Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

KLTN Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tỉnh quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 108 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
---------***--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị du lịch khách sạn

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH
TỈNH QUẢNG NINH
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Phương
Mã sinh viên: 1210283026
Lớp: Anh 9 – Quản trị Du lịch và Khách sạn
Khóa: 51
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Hải
Chữ ký duyệt của GVHD

Quảng Ninh, tháng 4 năm 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
---------***--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị du lịch khách sạn

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH
TỈNH QUẢNG NINH
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Phương
Mã sinh viên: 1210283026
Lớp: Anh 9 – Quản trị Du lịch và Khách sạn


Khóa: 51
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Hải
Chữ ký duyệt của GVHD

Quảng Ninh, tháng 4 năm 2016


i

MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG BIỂU .......................................................................................iv
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÂM LINH.....................................4
1.1. Tổng quan về du lịch tâm linh..............................................................................4
1.1.1. Khái quát về du lịch .........................................................................................4
1.1.1.1. Một số khái niệm về du lịch..........................................................................4
1.1.1.2. Các loại hình du lịch ......................................................................................8
1.1.2. Khái quát về du lịch tâm linh ............................................................................9
1.1.2.1. Khái niệm văn hóa tâm linh ...........................................................................9
1.1.2.2. Khái niệm du lịch tâm linh...........................................................................10
1.1.2.3. Đặc trưng du lịch tâm linh ...........................................................................12
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tâm linh .....................................13
1.2.1. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài ........................................................13
1.2.1.1. Môi trường chính trị, pháp luật ....................................................................13
1.2.1.2. Môi trường văn hóa, xã hội..........................................................................15
1.2.1.3. Môi trường tự nhiên .....................................................................................16
1.2.1.4. Môi trường kinh tế .......................................................................................17
1.2.1.5. Cầu du lịch tâm linh của khách du lịch........................................................18
1.2.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong ........................................................19

1.2.2.1. Qui hoạch, chiến lược và chính sách về du lịch tâm linh ............................19
1.2.2.2. Tài nguyên du lịch tâm linh .........................................................................20
1.2.2.3. Nguồn lao động du lịch tâm linh..................................................................22


ii
1.2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch tâm linh........................23
1.2.2.5. Tổ chức, quản trị du lịch của các doanh nghiệp...........................................26
1.3. Vai trò của du lịch tâm linh................................................................................27
1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch tâm linh trong và ngoài nước và một số bài học
cho tỉnh Quảng Ninh .................................................................................................28
Tóm tắt chương I.......................................................................................................31
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DU LỊCH TÂM LINH CỦA TỈNH QUẢNG NINH
...................................................................................................................................32
2.1. Tổng quan về tỉnh Quảng Ninh..........................................................................32
2.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tâm linh của tỉnh Quảng
Ninh...........................................................................................................................34
2.2.1. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài ........................................................34
2.2.1.1. Môi trường chính trị, pháp luật ....................................................................34
2.2.1.2. Môi trường văn hóa, xã hội..........................................................................36
2.2.1.3. Môi trường tự nhiên .....................................................................................39
2.2.1.4. Môi trường kinh tế .......................................................................................41
2.2.1.5. Nhu cầu du lịch tâm linh ..............................................................................44
2.2.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong ........................................................47
2.2.2.1. Định hướng qui hoạch, chiến lược và chính sách phát triển du lịch tâm linh
...................................................................................................................................47
2.2.2.2. Tiềm năng du lịch tâm linh ..........................................................................52
2.2.2.3. Nguồn lao động du lịch tâm linh..................................................................58
2.2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tâm linh.........................................61
2.2.2.5. Sản phẩm du lịch tâm linh đặc trưng ...........................................................64

2.3. Đánh giá hoạt động du lịch tâm linh của tỉnh Quảng Ninh ...............................68


iii
Tóm tắt chương II......................................................................................................70
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KHAI THÁC HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN DU
LỊCH TÂM LINH CỦA TỈNH QUẢNG NINH ......................................................71
3.1. Quan điểm và định hướng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 20152020, tầm nhìn 2030..................................................................................................71
3.2. Đề xuất phát triển du lịch tâm linh của tỉnh Quảng Ninh ..................................72
3.2.1. Đề xuất hoàn thiện quy hoạch, chiến lược và chính sách phát triển du lịch
tâm linh của tỉnh Quảng Ninh ...................................................................................72
3.2.2. Đề xuất khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tâm linh..................................74
3.2.3. Đề xuất hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực phục vụ du lịch
tâm linh......................................................................................................................76
3.2.4. Đề xuất hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch tâm linh ..............80
3.2.5. Đề xuất xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tâm
linh.............................................................................................................................83
3.2.6. Các đề xuất khác .............................................................................................88
Tóm tắt chương III ....................................................................................................89
KẾT LUẬN ...............................................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................92
PHỤ LỤC: Danh mục di tích lịch sử - văn hóa – danh thắng của tỉnh Quảng Ninh đã
xếp hạng cấp quốc gia ...............................................................................................95


iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục bảng
BẢNG 2.1: GDP bình quân đầu người của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015

...................................................................................................................................41
Bảng 2.2: Chỉ số năng lực cạnh tranh PCI tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015 43
Bảng 2.3: Chương trình đào tạo ngành du lịch của các trường đại học, trường đào
tạo nghề tại Quảng Ninh ...........................................................................................59
Bảng 2.4: Trình độ kỹ năng cần thiết tính đến 2020.................................................61
Bảng 2.5: Số doanh nghiệp trong ngành du lịch và một số ngành liên quan của tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2013 ...........................................................................63
Bảng 2.6: Tổng hợp tuyến du lịch tâm linh đại phương đã có quyết định công nhận
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ....................................................................................64
Danh mục hình
Hình 1.1: Các tiêu chí phân loại du lịch......................................................................8
Hình 1.2: Thống kê lễ hội tại Việt Nam....................................................................15
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh.........................................................32
Hình 2.2: Biểu đồ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tỉnh Quảng Ninh và xếp hạng
quốc gia giai đoạn 2010 – 2015 ................................................................................43
Hình 2.3: Biểu đồ lượng du khách đến với Yên Tử giai đoạn 2010 - 2015 .............45
Hình 2.4: Biểu đồ GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt
Nam giai đoạn 2010 - 2015.......................................................................................46
Hình 2.5: Những di tích lịch sử, văn hóa ở Quảng Ninh có nhiều tiềm năng lớn
nhưng còn ít được biết đến trong khu vực và trên thế giới. ......................................54
Hình 2.6: Dự báo tăng trưởng lao động ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm
2020...........................................................................................................................59
Hình 3.1: Sơ đồ cơ chế phát triển sản phẩm du lịch .................................................87


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch tâm linh đang dần trở thành một xu thế du lịch trên thế giới cũng như

trong khu vực. Nhiều quốc gia như Italia, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái
Lan với lịch sử phát triển tôn giáo lâu đời, loại hình du lịch tâm linh được khai thác
hiệu quả, phát triển mạnh mẽ, góp phần quảng bá hình ảnh, bản sắc văn hóa dân tộc
ra bạn bè quốc tế.
Với chính sách mở cửa, hội nhập và toàn cầu hóa, ngành du lịch nước ta,
trong đó có du lịch tâm linh đã dần trở thành một lựa chọn không thể bỏ qua của du
khách. Mặt khác, Đảng và Nhà nước dành mối quan tâm lớn đối cho phát triển du
lịch tâm linh. Phát biểu tại “Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền
vững” do Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch và Tổ chức Du lịch Thế giới
(UNWTO) phối hợp thực hiện ngày 21-22/11/2013 tại Ninh Bình, Phó Chủ tịch
nước Nguyễn Thị Doan đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong phát triển du
lịch tâm linh: “Việt Nam coi du lịch tâm linh là loại hình du lịch văn hóa chuyên đề,
một nhân tố quan trọng không chỉ mang lại sự tăng trưởng của nền kinh tế mà còn
phát huy giá trị tinh thần, phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần thực hiện thắng lợi
các mục tiêu phát triển đất nước”. Cả nước đã hình thành nhiều con đường du lịch
tâm linh kết nối nhiều tuyến điểm, ví dụ như tuyến du lịch Hà Nội - Côn Sơn; Chùa
Hương (Hà Nội)-Tam Chúc Ba Sao (Hà Nam) - Tràng An, Bái Đính (Ninh Bình) Đền Trần (Nam Định); tuyến Kinh đô Việt cổ gồm Đền Hùng (Phú Thọ) Hoàng
Thành Thăng Long (Hà Nội) - Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) - Thành nhà Hồ (Thanh
Hóa) - Cố đô Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế)...
Quảng Ninh là một tỉnh giàu tiềm năng phát triển du lịch với cả vùng đất,
vùng trời và vùng biển. Đây là lợi thế cho tỉnh để đa dạng hóa các loại hình du lịch.
Đặc biệt, tỉnh nổi tiếng và thu hút du khách với di sản thiên nhiên thế giới - một
trong bảy kì quan thiên nhiên của thế giới mới: Vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó, Quảng
Ninh còn được biết đến với nền văn hóa lâu đời, nhiều di tích lịch sử là nơi ghi danh
các chiến công hiển hách của cha ông và hệ thống lễ hội phong phú, giàu bản sắc.


2
Đây là nền tảng cho tỉnh phát triểm du lịch tâm linh, quảng bá hình ảnh đất và người
Quảng Ninh toàn diện và sâu rộng hơn với du khách. Vấn đề đặt ra là làm thế nào

để khai thác nguồn tài nguyên du lịch tâm linh hiệu quả, bền vững và không làm
ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống, mặt khác, có thể kết hợp với các loại hình du
lịch khác, giúp du lịch tỉnh có thêm những bước phát triển vượt bậc.
Là một sinh viên học tập và làm việc trên mảnh đất Quảng Ninh, tác giả
quyết định chọn đề tài: “Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tỉnh Quảng Ninh”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với mong muốn đi sâu tìm hiểu về hiện trạng du lịch
tâm linh của tỉnh. Thêm vào đó, tác giả sẽ đưa ra những đề xuất giúp hoạt động du
lịch tỉnh hiệu quả hơn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích thống kê tài nguyên du lịch tâm linh tỉnh
Quảng Ninh, tìm hiểu hiện trạng khái thác và sử dụng nguồn tài nguyên đó. Mặt
khác, tác giả cũng quam tâm tới các đường lối chính sách, chỉ đạo của tỉnh trong
việc qui hoạch phát triển du lịch tâm linh và nghiên cứu về các hoạt động chính trị,
kinh tế và xã hội đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tâm linh của tỉnh
trong thời gian qua.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ hệ thống cơ sở lý luận về du lịch tâm linh, tìm hiểu các nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển loại hình du lịch này tại tỉnh Quảng Ninh, bài học kinh
nghiệm của một số quốc gia và địa phương trên toàn quốc trong việc khai thác tiềm
năng du lịch tâm linh hiệu quả và bền vững. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra đánh giá
và đề xuất giúp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch tâm linh của tỉnh trong
tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu


3
Đối tượng được nghiên cứu trong đề tài là tài nguyên phát triển du lịch tâm
linh tỉnh Quảng Ninh, trong đó bao gồm hệ thống di tích lịch sử văn hóa, lễ hội và

ẩm thực chay của tỉnh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên phạm vi không gian là địa bàn hành chính tỉnh Quảng
Ninh và trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp chính là tổng hợp, phân
tích từ các số liệu thống kê được các bộ ban ngành phát hành, đồng thời so sánh và
đánh giá các dữ liệu thu thập được.
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo
và phụ lục, đề tài: “Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tỉnh Quảng Ninh” có bố
cục gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh
Chương II : Thực trạng khai thác tiềm năng du lịch tâm linh tỉnh Quảng Ninh
Chương III: Một số đề xuất nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tâm
linh tỉnh Quảng Ninh
Do hạn chế về thời gian và kiến thức, đề tài khóa luận của tác giả không
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô
và các độc giả để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.


4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÂM LINH
1.1. Tổng quan về du lịch tâm linh
1.1.1. Khái quát về du lịch
1.1.1.1. Một số khái niệm về du lịch
a) Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Với
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, du lịch được coi là một ngành kinh tế mũi

nhọn, được đảng và nhà nước đầu tư, quan tâm với định hướng chiến lược và chính
sách phát triển riêng. Do đó, du lịch là một đề tài hấp dẫn tuy chưa có một khái
niệm thống nhất.
Khái niệm về du lịch lần đầu tiên được phát biểu tại Anh năm 1811: “Du lịch
là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với
mục đích giải trí”. Như vậy, du lịch ban đầu có thể được hiểu là đi đến một địa
điểm mới để tìm kiếm sự thư giãn, vui vẻ.
Năm 1941, giáo sư, tiến sĩ Hunziker và tiến sỹ Krapf cho rằng: “Du lịch là
tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và
lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú
thường xuyên và không dính dáng đến việc kiếm lời”. Theo đó, du lịch đã được hiểu
một cách bao quát hơn, nhấn mạnh đến việc di chuyển của con người đến một địa
điểm mới và ở lại đó trong khoảng thời gian ngắn, không tham gia vào các hoạt
động kinh doanh hay các mục đích khác để sinh lời.
M.Coltman thì định nghĩa du lịch như sau: “Du lịch là tổ hợp các hiện tượng
và các mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà
kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá
trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”. Như vậy, du lịch được phát triển theo góc
nhìn mới với việc nhìn nhận các bộ phận tham gia cấu thành hoạt động du lịch và
mối quan hệ giữa chúng.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan
hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú


5
của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục
đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ”. Luật du lịch Việt
Nam năm 2005 thì cho rằng: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”1.

Khái niệm du lịch có thể nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên,
tác giả nhận thấy điểm chung của các khái niệm như sau: du lịch trước hết là chuyến
đi ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người, thứ hai: mục đích của chuyến đi
phần lớn là đáp ứng nhu cầu tinh thần: vui chơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thăm
thân, thiện nguyện, ...của khách du lịch và thứ ba: du lịch được thực hiện trong một
khoảng thời gian cố định.
b) Khái niệm khách du lịch
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên của họ và lưu lại ở nơi đến trên 24 giờ nhưng không quá một năm
với các mục đích khác nhau, ngoại trừ mục đích làm việc và nhận thù lao tại điểm
đến đó. Điều đáng chú ý trong khái niệm về khách du lịch của Tổ chức Du lịch Thế
giới là người đi du lịch phải ở lại điểm đến trên 24 giờ. Những người lưu lại ở điểm
đến dưới 24 giờ được gọi là khách tham quan, trong đó có tính cả khách quá cảnh.
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, khách du lịch được định nghĩa không
quan trọng vấn đề thời gian: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”2.
Theo đó, với những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ dưới 24 giờ
cũng được coi là khách du lịch. Trong phạm vi khóa luận, tác giả thống nhất hiểu
khách du lịch theo qui định của luật du lịch Việt Nam.
Cũng theo điều 34 của Luật du lịch, khách du lịch được phân loại thành
khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. “Khách du lịch nội địa là công dân
Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh
1
2

Khoản 1, điều 4, chương 1, Luật du lịch 2005
Khoản 2, điều 4, chương 1, Luật du lịch 2005


6

thổ Việt Nam”. “Khách du lịch quốc tế là nười nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
c) Khái niệm sản phẩm du lịch
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Đính cho rằng “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ,
hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các
yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và
lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó”3. Theo đó, một sản
phẩm du lịch được cấu thành từ các thành phần sau: dịch vụ vận chuyển; dịch vụ
lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ tham quan, giải trí và các dịch vụ bổ trợ khác (dịch
vụ tư vấn du lịch, dịch vụ hướng dẫn...). Như vậy, sản phẩm du lịch là sự kết hợp
của tổng hòa một chuỗi các sản phẩm hữu hình và vô hình để thỏa mãn mọi nhu cầu
và mang lại sự hài lòng cho khách du lịch. Trong đó, cốt lõi của sản phẩm du lịch là
các dịch vụ. Thêm vào đó, từ định nghĩa trên suy ra rằng sản phẩm du lịch cần có sự
phối kết chặt chẽ với điểm thu hút du lịch, nguồn nhân lực, chính quyền và nhân
dân địa phương để có thể khai thác, sử dụng cơ sở vật chất hạ tầng tại điểm đến đó
một cách hiệu quả.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần
thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”4. Theo nghĩa
rộng, sản phẩm du lịch có thể hiểu là tất cả các hàng hóa và dịch vụ mà khách du
lịch tiêu dùng cho chuyến đi của họ. Theo nghĩa hẹp, sản phẩm du lịch là các hàng
hóa và dịch vụ mà khách mua lẻ hoặc trọn gói, do các doanh nghiệp du lịch tạo ra
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Tiếp cận theo khái niệm này, sản phẩm
du lịch sẽ được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong đó có năm yếu tố chính. Thứ nhất là
điểm thu hút khách bao gồm các di tích lịch sử, di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh
nổi tiếng, công trình kiến trúc, lễ hội và các phong tục tập quán. Thứ hai là khả năng
tiếp cận của điểm đến (cơ sở vật chất hạ tầng, phương tiện vận chuyển..). Thứ ba là
các tiện nghi và dịch vụ tại điểm đến với hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống; các khu
3


Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa, 2006, Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB
Lao động Xã hội, trang 31
4
Khoản 10, điều 4, chương 1, Luật du lịch 2005


7
vui chơi giải trí; khu mua sắm và khu thể thao. Thứ tư là hình ảnh của điểm đến và
cuối cùng là giá cả hàng hóa và dịch vụ tại điểm đến.
Sản phẩm du lịch có đặc trưng riêng. Về bản chất, sản phẩm du lịch là tổng
hợp của các dịch vụ. Do đó, chúng chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình. Khách du lịch
không thể kiểm tra chất lượng trước khi mua mà chỉ có thể cảm nhận được khi tự
mình trải nghiệm dịch vụ. Hơn nữa, sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp. Thông
thường, để cung cấp một chuyến đi cho du khách, nhiều đơn vị cá nhân thuộc các
ngành khác nhau, nhiều công ty hoặc một chuỗi các doanh nghiệp sẽ cùng liên kết
để cung ứng dịch vụ. Thêm vào đó, sản phẩm du lịch vừa tổng hợp giá trị vật chất,
tinh thần, vừa bao gồm sản phẩm phi lao động và có cả tài nguyên thiên nhiên.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn với yếu tố tài nguyên du lịch. Do
đó, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Tất cả khách du lịch phải di
chuyển đến điểm du lịch. Vì thế, vai trò của các kênh thông tin, quảng bá là rất quan
trọng trong việc thu hút và tạo niềm tin với du khách.
Phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao, không thể tồn kho và có tính không
đồng nhất. Chất lượng của sản phẩm du lịch chủ yếu được đánh giá dựa vào cảm
nhận của khách hàng. Cùng là một sản phẩm du lịch nhưng có thể có những đánh
giá khác nhau về chất lượng phụ thuộc vào hoàn cảnh, nhận thức, mong đợi và tâm
lý du khách. Trong những thời gian và bối cảnh khác nhau, cảm nhận và đánh giá
của khách du lịch cũng sẽ thay đổi.
Một đặc trưng quan trọng khác của sản phẩm du lịch là quá trình sản xuất và
tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời. Mặc khác, quá trình sản xuất đòi hỏi sự tham
gia của khách du lịch. Chính du khách sẽ góp phần tạo nên sản phẩm và là nhân tố

quan trọng quyết định dịch vụ nào được tiêu dùng.
Sản phẩm du lịch có tính thời vụ. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch không
diễn ra đều đặn mà chỉ tập trung vào một thời điểm trong năm (du lịch biển - mùa
hè; lễ hội – mùa xuân), trong ngày (dịch vụ ăn uống). Dó đó, các doanh nghiệp và
chính quyền địa phương cần có những chính sách riêng để thu hút khách trong mùa
thấp điểm, rút ngắn sự dao động trong tiêu dùng du lịch.


8
1.1.1.2. Các loại hình du lịch
Du lịch là một phạm trù rộng lớn, để có thể nghiên cứu sâu về một khía cạnh
của du lịch, cần thiết phải phân loại du lịch thành các loại hình.
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm chung vì
chúng hoặc thỏa mãn những nhu cầu, động cơ tương tự, hoặc có chung nhóm khách
hàng mục tiêu hoặc được xếp chung một mức giá. Loại hình du lịch có thể được
phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Hình 1.1: Các tiêu chí phân loại du lịch
Mục đích
của
chuyến đi

Mức chi
tiêu

Thời gian
lưu trú

Tiêu chí
phân loại
du lịch


Hình thức
tổ chức

Phạm vi
lãnh thổ

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Phân theo thời gian của chuyến đi có loại hình du lịch trong ngày và du lịch
qua đêm. Phân theo phạm vi lãnh thổ có du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Theo
hình thức tổ chức, khách du lịch được phân thành bốn nhóm: khách du lịch một
mình, khách du lịch theo đoàn, khách du lịch trọn gói và khách du lịch theo theo
chương trình tự do. Phân theo mức chi tiêu có khách du lịch phổ thông với mức chi
trung bình và khách du lịch hạng sang.
Phân theo nhu cầu và mục đích của chuyến đi, du lịch có các loại hình như
sau:


9
Du lịch Sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo
tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương (Hiệp hội Du lịch
Thế giới – Ecotourism society).
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống5.
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì
người nghèo trong môi trường cộng đồng, nhằm mục tiêu thu hút sự tham gia của
người dân địa phương trong việc vận hành và quản lý các dự án nhỏ như một
phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng.
Du lịch MICE là hình thức kết hợp giữa du lịch với giải quyết các công việc,
tham gia hội nghị, hội thảo, đầu tư kinh doanh và ký kết hợp đồng hay hoạt động

nghiên cứu thị trường...
Du lịch chữa bệnh là hình thức đi du lịch kết hợp với chữa bệnh. Khách du
lịch tìm kiếm các dịch vụ y tế cao cấp ở nơi đến hay có thể giúp du khách giảm bới
áp lực, nghỉ ngơi và thoải mái về tinh thần. Hình thức này phổ biến ở một số quốc
gia trên thế giới có trình độ y học cao hoặc thu hút với những trung tâm thẩm mỹ
làm đẹp như Pháp, Hàn Quốc...
Du lịch mạo hiểm là hình thức đi du lịch khám phá những vùng đất, địa danh
nổi tiếng nhưng đòi hỏi du khách sức bền và sự dẻo dai như chinh phục núi cao,
thác ghềnh, hang động, vùng sâu vùng xa – nơi điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng rất
hạn chế. Thông qua chuyến đi, du khách có thể tự khám phá và thể hiện bản thân,
rèn luyện tinh thần và sức khỏe.
Du lịch tâm linh cũng là một loại hình du lịch theo nhu cầu của du khách.
Tuy nhiên, khái niệm du lịch tâm linh sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau.
1.1.2. Khái quát về du lịch tâm linh
1.1.2.1. Khái niệm văn hóa tâm linh

5

Khoản 20, điều 4, Luật du lịch 2005


10
Tâm linh là một hình thái ý thức của con người, gắn với những ý niệm cao
cả, những niềm tin thiêng liêng không chỉ trong đời sống tôn giáo mà cả đời sống
tinh thần, đời sống xã hội. Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Văn hóa tâm
linh” khẳng định: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường,
là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo”6. Điều thiêng liêng
cao cả được thể hiện qua những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm.
Từ khái niệm về tâm linh, tác giả Nguyễn Đăng Duy đưa ra quan niệm về
“văn hóa tâm linh”. Theo đó, “văn hóa tâm linh là một hoạt động văn hóa xã hội của

con người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, mang những giá
trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong
cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền
diệu) của con người”7.
Trong cuộc sống ai cũng có những niềm tin vào những điều linh thiêng, cao
cả và chính niềm tin ấy là biểu hiện rõ ràng nhất của văn hóa tâm linh trong đời
sống cá nhân cũng như cộng đồng. Nó giúp con người sống hướng thiện, hành động
và suy nghĩ tốt đẹp hơn. Nó cũng giúp xoa dịu những đau thương mất mát, đem lại
niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp, công bằng, bình đẳng và bác ái. Vì lẽ đó văn hóa
tâm linh tạo nên chiều sâu cho nền văn hóa dân tộc.
1.1.2.2. Khái niệm du lịch tâm linh
Hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam chưa có một khái niệm thống
nhất về du lịch tâm linh. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là du lịch tâm linh khai thác yếu
tố văn hóa tâm linh, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với
lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn
giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác làm cơ sở và mục tiêu để
thảo mãn đời sống tinh thần của con người. Do đó, du lịch tâm linh và văn hóa tâm
linh có mối liên hệ chặt chẽ. Chính văn hóa tâm linh là động lực để phát triển du
lịch tâm linh.

6
7

Nguyễn Đăng Duy, 2001, Văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa – Thông tin, trang 14
Nguyễn Đăng Duy, 2001, Văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa – Thông tin, trang 27


11
Nếu bóc tách cụm từ “du lịch tâm linh”, có thể thấy rằng du lịch tâm linh là
sự kết hợp của hoạt động du lịch và yếu tố tâm linh trong chuyến hành trình. Một

mặt, du khách đi tham quan, thưởng ngoạn, học hỏi, mặc khác, kết hợp với việc
hành hương, cúng bái, lễ phật, tham gia các lớp học thiền, nghe giảng đạo hay tham
gia vào các lễ hội dân gian, gửi gắm tâm hồn vào các đấng thiêng liêng, những nơi
thờ tự như chùa chiền, đình, đền, miếu mạo và các chốn linh thiêng khác. Cựu Tổng
thống Ấn Độ, tiến sĩ Abdul Kalam cũng đã từng phát biểu: “Du lịch tâm linh có
nghĩa là thăm viếng bằng trái tim”. Chính yếu tố tâm linh giúp khách du lịch cảm
thấy bình an, tâm hồn trong sạch và hướng thiện. Và không dừng lại ở đó, “Du lịch
tâm linh vốn không chỉ là hoạt động hành hương, tôn giáo, tín ngưỡng thuần túy và
còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội”8. Điều
đó có nghĩa là du lịch tâm linh giúp thực hiện nhiều chức năng xã hội, góp phần cải
thiện đời sống không chỉ tinh thần mà cả đời sống vật chất của con người.
Hiện nay, song song tồn tại một số khái niệm như du lịch hành hương, du
lịch tôn giáo, du lịch lễ hội. Vấn đề đặt ra là những loại hình du lịch trên là riêng
biệt hay chỉ là một bộ phận của du lịch tâm linh.
Du lịch tôn giáo là loại hình du lịch “nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc
biệt của những người theo các đạo giáo khác nhau”9. “Đó là các chuyến đi với mục
đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện các nghi lễ tôn giáo của các tín
đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo”10. Trong đó, khách du lịch chủ yếu
thỏa mãn nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo hoặc tìm hiểu, nghiên cứu về các
hoạt động tôn giáo.
Du lịch hành hương là “loại hình du lịch hành hương đến các vùng đất thánh
cổ xưa, đến các đền thờ”11.

8

Phát biểu của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tại Hội nghị quốc tế về du lịch
tâm linh 21-22/11/2013 tại Ninh Bình.
9
Nguyễn Văn Đính, 2006, Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB Lao động Xã hội, trang
75

10
Trần Thị Mai, 2009, Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Lao động, trang 134
11
Trần Thị Mai, 2009, Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Lao động, trang 137


12
Du lịch lễ hội là loại hình du lịch mà mục đích chính của chuyến đi là “tham
gia vào các lễ hội được tổ chức ở một địa danh nổi tiếng nào đó, qua đó nâng cao
hiểu biết về văn hóa, và tăng cường, mở rộng quan hệ giao tiếp. Lễ hội có thể là: lễ
hội truyền thống, festival chuyên đề, liên hoan phim, âm nhạc...”12.
Với du lịch tôn giáo và du lịch hành hương, yếu tâm linh là yếu tố quan trọng
và chi phối. Do đó, du lịch tôn giáo và hành hương có thể coi là một hình thức đặc
thù của du lịch tâm linh. Tuy nhiên, loại hình du lịch lễ hội cần thiết phải xét đến
tính chất của lễ hội. Với những lễ hội truyền thống, dân gian thể hiện phong tục, tập
quán, tín ngưỡng tốt đẹp, du lịch lễ hội là một phần của du lịch tâm linh. Trái lại,
với những lễ hội hiện đại như lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội festival chuyên
đề..., mặc dù vẫn thu hút một lượng không nhỏ khách du lịch nhưng mục đích chính
của các lễ hội này không phải thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Do đó, không thể xem du
lịch lễ hội đó là một phần của du lịch tâm linh.
Tóm lại, du lịch tâm linh là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm
hiểu, học hỏi và tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, các lễ hội tâm linh của
khách du lịch. Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp, tác giả sẽ nghiên cứu du lịch
tâm linh bao gồm cả du lịch tôn giáo, du lịch hành hương và du lịch lễ hội với các lễ
hội mang yếu tố tâm linh.
1.1.2.3. Đặc trưng du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh cũng là một sản phẩm du lịch. Do đó, nó mang đầy đủ
những đặc trưng của một sản phẩm du lịch.
Du lịch tâm linh có tính tổng hợp. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố không
thể tách rời, sự tham gia của nhiều đơn vị cá nhân, doanh nghiệp. Nó không thể cất

trữ do tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng. Do đó, các doanh nghiệp và cơ
quan ban ngành luôn phải chú ý vấn đề hạn chế tính mùa vụ và thu hút được một
lượng du khách một cách ổn định và bền vững.

12

TS. Trần Thị Mai, 2009, Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Lao động, trang 134


13
Du lịch tâm linh gắn với các tài nguyên du lịch tâm linh. Đó là các di tích
lịch sử, công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, văn hóa ẩm
thực chay.
Mặt khác, sản phẩm du lịch tâm linh có những đặc trưng riêng. Nó mang
nặng dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa bởi các tín ngưỡng, phong tục tập quán,
lễ hội truyền thống luôn gắn liền với cư dân một vùng miền, thể hiện lối sống và
cách nghĩ, nét văn hóa riêng biệt của họ. Nói cách khác, cư dân bản địa gửi gắn
niềm tin, mơ ước, nếp nghĩ, cách giáo dục và khát vọng qua các lễ hội và phong tục.
Bởi vì gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, các giá trị văn hóa tốt đẹp được lưu truyền từ
đời này sang đời khác, những nghi thức, lễ hội dân gian nên các sản phẩm du lịch
tâm linh có tính bền vững và bất biến cao. Nhưng cũng chính vì đặc tính này, vấn đề
đặt ra là rất khó để đổi mới sản phẩm du lịch tâm linh bởi đổi mới có thể làm sai
lệch đi giá trị văn hóa tâm linh.
Như bao sản phẩm du lịch khác, du lịch tâm linh có tính mùa vụ. Tại Việt
Nam, tính mùa vụ của du lịch tâm linh thể hiện khá rõ và chịu ảnh hưởng của quan
điểm sống từ xa xưa. Lễ hội truyền thống chủ yếu tập trung vào mùa xuân, đặc biệt
là tháng giêng. Việc cúng bái tổ tiên, đi lễ chùa phổ biến vào ngày mùng một và
ngày mười lăm theo lịch âm.
Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo, tín ngưỡng. Tại Việt Nam, du lịch tâm linh
có một số đặc tính riêng gắn với tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt. Bắt nguồn

từ văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng thờ cúng
các vị anh hùng dân tộc, những người có công với cách mạng, những người có công
lập đất, lập làng (Thành hoàng làng). Bên cạnh đó, du lịch tâm linh còn gắn với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn với các đáng sinh thành.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tâm linh
1.2.1. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
1.2.1.1. Môi trường chính trị, pháp luật
Tình hình chính trị ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội của một quốc gia đồng thời là một điều kiện rất quan trọng để phát triển du lịch.
Khách du lịch luôn có xu hướng quan tâm đến mức độ an toàn tại điểm đến. Họ sẽ


14
cảm thấy an tâm và tin tưởng với các điểm đến hòa bình và thân thiện, ngược lại, du
khách sẽ có xu hướng cân nhắc việc đến du lịch tại một điểm đến không ổn định về
mặt chính trị, xã hội.
Mức độ an toàn tại mỗi quốc gia được nhìn nhận thông qua chỉ số hòa bình
toàn cầu (GPI) được đánh giá dựa trên cơ sở 23 tiêu chí khác nhau từ mức độ tội
phạm bạo lực và chi tiêu quân sự tới mối quan hệ với các nước láng giềng và tôn
trọng nhân quyền. Theo đó, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia hòa bình, một
điểm đến an toàn, một sự lựa chọn tin cậy cho du khách.
Không chỉ tác động đến quyết định du lịch của khách du lịch mà tình hình
chính trị, pháp luật cũng là vấn đề luôn được các nhà đầu tư quan tâm. Chính trị ổn
định, hệ thống pháp luật minh bạch sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận được
các cơ hội kinh doanh. Ngược lại, tình hình chính trị bất ổn và pháp luật rườm rà,
thủ tục phức tạp, quan liêu sẽ hạn chế quyết định đầu tư của các nhà kinh doanh. Tại
Việt Nam, vấn đề cải cách các thủ tục hành chính đang được các bộ, ban ngành
quan tâm. Thời gian làm thủ tục, giải quyết các vấn đề công vụ đã được rút ngắn tuy
vẫn còn gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, đảng và nhà nước xác định: “Du lịch là một ngành kinh tế

tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hóa cao” và đề ra mục tiêu “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn”. Do đó, chính phủ có chính sách ưu tiên phát triển du lịch, đồng
thời, hệ thống luật pháp trong ngành du lịch ngày càng được bổ sung, hoàn thiện.
Tuy nhiên, hành lang pháp lý và năng lực của cơ quan quản lý nhà nước với các
thành phần tham gia kinh doanh du lịch còn hạn chế, nhiều hiện tượng xấu trong du
lịch vẫn diễn ra như cò vé, bán giá cao, không niêm yết giá, niêm yết giá bằng đồng
ngoại tệ... Trong khi đó, luật cạnh tranh và luật bảo vệ người tiêu dùng còn nhiều
điểm chưa hoàn thiện nên bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng du lịch trong khi
xảy ra tranh chấp là một vấn đề khá nan giải.
Nhìn chung, môi trường chính trị và pháp luật Việt Nam vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho du lịch tâm linh phát triển, đồng thời vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại gây
rào cản cho ngành du lịch.


15
1.2.1.2. Môi trường văn hóa, xã hội
Dân tộc ta có lịch sử lâu đời với 4000 năm dựng nước và giữ nước. Chính
tiến trình lịch sử đó đã góp phần tạo ra một hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa
phong phú trải dài trên khắp cả nước. Mặt khác, gắn với lịch sử, các tôn giáo cũng
dần hình thành và có những bước phát triển. Phật giáo là tôn giáo ra đời đầu tiên và
ảnh hưởng sâu rộng đến quan điểm sống của người dân. Ngày nay, cùng với phật
giáo các tôn giáo khác như Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo cũng
đã ngày càng mở rộng hoạt động tạo nên đời sống tôn giáo phong phú. Đảng ta đã
công nhận hoạt động hợp pháp của nhiều tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn
giáo, giữa người có tôn giáo và không tôn giáo. Điều này tạo điều kiện tốt cho hoạt
động du lịch tâm linh phát triển. Cả nước hiện có 37 tổ chức, hệ phái tôn giáo và
một pháp môn tu hành thuộc 13 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng
27% dân số cả nước), 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 trường đào tạo chức
sắc tôn giáo (tương đương từ bậc trung cấp đến trên đại học), 25 ngàn cơ sở thờ tự..

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống và
cư trú ở vùng núi. Nhiều dân tộc vẫn giữ nguyên được nét sinh hoạt văn hóa truyền
thống của mình, đặc biệt là các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mường ở miền Bắc; các
dân tộc Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na ở miền Trung và Tây Nguyên; các dân tộc
Khơ me ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn chung, những truyền thống văn hóa có
giá trị cao của các dân tộc Việt Nam là một yếu tố quan trọng để phát triển không
chỉ du lịch tâm linh mà cả du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, vấn đề đặt
ra là cần phải liên kết giữa cơ quan chức năng, doanh nghiệp, người dân địa phương
để khai thác hiệu quả yếu tố đặc trưng văn hóa bản sắc cho phát triển du lịch. Mặt
khác, cần nâng cao kiến thức, khả năng giao tiếp với khách du lịch của cộng đồng
địa phương để hướng tới phát triển du lịch bền vững.
Theo như thống kê, số lễ hội tại nước ta là 7966 trong đó có tới 98.8% là lễ
hội liên quan đến yếu tố tâm linh. Đây là tiềm năng lớn cho hoạt động du lịch tâm
linh.
Hình 1.2: Thống kê lễ hội tại Việt Nam


16
4% 1%
Lễ hội dân gian

6%

Lễ hội tôn giáo
Lễ hội lịch sử
89%

Lễ hội du nhập từ nước
ngoài


Nguồn: Thống kê của Cục văn hóa cơ sở - Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
Ẩm thực chay là một nét đẹp nổi bật trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Ăn
chay cũng là một nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng được duy trì trong nhiều gia đình Việt
và là một thói quen sống khoa học được nhiều người ưa chuộng. Ăn chay không chỉ
tốt cho sức khỏe, tránh được nhiều bệnh tật mà còn giúp đời sống tâm hồn mỗi
người được thoải mái bởi theo lời dạy của Phật, ăn chay là nuôi dưỡng lòng từ bi,
yêu thương muôn loài; tu dưỡng bản thân mình và thể hiện tinh thần yêu chuộng
hòa bình. Kho tàng ẩm thực chay Việt Nam phong phú và đa dạng, đặc biệt là mỗi
miềm đất lại có những món ăn chay và phong cách nấu ăn đặc trưng riêng. Tuy
nhiên, ẩm thực chay Việt Nam còn chưa được quan tâm quảng bá sâu rộng tới bạn
bè quốc tế.
Con người Việt Nam thân thiện và hòa đồng tuy nhiên khả năng giao tiếp và
trình độ ngoại ngữ kém, do đó, hiệu quả quảng bá và giới thiệu hình ảnh du lịch tâm
linh Việt Nam tới bạn bè quốc tế còn hạn chế.
Như vậy, môi trường văn hóa, xã hội với các phong tục tập quán, tín ngưỡng
phong phú, tôn giáo, di tích lịch sử và nét đẹp trong văn hóa ẩm thực chay tạo nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh. Tuy nhiên, vấn đề cần khắc phục
là cải thiện nhận thức và cách giao tiếp, ứng xử của người Việt để có thể mang lại
hiệu quả quảng bá du lịch từ cộng đồng.
1.2.1.3. Môi trường tự nhiên


17
Môi trường tự nhiên với những đặc trưng địa hình, địa lý, khí hậu...ảnh
hưởng đến hoạt động du lịch nói chung và du lịch tâm linh nói riêng.
Nước ta có địa hình chủ yếu là đồi núi, đường bờ biển dài, mặt khác, khí hậu
cũng khá đa dạng với sự kết hợp của khí hậu nhiệt đới và ôn giới tạo nên sự đa dạng
cảnh quan. Tuy nhiên, với địa hình nhiều đồi núi, vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng,
đặc biệt là hệ thống đường giao thông phục vụ vận chuyển khách du lịch cần được
qui hoạch và tính toán kĩ lưỡng.

Khí hậu, địa hình và môi trường sinh sống góp phần hình thành lối sinh hoạt,
thói quen, tập quán, lễ hội đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền và qua đó,
tạo nên các tiềm năng quan trọng cho phát triển du lịch tâm linh.
Tuy nhiên, nước ta hàng năm vẫn phải đối mặt với các thiên tai: hạn hán, gió
mùa, bão lũ...tàn phá cơ sở vật chất, các công trình kiến trúc cổ, các di tích lịch
sử...Để phát triển bền vững, việc cần thiết là phải có những cảnh báo cho du khách
trong trường hợp thời tiết xấu, thích ứng với biến đổi khí hậu, quan trọng hơn cả và
khai thác song song với bảo tồn.
1.2.1.4. Môi trường kinh tế
Tình hình kinh tế của một quốc gia có tác động lớn đến sự phát triển du lịch
nói chung và du lịch tâm linh nói riêng cả về cung và cầu. Xét về cung du lịch, tiềm
lực kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các qui mô đầu tư cơ sở hạ tầng, vấn đề đa dạng hóa
sản phẩm, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, qũy cho các hoạt động bảo tồn, tu
sử các di tích lịch sử, phục dựng các công trình văn hóa nghệ thuật...Đây đều là
nhưng điều kiện tiên quyết để du lịch phát triển. Mặt khác, tiềm lực kinh tế còn
được thể hiện qua thực trạng phát triển của các ngành bổ trợ cho du lịch như giao
thông vận tải; chế biến lương thực, thực phẩm; công nghệ thông tin...Nếu giao
thông vận tải phát triển, du khách có thể dễ dàng di chuyển giữa các địa điểm tham
quan. Ngành du lịch tiêu dùng một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm vì thế nếu
có thể chủ động được về nguồn cung này sẽ giúp các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt
là hệ thống các nhà hàng có thể giảm tối thiểu chi phí đầu vào thay vì việc phải
nhập khẩu với giá thành cao và tốn thêm các chi phí vận chuyển, thủ tục xuất nhập
khẩu. Ngày nay, nhu cầu tìm kiếm và trao đổi thông tin có vai trò quan trọng với du


18
khách. Hệ thống công nghệ thông tin phát triển sẽ hộ trợ tích cực cho khách du lịch
trong việc tìm kiếm thông tin về điểm đến, dịch vụ du lịch... hoặc đảm bảo kết nối
với người thân, giải quyết các vấn đề công vụ.
Tiềm lực kinh tế của một đất nước cũng tác động đến cầu du lịch. Với một

đất nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao và ổn định,
nhu cầu du lịch sẽ có xu hướng cao hơn so với các nước có nền kinh tế kém phát
triển khi tỉ lệ nghèo đói còn là vấn đề xã hội cần phải quan tâm. Mặt khác, với
những nước có nền kinh tế phát triển, không chỉ nhu cầu du lịch cao mà khả năng
chi tiêu và nhu cầu sử dụng các dịch vụ hạng sang của du khách cũng sẽ rất lớn, hứa
hẹn mang lại nguồn lợi kinh tế lớn cho ngành du lịch và cả nền kinh tế. Mối quan hệ
giữa giữa tiềm lực kinh tế và cầu du lịch tỉ lệ thuận.
Tóm lại, môi trường kinh tế tác động điều chỉ cung và cầu về du lịch.
1.2.1.5. Cầu du lịch tâm linh của khách du lịch
“Cầu du lịch tâm linh là cầu về sản phẩm du lịch tâm linh13”. Tại Việt Nam,
nhu cầu du lịch tâm linh nảy sinh dựa trên mong muốn đi lễ chùa cầu mong sức
khỏe bình an cho gia đình, mong muốn được tham gia vào các lễ hội của nhân dân.
Cầu du lịch tâm linh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như qũy thời gian rãnh
rỗi, mức thu nhập, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, tâm lý tiêu dùng...của khách
du lịch. Những người công nhân viên chức, có học vấn cao hay thu nhập cao thường
có nhu cầu du lịch tâm linh lớn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những người
có thu nhập thấp hay trung bình không có nhu cầu du lịch tâm linh. Người Việt coi
việc đi lễ chùa với mong muốn phúc lộc cho gia đình là một nét đẹp văn hóa và đã
trở thành một thói quen khá phổ biến. Việc giàu nghèo không hẳn là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến quyết định tham gia du lịch tâm linh của họ. Thêm vào đó,
phần lớn các lễ hội ở Việt Nam tập trung vào thời điểm tháng giêng, đúng vào kỳ
nghỉ tết dài trên toàn quốc nên thu hút được đông đảo du khách tham gia.
Cầu du lịch tâm linh có tính thời vụ. Nhu cầu đi du lịch tâm linh đặc biệt lớn
trong các dịp lễ tết, thời điểm cuối năm và đầu xuân. Các tháng còn lại nhu cầu du
13

Vũ Mạnh Hà, 2009, Giáo trình kinh kế du lịch, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 37


19

lịch tâm linh của du khách hạn chế do qũy thời gian có hạn. Các doanh nghiệp, công
ty lữ hành muốn khai thác hiệu quả nguồn khách du lịch tâm linh cần đặc biệt chú ý
tính mùa vụ trong du lịch này. Các doanh nghiệp cần nắm bắt rõ về tính mùa vụ
trong cầu du lịch để có thể dự trù các giải pháp thu hút khách trong mùa thấp điểm,
sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch.
Một đặc điểm nổi bật là cầu du lịch tâm linh chủ yếu là nhu cầu du lịch tâm
linh trong nước. Thứ nhất, du lịch tâm linh trong nước được quảng bá và biết đến
nhiều hơn. Mặt khác, người Việt vốn hiểu rõ về văn hóa, bản sắc và lễ hội dân gian
của dân tộc mình. Thứ hai, các chuyến đi du lịch tâm linh nước ngoài có mức giá
cao và không thích hợp với thu nhập bình quân của đại đa số khách du lịch.
Cầu du lịch tâm linh chịu ảnh hưởng từ cung du lịch. Để đi đến quyết định du
lịch tâm linh, du khách dựa trên chất lượng dịch vụ du lịch cung ứng. Vì thế, một
trong những giải pháp để thúc đẩy lượng cầu là đảm bảo chất lượng cung du lịch
tâm linh.
Tóm lại, cầu du lịch tâm linh ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch tâm
linh. Lượng cầu quyết định tốc độ phát triển trong ngành.
1.2.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong
1.2.2.1. Qui hoạch, chiến lược và chính sách về du lịch tâm linh
Vấn đề qui hoạch, định hướng chiến lược và xây dựng chính sách phát triển
du lịch là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển du lịch tâm linh địa phương.
Một đường lối, chính sách cũng có thể thúc đẩy hay kìm hãm du lịch tâm linh phát
triển.
Trước hết, các qui hoạch và chính sách phát triển du lịch tâm linh cần được
xây dựng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội địa phương, phù hợp với
chủ trương của đảng, với định hướng cũng như xu thế du lịch khu vực và quốc tế.
Du lịch tâm linh và du lịch nói chung là một ngành kinh tế tổng hợp. Vì vậy, vấn đề
qui hoạch du lịch sẽ liên quan đến các ngành nghề bổ trợ, xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ du khách, đào tạo nhân lực...Do đó, để đạt được mục tiêu đề ra và tạo dựng
được mối liên kết bền chặt giữa du lịch và các ngành liên quan, quy hoạch du lịch,



×