc liệt.
- Nhu cầu thị trường và chu kỳ sống sản phẩm: Sự tăng giảm nhu cầu được coi
là nhân tố kích thích sự cạnh tranh trong ngành mạnh nhất. Nếu sản phẩm đang trong
giai đoạn phát triển của chu kỳ sống thì mức độ cạnh tranh sẽ không gay gắt, nhưng
nếu nhu cầu chững lại hoặc có chiều hướng làm suy giảm sản lượng của nhà sản xuất
khác thì cường độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn.

Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 21


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Rào chắn ra khỏi ngành: Mỗi ngành sản xuất có các yếu tố tạo nên rào chắn
nhập ngành thì cũng có các yếu tố tạo ra rào chắn ngăn cản không cho doanh nghiệp
ra khỏi ngành. Rào chắn ra khỏi ngành càng cao thì mật độ cạnh tranh càng lớn và
ngược lại. Rào chắn ra khỏi ngành có thể là kỹ thuật, tâm lý, xã hội, pháp lý hoặc
chiến lược.

Hình 1.3: Các yếu tố của môi trường ngành
Đối thủ cạnh tranh
tiềm ẩn

Sự đe dọa
của người
nhập mới


Nhà cung cấp

Quyền đàm
phán của
nhà cung
cấp

Đối thủ cạnh
tranh hiện có

Quyền đàm
phán của
khách hàng

Cường độ cạnh
tranh

Khách hàng

Sự đe dọa của
sản phẩm/dịch
vụ thay thế

Sản phẩm thay thế

(Nguồn: Thomas L.Wheelen and J.David Hunger, “Strategic management and
business policy”, 8th edition, 2002, Prentice Hall, p61)

1.3.2.2. Phân tích áp lực của khách hàng

Khách hàng là những người trực tiếp tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, là
yếu tố quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục tiêu của kinh doanh phải
đảm bảo lợi ích cho khách hàng và tìm mọi biện pháp để thỏa mãn cao nhất nhu cầu
của khách hàng. Tuy nhiên trong khi tiêu dùng sản phẩm, khách hàng thường sử
dụng quyền lực của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho người bán về giá mua,
điều kiện giao hàng, chất lượng sản phẩm, điều kiện thanh toán,… tạo ra sức ép làm
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 22


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy khách hàng vừa là thượng đế, vừa là đối
thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, khách hàng đem đến cơ hội kinh doanh cho doanh
nghiệp nhưng cũng có thể lấy đi lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.3.2.3. Phân tích áp lực của nhà cung ứng
Các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như sản
phẩm, dịch vụ, dịch vụ vận chuyển… trong thương thuyết kinh doanh cũng có thể
tạo ra những sức ép về giá, về phương thức cung cấp và phương thức thanh toán có
nguy cơ đe dọa lợi ích của doanh nghiệp. Nhưng nhiều khi cũng tạo ra những cơ hội
kinh doanh tốt cho công ty. Tạo ưu thế cạnh tranh trong quá trình cung cấp, liên
minh chiến lược, hợp đồng cung ứng là những giải pháp giảm bớt sức ép của yếu tố
môi trường này.

1.3.2.4. Phân tích các đối thủ tiềm ẩn
Ở những thị trường hấp dẫn, khả năng sinh lợi cao, trong tương lai gần sẽ xuất
hiện các đối thủ cạnh tranh mới, tuy hiện tại chưa có mặt họ nhưng nhà chiến lược
phải nhìn thấy trước khả năng này, các đối thủ cạnh tranh này tuy xuất hiện muộn

nhưng thường có nguồn lực dồi dào, lại có kinh nghiệm. Khi họ đã xuất hiện thì họ
sẽ cạnh tranh với doanh nghiệp trên 3 mặt sau:
- Giành giật thị trường tiêu thụ sản phẩm bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.
- Tranh thu mua nguồn nguyên liệu với doanh nghiệp bằng những chính sách
mềm dẻo, hấp dẫn hơn.
- Lôi kéo lực lượng lao động có trình độ và tay nghề giỏi bằng các chính sách
đãi ngộ hấp dẫn...
Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng sẽ gặp đối thủ tiềm tàng,
nhưng khi phân tích môi trường kinh doanh phải tính đến họ, và nếu có, thì phải tìm
cách tạo ra các rào chắn vô hình hợp pháp để bảo vệ vị thế cạnh tranh hiện tại của
doanh nghiệp. Ví dụ như: dựa trên lợi thế về sự có mặt tại thị trường từ lâu, quy mô
lớn, doanh nghiệp có thể giảm giá bán, thiết lập kênh tiêu thụ hữu hiệu bằng một số
chính sách khôn khéo...

1.3.2.5. Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế
Một sản phẩm hay dịch vụ làm thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng
trên thị trường không phải là duy nhất, và giữ được vai trò đó mãi, một ngày nào đó
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 23


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

sẽ có sản phẩm thay thế nó. Sản phẩm thay thế là sản phẩm của các nhà sản xuất
khác có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách hàng đang dùng sản phẩm của doanh
nghiệp. Thường các sản phẩm mới thay thế này nhờ những cải tiến, sáng kiến, áp
dụng những thành tựu mới của khoa học – công nghệ cho nên có ưu điểm là thoả
mãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng nhưng giá rẻ hơn.
Sức ép của sản phẩm mới thay thế làm hạn chế khả năng làm ra lợi nhuận của

sản phẩm hiện có và thu hẹp thị phần của doanh nghiệp, đẩy sản phẩm hiện có nhanh
đến thời kỳ suy thoái, vì thế để hạn chế ảnh hưởng của nguy cơ này thì doanh nghiệp
cũng phải đầu tư thích đáng vào nghiên cứu và phát triển.

1.3.3. Phân tích nội bộ doanh nghiệp
Đánh giá tác động bên trong doanh nghiệp là nghiên cứu những gì thuộc về
bản thân doanh nghiệp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản xuất kinh
doanh với những đặc trưng mà nó tạo ra. Thực chất là đi phân tích, đánh giá nhằm
tìm ra điểm mạnh, điểm yếu quan trọng của các bộ phận chức năng, đánh giá mối
quan hệ giữa các bộ phận này của doanh nghiệp.

1.3.3.1. Hoạt động Marketing
Có thể hiểu marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn
những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi (Philip Kotler).
Mục tiêu của công tác marketing là thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn
của khách hàng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đảm bảo cung cấp sản
phẩm hoặc dịch vụ ổn định với chất lượng theo yêu cầu của sản xuất và giá cả
phù hợp giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi
nhuận cao trong dài hạn.
Phân tích yếu tố Marketing để hiểu được nhu cầu, thị hiếu, sở thích của thị
trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu của sản phẩm, định giá, giao tiếp phân
phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.

1.3.3.2. Hoạt động quản trị
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ mật thiết và
phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những trách nhiệm và quyền
hạn nhất định, được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị của
doanh nghiệp.
Luận văn Thạc sĩ QTKD


Trang 24


Viện Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Các doanh nghiệp luôn phải chú trọng hai vấn đề chính là luôn đánh giá đúng
thực trạng cơ cấu tổ chức trên cả hai mặt là hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của
nó và khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường
kinh doanh. Ngoài ra doanh nghiệp phải chú ý đánh giá hiệu quả của cơ cấu tổ chức
thông qua các chỉ tiêu: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác của các
quyết định.
Khi tiến hành tìm hiểu các thông tin về cơ cấu tổ chức, các nhà hoạch định chiến
lược còn cần xem xét đến các thông tin về nề nếp tổ chức, văn hóa của doanh nghiệp
cụ thể như sau:
- Thực trạng của cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại của doanh nghiệp trên 2 mặt:
hệ thống tổ chức và quy chế hoạt động.
- Khả năng thích ứng của tổ chức trước các biến động của môi trường và điều
kiện kinh doanh.

1.3.3.3. Lực lượng lao động
Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp. Toàn bộ lực lượng
lao động của doanh nghiệp bao gồm cả lao động quản trị, lao động nghiên cứu và
phát triển, lao động kỹ thuật trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất. Đây là
nhân tố tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động của
doanh nghiệp. Chính vì vậy doanh nghiệp cần chú trọng đảm bảo số lượng, chất
lượng và cơ cấu của các loại lao động.
Các thông tin cần thu thập để hoạch định chiến lược không chỉ là những thông
tin về nguồn nhân lực hiện tại mà còn là những dự báo các nguồn nhân lực tiềm ẩn.
Để làm được điều đó cần có thông tin dự báo ở giai đoạn tương lai thích hợp về quy
mô, đặc điểm của thị trường lao động gắn với lực lượng lao động, thông tin về năng

lực và chi phí kinh doanh sử dụng lao động.
Chiến lược nguồn nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào
độ kiến thức, khả năng, ý thức trách nhiệm của đội ngũ công nhân viên và
trình độ tổ chức của doanh nghiệp. Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải có
các chương trình kế hoạch toàn diện về nhân lực, chương trình đào tạo phát
triển nguồn nhân lực, xây dựng các chính sách sử dụng, khuyến khích đối
với cán bộ, công nhân viên.
Luận văn Thạc sĩ QTKD

Trang 25


×