Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Đề tài nghiên cứu khoa học Vai trò của an sinh xã hội đối với người cao tuổi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (402.52 KB, 22 trang )

1. Lí do chọn đề tài.
Ở Việt Nam, ASXH là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống các
chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng. ASXH là nhân tố
đảm bảo công bằng xã hội. Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất
lớn trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết
xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị.
Như chúng ta đều biết, đất nước ta đang trên con đường hội nhập và phát
triển, chúng ta hướng mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa để
có thể sánh vai với các nước phát triển trên thế giới. Bên cạnh những thành tựu
về kinh tế - xã hội thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
nảy sinh từ mặt trái của quá trình phát triển kinh tế - xã hội như phân tầng xã hội,
quá trình đô thị hóa không đồng bộ, môi trường bị xuống cấp, thất nghiệp, tệ nạn
ma túy,người già neo đơn...
Dân số nước ta ngày càng già đi, quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh
chóng kéo theo đó là số lượng người cao tuổi ngày càng tăng lên gây sực ép đối
với nền kinh tê - xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng em đã chọn đề tài: "Vai trò của ASXH
đối với người cao tuổi " để làm đề tài nghiên cứu, từ đó đưa ra thực trạng,
nguyên nhân của công tác ASXH đối với người cao tuổi và từ đó đưa ra giải
pháp phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người cao tuổi có cuộc sống ổn định và tốt
đẹp hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu .
Nghiên cứu vai trò của ASXH đối với người cao tuổi để hiểu biết, xem
xét,đánh giá, nhận xét, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác ASXH đối với cộng đồng nói chung và người cao tuổi nói riêng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.


- Phân tích cơ sở lí luận thực tiễn về ASXH và vai trò của ASXH đối với người
cao tuổi.
- Nêu và phân tích thực trạng ASXH đối với người cao tuổi.


- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác ASXH đối với người lao động.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian có hạn nên nhóm tập trung vào nghiên cứu vai trò của ASXH đối
với người cao tuổi ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập thông tin.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp so sánh phân tích.
6. Ý nghĩa, đóng góp của đề tài.
- Về lí luận: Vấn đề nghiên cứu giúp chúng ta hiểu biết về ASXH nói chung và
tầm quan trọng của ASXH đối với các đối tượng trong xã hội và người cao tuổi
nói riêng.
- Về thực tiễn: Vấn đề giúp chúng ta nhận thấy rõ thực trạng về công tác ASXH
đói với người cao tuổi hiện nay, nguyên nhân do đâu để từ đó đưa ra giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn về công tác ASXH đối với người cao tuổi, đảm bảo cuộc
sống cho người cao tuổi.
7. Kết cấu của đề tài.
Chương 1: Tổng quan về vai trò của an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng vai trò an sinh xã hội đối với người cao tuổi
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của asxh đối với người cao tuổi


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1.Khái niệm An sinh xã hội
Theo tổ chức LĐQT (ILO) : ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các
thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại
tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngưng hoặc giảm

sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất
nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong ; sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản
tiền trợ cấp giúp cho các gia đình đông con.
Hiện nay ASXH được hiểu là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên
của mình không may lâm vào hoàn cảnh yếu thế trong xã hội thông qua biện
pháp cân đối lại tiền bạc và của cải xã hội.
Bản chất của ASXH là tạo ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho
tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp
những rủi ro xã hội khác. Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của
Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro,
bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó
vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc.
1.1.2. Khái niệm về người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với
việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát triển như
Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên.
Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y


tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng
cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về
tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao
tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.
Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên (với nam),
từ 55 tuổi trở lên (với nữ)
Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện về kinh tế

và tuổi thọ trung bình thay đổi.
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan.
- Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiềm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe không vì lợi ích lợi nhuận do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng
đóng góp theo quy định của bảo hiểm y tế.
- Trợ cấp xã hội là sự giúp đỡ thêm của nhà nước dành cho các nhóm đối tượng
có hoàn cảnh khó khăn nhằm hướng tới bảo đảm các nhu cầu tối thiểu giúp họ
phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ
1.4 Sự cần thiết của An sinh xã hội đối với người cao tuổi
Thứ nhất, Tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng tạo nên gánh nặng cho quỹ
hưu trí.
Khi dân số cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số cũng đồng nghĩa với tỷ lệ
tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi và số người sau 60 tuổi sẽ tăng
lên và sống lâu hơn. Như vậy, số người làm ra của cải vật chất cho xã hội sẽ có


xu hướng giảm đi và số người thụ hưởng sẽ có xu hướng gia tăng. Điều này ở
một khía cạnh nào cũng sẽ tạo ra “gánh nặng” cho quỹ hưu trí quốc gia khi phải
chi trả lương hưu nhiều hơn và dài thời gian hơn, trong khi đó số người đóng góp
có xu hướng giảm đi tương đối so với số người thụ hưởng (do hệ quả của mức
sinh thấp.
Thứ hai, Chi phí y tế dành cho người cao tuổi cao
Theo quy luật chung, tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm. Dù muốn hay không,
con người vẫn đối mặt với tình trạng bệnh tật, sức khỏe của mình khi tuổi ngày
càng cao trong vòng đời Sinh- Lão- Bệnh- Tử. Khi đã ngoài 60 tuổi, quá trình
đồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên, quá trình lão hóa diễn ra với tốc độ

ngày càng nhanh, đồng thời phát sinh những loại bệnh tật đặc trưng của tuổi già.
Mặc dù, nhờ những thành tựu trong phát triển kinh tế cũng như trong tiến bộ của
y học, nhưng cơ cấu bệnh tật của dân số nước ta nói chung và của người cao tuổi
nói riêng đang chuyển dần từ mô hình bệnh tật của những nước đang phát triển
sang của nước phát triển. Cơ cấu bệnh tật hiện nay của nước ta chuyển từ không
nhiễm trùng, không lây nhiễm sang các bệnh chủ yếu như cao huyết áp, đột quỵ,
tiểu đường, rối loạn chuyển hóa… (Giang Thanh Long, 2011). Như vậy, cùng
với tuổi tác, cơ cấu chi tiêu của người cao tuổi đã thay đổi nhiều, chi phí cho
khám, chữa bệnh có xu hướng tăng lên. Người già lại hay bị những loại bệnh đòi
hỏi chi phí y tế cao như huyết áp, đột quỵ, tim mạch…Theo PGS-TS Phạm
Thắng- Viện Lão khoa quốc gia, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi (y tế, xã hội,
tài chính) sẽ là một thách thức lớn đối với xã hội và gia đình. Người cao tuổi có
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn, trong khi chi phí cho đối tượng này cũng
cao gấp 7-8 lần so với trẻ em. Chi phí này hoặc là gia đình phải tự chi hoặc là hệ
thống BHYT chi trả (đối với những người tham gia BHXH hoặc đối tượng thụ
hưởng BHXH, BHYT).


Thứ ba, Tỷ lệ hưởng BHXH hưu trí của những người cao tuổi ở khu vực nông
thôn còn thấp.
Đối với một nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam, cho đến nay, về
cơ bản nước ta vẫn là nước nông nghiệp với trên 70% số dân và cũng khoảng
70% số lao động đang sống ở và lao động ở nông thôn, trong đó khoảng 50%
làm các nghề nông nghiệp. Trong khi đó số lao động tham gia hệ thống BHXH
chỉ chiếm khoảng 10% -20% tổng lực lượng lao động và chủ yếu ở khu vực
thành thị. Như vậy, đa số người lao động nông thôn khi trở thành người cao tuổi
(60 tuổi trở lên) sẽ không được hưởng lương hưu từ hệ thống BHXH. Để tiếp tục
cuộc sống, những người cao tuổi này buộc phải tự lao động kiếm sống hoặc nhờ
sự hỗ trợ của con cháu, hoặc nhờ sự trợ giúp của cộng đồng.
Thứ tư, nước ta trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài với rất nhiều thế hệ người

lính phải sống và chiến đấu ở những vùng ác liệt, nhiều nơi bị nhiễm chất độc da
cam… Đến nay, đa phần họ đã thuộc nhóm người cao tuổi.
Ngoài những loại bệnh của người già, không ít trong số họ mắc những bệnh đặc
trưng của chiến tranh, trong khi đó, đa phần trong số họ sau chiến tranh về quê
nhà sinh sống, họ không có lương hưu. Điều này, đòi hỏi cần có những chính
sách ASXH đặc thù cho nhóm người này.
Thứ năm,Người lao động ở Việt Nam “ già khi chưa giàu”
Cũng là đặc thù của nền kinh tế Việt Nam khi thu nhập của người lao động thấp,
thu nhập chỉ đủ trang trải (thậm chí không đủ) cho những chi tiêu trước mắt,
không có và không thể có cho tích tũy trong tương lai. Điều này là nguy cơ tiềm
năng khi người lao động không làm việc được nữa, họ sẽ không có khoản tích
lũy để chi dùng khi trở thành người cao tuổi. Một số nhà phân tích đã nêu, người
lao động Việt Nam “già khi chưa giàu”. Đối với một người “già khi chưa giàu”
sẽ tạo áp lực cho con cái, nhưng đối với một xã hội “già hóa” và xã hội “già” thì
áp lực này sẽ chuyển sang hệ thống ASXH.


Qua những phân tích trên cho thấy giữa già hóa dân số, dân số già và ASXH có
mối quan hệ “nhân- quả”. Điều này cho thấy, một mặt phải điều chỉnh chính sách
dân số sao cho quá trình già hóa dân số diễn ra chậm hơn và quá trình chuyển từ
dân số già hóa sang dân số già diễn ra với thời gian lâu hơn; mặt khác, cần phải
có chiến lược ASXH ứng phó phù hợp. Chính sách ASXH đối với người cao tuổi
không nên chung cho mọi nhóm bởi người cao tuổi không phải là nhóm dân số
đồng nhất. Người cao tuổi cũng có người giàu, người nghèo; có người khỏe
mạnh và người ốm yếu; có người được sống cùng con cháu, nhưng có người chỉ
sống một mình… Vì vậy, nên phân nhóm đối tượng để có chính sách ASXH ứng
phó phù hợp. Phải xây dựng và phát triển các dịch vụ xã hội đối với người cao
tuổi, đặc biệt là đối với người cao tuổi ở nông thôn. BHXH cho mọi người lao
động và BHYT toàn dân là hướng đi và là giải pháp tích cực, chủ động trong
chính sách ASXH của mỗi quốc gia. Sinh- Lão– Bệnh– Tử là quy luật của cuộc

sống loài người. Ai sinh ra rồi cũng phải già và chết. Do vậy, ASXH đối với
người cao tuổi hiện tại cũng chính là đảm bảo ASXH tương lai cho người lao
động hiện tại.


Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAO TUỔI
2.1 Thực trạng An sinh xã hội đối với người cao tuổi trên Thế giới.
Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu, chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nước
nghèo và khoảng hơn 180 triệu người sống trong cảnh nghèo khó. Theo dự báo,
đến năm 2045, số người trên 60 tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14
tuổi. Ở các nước trung bình và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn
làm việc, chủ yếu ở các thành phần phi chính thức. Thế giới cũng đang chứng
kiến ¾ người cao tuổi sống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến
đổi khí hậu; 2/3 số NCT bị bệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém
phát triển.
Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là người chắm sóc chủ yếu đối với 40% người bị
HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS. Trong những thế kỷ qua, sự gia tăng
người cao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Trong thế
kỷ này, nó đặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít cơ hội. Hàng triệu
người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình và thu nhập thấp đang đối mặt
với những vấn đề về nghèo đói và bệnh tật.
Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không bao
gồm người cao tuổi. Chương trình phát triển Thiên niên kỷ không trực tiếp liên
quan đến tuổi già. Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèo xuống 50% vào
năm 2015, người cao tuổi hầu như dùng lại ở nửa còn lại của người nghèo. Khi
nói về chăm sóc sức khoẻ, người cao tuổi vừa là người tự chăm sóc mình, lại vừa
là những người chăm sóc người khác. Sự gia tăng “người cao tuổi già” là thách
thức lớn, đặc biệt đối với gia đình và cộng đồng. Đồng thời, nhiều người cao tuổi
phải chăm sóc cháu do bố mẹ các em ra thành thị làm việc kiếm tiền hoăc bệnh

tật-chết do HIV/AIDS hay các bệnh liên quan.


Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, hàng triệu người cao tuổi sống dưới
mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu. Họ không có cả lương hưu tối
thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuộc sống và thường làm những công việc
không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc
bệnh tật, ốm đau. Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần
cùng. Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn,
giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ. Các hộ gia đình nghèo
ảnh hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em trong gia đình. Những người cao
tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha mẹ các em di cư ra thành thị
kiếm tiền. Những người cao tuổi ở các nước có thu nhập trung bình và thấp
không có cơ hội cải thiện cuộc sống. Vai trò của họ đối với gia đình và cộng
đồng thường không được biết đến và đánh giá đúng mức. Đặc biệt, đối với
những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trường
thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên
nhân khác về chính trị, môi trường không ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ.
2.2 Vai trò của an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam.
2.2.1 Thực trạng.
Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam đã được mở rộng trong
những năm vừa qua. Cho đến nay đã có nhiều chính sách, chương trình dành cho
người cao tuổi theo các nhóm đối tượng khác nhau, nhưng tập trung lại thì có các
nhóm chính sách về bảo hiểm xã hội (cụ thể là hưu trí và tử tuất), bảo hiểm y tế
và trợ cấp xã hội.


Về hệ thống BHXH (hưu trí và tử tuất)

Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” với tỷ lệ người cao

tuổi (NCT) từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số. Trong bối cảnh đó, tuổi thọ của
người dân được nâng cao, tiềm lực kinh tế của đất nước được cải thiện, chế độ
trợ giúp thường xuyên cho NCT cũng được điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi cho


phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hướng đến mục tiêu bù đắp để đảm bảo mức sống
tối thiểu cho đối tượng. Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (GSO) cho
thấy dân số Việt Nam đang già hóa với tốc độ chưa từng có. Số người cao tuổi sẽ
tăng gấp ba vào năm 2050 và như vậy sẽ tăng từ 9% đến 26% dân số. Với mức
lương hưu hiện nay là rất thấp, phần lớn người cao tuổi đều sống dựa vào người
thân trong gia đình.
Ngay từ những năm 1960, chính phủ đã xây dựng hệ thống bảo hiểm BHXH cho
người lao động, đặc biệt là bảo hiểm hưu trí, để đảm bảo cuộc sống của họ khi về
già yếu, hết tuổi lao động. Sau hơn 40 năm, hệ thống hưu trí đã có sự thay đổi
đáng kể để phù hợp với sự biến đổi kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự chuyển đổi từ
cơ chế bao cấp của chính phủ sang cơ chế đóng góp của người lao động. Đã có
nhiều văn bản pháp luật được ban hành cho các chế độ BHXH nhưng văn bản
cao nhất là Luật Bảo hiểm Xã hội đã được Quốc hội thông qua ngày 26/9/2006
và chính thức có hiệu lực từ 1/1/2007. Sau khi có sự ra đời của Luật BHXH,
hàng loạt các văn bản khác cũng được ban hành để triển khai thực hiện Luật,
nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi các chế độ BHXH cho các đối tượng, trong đó
có người cao tuổi, như Nghị định 68/2007/ NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một điều Luật BHXH; Nghị định số
184/2007/ NĐ-CP ngày 17/12/2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh lương
hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc; Nghị
định số 83/2008/NĐ-CP ngày 31/07/2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh tiền
lương, tiền công đã đóng BHXH đối với người lao động thực hiện chế độ tiền
lương do người sử dụng lao động quyết định… Tất cả những chính sách đó
nhằm khuyến khích sự tham gia của người lao động đối với hệ thống BHXH và
đảm bảo đời sống cho các đối tượng thụ hưởng, trong đó có người cao tuổi.

Mặt khác, trong xu thế phát triển chung, số người lao động tham gia bảo hiểm xã
hội, nhất là bảo hiểm xã hội bắt buộc tiếp tục tăng nhanh. Điều này có nghĩa là


số NCT có lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng cũng tăng nhanh
trong những năm tới đây (số người nghỉ hưởng chế độ hưu trí từ nguồn quỹ bảo
hiểm xã hội tăng từ 596,4 ngàn người năm 2006 lên trên 1 triệu người năm
2011). Thực tế này góp phần làm giảm gánh nặng ngân sách chi thực hiện an
sinh xã hội cho NCT và tạo điều kiện để mở rộng đối tượng là NCT được hưởng
chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng với mức chuẩn trợ cấp ngày càng đảm bảo hơn
cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ.
Trong các chế độ BHXH thì chế độ hưu trí là chế độ an sinh xã hội dài hạn, có
tác động mạnh nhất đến hệ thống BHXH về mặt tài chính. Theo quy định hiện
nay, nam giới từ 60 tuổi trở lên và nữ giới từ 55 tuổi trở lên có thể nhận lương
hưu khi thỏa mãn một số điều kiện về thời gian đóng góp. Hệ thống hưu trí của
Việt Nam hiện nay vận hành theo cơ chế thực thanh thực chi với mức hưởng
được xác định trước (PAYG DB). Tuy nhiên, với việc thiết kế và thực hiện như
hiện nay, hệ thống hưu trí Việt Nam sẽ không đáp ứng được các tiêu chí về bền
vững tài chính và công bằng trong điều kiện dân số già hóa, thậm chí người cao
tuổi có thể không được đảm bảo an ninh thu nhập từ hệ thống hưu trí này.


Về hệ thống Bảo hiểm y tế.

Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về BHYT của Việt Nam là Nghị định
299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban kèm
theo Điều lệ BHYT và sau đó Nghị định này được thay bằng Nghị định
58/1998/NĐ-CP nhằm điều chỉnh một số quy định cho phù hợp với những thay
đổi kinh tế-xã hội. Trong quá trình đó, Chính phủ cũng ban hành hàng loạt các
văn bản pháp luật cụ thể khác có liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

thông qua BHYT như Nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 với quy định người
già cô đơn thuộc diện trợ cấp xã hội được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế và
không phải trả tiền khi khám chữa bệnh tại các cơ sở công lập, hoặc chỉ trả một
phần viện phí do cơ quan bảo hiểm y tế trả cho cơ sở khám chữa bệnh; Pháp lệnh


Người cao tuổi ngày 28/4/2000 quy định rõ việc khám chữa bệnh miễn phí cho
các đối tượng người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa và không có nguồn
thu nhập; Nghị định 30/2002/NĐ- CP ngày 26/3/2002 quy định người cao tuổi
trên 100 tuổi được cấp thẻ BHYT mệnh giá 50.000 đồng hoặc được khám chữa
bệnh miễn phí theo phương pháp thực thanh thực chi; Quyết định 139/2002/QĐTTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám chữa bệnh cho người
nghèo là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị định 07/2000/NĐ-CP,
trong đó có người cao tuổi; Khoản 9, Điều 3 của Nghị định 63/2005/ NĐ-CP
ngày 16/5/2005 quy định rõ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, thuộc
hộ nghèo là một trong 14 nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc… Luật Bảo
hiểm Y tế - là văn bản pháp luật cao nhất về bảo hiểm y tế - được Quốc hội khóa
XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 có quy định một số điều liên quan
đến các đối tượng ưu tiên BHYT, trong đó có người cao tuổi.


Về hệ thống trợ cấp xã hội.

Trong những năm qua, tuổi để hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với NCT
từng bước được điều chỉnh. Nếu năm 2007 thực hiện theo Nghị định
67/2007/NĐ-CP, quy định người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ
cấp bảo hiểm xã hội được hưởng mức 120.000 đồng/tháng thì giai đoạn 20072009 bình quân hàng năm Nhà nước đã trợ cấp cho hơn 600 ngàn NCT. Từ năm
2010, thực hiện Nghị định số 13/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 67/2007 NĐCP đã nâng mức chuẩn trợ cấp lên 180.000 đồng/tháng, tuy không điều chỉnh độ
tuổi nhưng tổng số NCT được hưởng đã tăng lên 948 ngàn người. Đặc biệt, kể từ
khi Luật Người cao tuổi có hiệu lực (01/7/2010) và Nghị định số 06/2011/NĐCP hướng dẫn thực hiện Luật được ban hành đã quy định điều chỉnh giảm độ
tuổi hưởng trợ cấp xuống 80 tuổi (mặc dù không tăng mức chuẩn trợ cấp) thì cả

nước đã có hơn 1,3 triệu NCT được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng. Đến
nay, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP đã ban hành và có hiệu lực từ ngày


01/01/2014 đã tăng mức trợ cấp lên 270.000đ/tháng nhưng do điều kiện kinh tếxã hội, ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn nên bắt đầu từ ngày 1/1/2015,
việc tăng mức trợ cấp lên 270.000 đồng/tháng mới được triển khai áp dụng đối
với nhóm hộ nghèo. Việc thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng đã góp phần cải
thiện chất lượng cuộc sống của NCT, nhất là những NCT có hoàn cảnh khó
khăn.
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, một số địa phương có điều kiện
ngân sách đã nâng mức trợ cấp xã hội lên cao hơn mức quy định chung của Nhà
nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Quảng Ninh, Bà Rịa- Vũng
Tàu. Riêng tỉnh Bắc Ninh đã hạ tuổi hưởng chế độ trợ cấp xuống tuổi 75 để NCT
từ 75-79 được hưởng mức trợ cấp bằng 50% so với mức trợ cấp qui định chung.
Đây có thể coi là những bước đi thử nghiệm để tiếp tục thực hiện mở rộng đối
tượng hưởng để phù hợp với xu hướng già hóa dân số và khả năng ngân sách của
Nhà nước, hướng đến mục tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi NCT trên
phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, trong những năm qua, chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng đối với
NCT luôn được coi là một trong những chính sách cơ bản của hệ thống an sinh
xã hội ở Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu tiếp tục chuyển đổi
và hoàn thiện thể chế kinh tế, sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, quá trình phân
hóa giàu nghèo, già hóa dân số, biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến đời
sống dân sinh, đặc biệt là NCT- thuộc nhóm yếu thế thì công tác bảo trợ xã hội,
an sinh xã hội lại càng được quan tâm nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu về thu
nhập, chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cơ bản. Đặc biệt, Luật Người cao tuổi
được ban hành đã tạo điều kiện về cơ chế cho các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh
việc chăm lo và phát huy vai trò của NCT
2.2.2 Nguyên nhân và những vấn đề tồn tại trong thực hiện chế độ
cho người cao tuổi.



Trong những năm gần đây, an sinh xã hôi đối với người cao tuổi được thực hiện
khá tốt đã hình thành hệ thống chính sách khá toàn diện và đi vào thực tiễn, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT. Nhờ đó, công tác người cao tuổi
được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự thống
nhất trong thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với người cao tuổi. Tuy nhiên,
trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, một số chính sách đã không
còn phù hợp, còn nhiều vướng mắc và vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong quá
trình thực hiện như:
 Bảo hiểm xã hội.
- Sự phân biệt về giới tính và khu vực kinh tế giữa những người tham gia hệ
thống hưu trí và điều này sẽ dẫn đến bất công bằng về đóng và hưởng giữa
nam giới và nữ giới, giữa người làm việc trong khu vực nhà nước và khu
vực ngoài nhà nước.
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2007) cho thấy, cả nam giới và nữ
giới làm việc trong khu vực nhà nước sẽ có mức hưởng bình quân cao hơn đáng
kể so với những người làm việc trong khu vực ngoài nhà nước dù họ có cùng
thời gian tham gia và cùng mức đóng góp cho hệ thống . Cụ thể, nghiên cứu này
cho rằng lao động nữ và nam khu vực ngoài nhà nước chỉ nên đóng góp cho hệ
thống tương ứng khoảng 22 năm và 28 năm thì sẽ nhận được mức hưởng cao
nhất vì sau đó tỷ lệ hưởng tăng thêm cho mỗi năm đóng góp vào hệ thống sẽ
giảm dần. Chính vì lý do này mà hiện nay mức hưởng giữa những người về hưu
ở các ngành và khu vực khác nhau có sự chênh lệch rất lớn.
- Nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội chưa bền vững.
Việc vận hành hệ thống hưu trí theo cơ chế tài chính thực thanh thực chi
với mức hưởng được xác định trước (PAYG DB) đang tạo ra những nguy cơ
thâm hụt nặng nề cho quỹ bảo hiểm xã hội khi dân số ngày càng già hóa, nhưng
các chính sách điều chỉnh còn rất chậm và chỉ mang tính giải quyết tình thế như



tăng mức đóng góp, mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia... Những nghiên cứu
gần đây (ví dụ, Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006; Giang và Pfau, 2009c; Giản Thành
Công và cộng sự, 2010) đều cho thấy những điều chỉnh chính sách đó không thể
duy trì cân đối tài chính dài hạn cho hệ thống hưu trí Việt Nam. Ví dụ, dự báo
nguyên trạng hệ thống của Giang và Pfau (2009c) theo phương pháp tiếp cận
ngẫu nhiên7 cho thấy, với quy định và xu hướng tham gia như hiện nay, hệ
thống hưu trí Việt Nam sẽ cạn kiệt tài chính vào năm 2052 với độ chệch là 4 năm
và độ tin cậy là 90% . Quan trọng hơn, hệ thống hưu trí này còn có thể tạo ra một
khoản nợ lương hưu tiềm ẩn lớn, tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng
như là gánh nặng đối với thế hệ lao động trong tương lai như phải chịu mức
đóng góp cao. Tính toán của Giang Thanh Long (2013) và Bảo hiểm Xã hội Việt
Nam (2014) đều cho thấy, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, để cân
bằng quỹ thì tỷ lệ đóng góp phải tăng từ 20% như hiện nay lên gần 35% trong
vòng 20 năm tới. Đây là những thách thức đáng lo ngại, đòi hỏi phải chuyển đổi
hệ thống hưu trí theo hướng công bằng, hiệu quả và bền vững tài chính.
-Việc chậm điều chỉnh tuổi hưu theo sự gia tăng của tuổi thọ cũng như việc
điều chỉnh bất cân đối giữa mức đóng và mức hưởng.
Vấn đề này đang khiến cho nguy cơ người tham gia chỉ nhận được lương
hưu một thời gian ngắn hơn nhiều so với dự kiến. Tính toán của Bảo hiểm Xã
hội Việt Nam (2014) cho thấy một người lao động đóng góp trong 30 năm chỉ
tích lũy đủ để chi trả cho 8-10 năm khi nghỉ hưu, trong khi thời gian dự kiến
được hưởng khoảng 19 năm. Đây là thách thức lớn không chỉ về cân đối quỹ hưu
trí mà còn cả về an ninh thu nhập cho người cao tuổi.
Sự chậm chạp thay đổi và các quy định, ràng buộc khắt khe khiến cho hệ thống
bảo hiểm xã hội tự nguyện không thể hoạt động hiệu quả, mức ảnh hưởng ít và
bao phủ một tỷ lệ không đáng kể dân số cao tuổi (MoLISA, 2014). Bên cạnh
việc hạn chế về loại hình hưởng, chính sách và cách thức vận hành của hệ thống



BHXH tự nguyện chỉ đơn giản là “bản sao” của hệ thống BHXH bắt buộc. Với
một nước có thu nhập còn thấp và khu vực kinh tế phi chính thức còn lớn thì hệ
thống BHXH tự nguyện sẽ là kênh chủ yếu để huy động sự tham gia của người
lao động, nhằm đảm bảo đời sống kinh tế khi về già. Tuy nhiên, với các quy định
như hiện nay, hệ thống BHXH tự nguyện của Việt Nam khó có thể thực hiện vai
trò đó.
 Bảo hiểm y tế
- Chính sách viện phí đang tạo ra những khác biệt trong việc thanh toán
một số dịch vụ như thủ thuật, phẫu thuật, vật tư tiêu hao… làm ảnh hưởng
quyền lợi người bệnh BHYT, trong đó có người cao tuổi.
Hệ thống y tế tuyến huyện thay đổi theo Nghị định 172 của Chính phủ khiến cho
công tác khám chữa bệnh BHYT tại các trạm y tế trở nên khó khăn hơn khi mà
các nguồn lực còn chậm thay đổi (Đàm Hữu Đắc và cộng sự, 2010).
- Chính sách điều chỉnh còn chậm, chưa thiết thực nên phạm vi quyền lợi
của người tham gia BHYT bị hạn chế, chi phí xã hội cao.
Ví dụ, một số dịch vụ mang tính dự phòng, giúp chẩn đoán, điều trị sớm với lợi
ích kinh tế và xã hội cao lại không có trong gói quyền lợi. Hình thức đồng chi trả
đang tạo ra gánh nặng tài chính cho nhiều người cao tuổi có thu nhập thấp.
Nghiên cứu điều tra của Đàm Hữu Đắc và cộng sự (2010) còn cho thấy người
cao tuổi có thẻ BHYT khi đi khám bệnh thường đối mặt với nguy cơ bị “phân
biệt đối xử” do các cơ sở khám chữa bệnh muốn tránh những thủ tục thanh toán
rườm rà.
- Việc tổ chức triển khai chính sách BHYT cho người cao tuổi còn nhiều hạn
chế, trong đó nổi bật nhất là ở tuyến cơ sở với kinh phí thấp nên cơ sở vật chất
nghèo nàn, hầu như không có cán bộ chuyên ngành lão khoa và sự tham gia rất
hạn chế của các dịch vụ y tế tư nhân tại các địa phương. Chưa có nơi khám chữa
bệnh riêng và chính sách riêng về khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Việc phải


di chuyển đến những trung tâm y tế hoặc bệnh viện để khám bệnh bằng thẻ

BHYT đối với những người cao tuổi có sức khỏe kém là một thách thức lớn. Bên
cạnh đó, nguồn lực tài chính quan trọng là Quỹ khám chữa bệnh lại chưa được
triển khai có hiệu quả do chất lượng dịch vụ y tế tuyến xã còn hạn chế, kiến thức
về các vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người dân còn chưa đầy đủ, và
hạn chế trong các hoạt động truyền thông.
 Trợ cấp xã hội
- Cách thức xác định đối tượng còn mang tính chủ quan cao nên nhiều
người cao tuổi đáng nhẽ phải là đối tượng được thụ hưởng trợ cấp thì lại bị
loại bỏ khỏi danh sách.
Ví dụ, cho đến nay, việc xác định đối tượng nghèo, hộ nghèo hoặc xã nghèo ở
Việt Nam trong các chương trình, chính sách hỗ trợ xã hội đều dựa trên đường
nghèo do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MoLISA) xây dựng. Ngưỡng
nghèo của MoLISA được coi là mức thu nhập tham chiếu để quyết định mức hỗ
trợ. Những hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn ngưỡng nghèo này thì được
coi là đối tượng của các chương trình xã hội. Tuy nhiên, như nghiên cứu của
Ngân hàng Thế giới (2010) phân tích, ngưỡng nghèo của MoLISA đưa ra nhiều
khi được xác định bởi sự sẵn có của ngân sách trung ương và địa phương chứ
không dựa nhiều mức thu nhập có thể đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Đây cũng là lý
do mà chuẩn nghèo của MoLISA rất thấp so với những mức nghèo chuẩn được
Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế sử dụng.
- Có nhiều chính sách trợ cấp cho người cao tuổi nhưng còn rất manh mún
và chưa có tác động thực sự đến việc cải thiện cuộc sống vốn đã rất khó
khăn của người cao tuổi
. Ví dụ, mức trợ cấp cho người cao tuổi nghèo, sống cô đơn không nơi nương tựa
hiện nay chỉ là 180.000 đồng/tháng, trong khi giá cả tăng nhanh và các chi phí về


y tế ngày càng lớn và họ hầu như không có nguồn thu nhập nào khác ngoài
nguồn trợ cấp này.
- Hình thức hỗ trợ nhiều khi không phù hợp với đối tượng người cao tuổi.

Hình thức hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật thường được áp dụng đại trà
cho mọi đối tượng nên rất khó khăn cho một số đối tượng thụ hưởng vì lý do sức
khỏe, đi lại… Ví dụ, trợ cấp lương thực cho người cao tuổi sống cô đơn, sức
khỏe yếu không thể đi lại sẽ tốt hơn là trợ cấp bằng tiền mặt.
- Chính sách về nguồn nhân lực hoạch định và thực hiện các chính sách trợ
cấp xã hội còn chậm thay đổi, trong khi số đối tượng thụ hưởng ngày càng
tăng lên.
Do đó, cán bộ phụ trách rà soát đối tượng thụ hưởng khó có thể cập nhật tình
hình cụ thể để xác minh chính xác đối tượng. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ cán bộ
thực hiện và giám sát chương trình trợ cấp, đặc biệt ở những vùng có khó khăn
điều kiện đi lại và hạ tầng thông tin yếu, lại rất hạn chế nên không tạo động lực
cho họ trong việc cải thiện chất lượng công việc và đề xuất đổi mới.


Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA ASXH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
3.1 Nhóm giải pháp về ASXH
- ASXH phải có những điều chỉnh hợp lý trong thiết kế chế độ hưu, như tăng
mức đóng góp hoặc tăng tuổi nghỉ hưu (kéo dài thời gian đóng góp hơn) hoặc
tăng cả hai (vừa tăng mức đóng góp vừa tăng thời gian đóng góp BHXH).
- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH (hướng tới BHXH cho toàn bộ người lao
động) sẽ là một trong những giải pháp để tăng quy mô quỹ hưu trí và tăng khả
năng chi trả BHXH cho người thụ hưởng trong tương lai gần. Đồng thời, đòi hỏi
phải điều chỉnh, thiết kế lại quỹ hưu trí. Mặt khác, cần khai thác khía cạnh tích
cực của người cao tuổi. Khi có sự chăm sóc y tế tốt (ngay từ khi còn trẻ), người
cao tuổi ( 60, 65 tuổi trở lên) vẫn còn khỏe mạnh và vẫn có thể tạo ra thu nhập
cho bản thân và gia đình.
- Vấn đề đặt ra trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia là phải có chính sách việc
làm phù hợp cho người cao tuổi, để họ vừa duy trì được sức khỏe vừa có được
thu nhập.

- Mở rộng, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi với những
nguồn nhân lực và tài lực nhất định. Do điều kiện kinh tế- xã hội ở nước ta,
người cao tuổi ở Việt Nam có sức khỏe kém hơn so với những người cùng độ
tuổi ở các nước phát triển. Nói cách khác, tuổi thọ khỏe mạnh của người cao tuổi
Việt Nam thấp hơn so với nhiều nước, sống lâu nhưng không sống khỏe. Theo
một số số liệu thống kê, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam là 73 thì đã mất
12 năm ốm đau, bệnh tật.
- Phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi,
khuyến khích các hoạt động khám chữa bệnh miễn phí cho người cao tuổi. Cần


chú trọng xây dựng và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức
năng cho người cao tuổi dựa vào cộng đồng.
- Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động các cơ sở chăm sóc người cao tuổi
cùng với việc khuyến khích hỗ trợ các hoạt động chăm sóc người cao tuổi ở gia
đình, cộng đồng. Tiếp tục huy động tốt các nguồn lực xã hội để hỗ trợ giảm
nghèo, xóa nhà tạm, dột nát cho người cao tuổi.
3.2 Nhóm giải pháp về bản thân người cao tuổi
- Hiểu rõ chính sách, pháp luật của Nhà nước về An sinh xã hội cho người cao
tuổi
- Tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, èn luyện sức khoẻ; tham gia học
tập, hoạt động văn hoá, tinh thần
- Phát huy vai trò bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Phát huy vai trò "Nêu gương sáng"Hiến kế, hiến công vì quê hương, đất
nước”..
3.3 Nhóm giải pháp về phía Nhà nước
Nhà nước có thể xem xét những khuyến nghị sau đây nhằm cải thiện hiệu quả
của các chính sách về an sinh xã hội cho người cao tuổi:
Thứ nhất, thu hẹp khoảng cách về bao phủ đối tượng cho nhóm từ 60 đến 79
tuổi trong Nghị định 136/2013/NĐ- CP. Hai phương án sau đây có thể đem ra

xem xét:
- Hướng tới đối tượng là tất cả những người nghèo từ 65 đến 79 tuổi, hoặc giảm
độ tuổi đủ điều kiện từ 80 xuống 75 tuổi và xây dựng một lộ trình để giảm
ngưỡng tuổi này xuống nữa trong tương lai.
Thứ hai, khẩn trương thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP nhằm bù giá cho
mức hưởng do lạm phát. Thêm vào đó cần phải xem xét thiết lập chỉ mục mức
hưởng thay đổi theo lạm phát hoặc ít nhất phải thiết kế một quy trình để điều
chỉnh mức hưởng thường xuyên.


Thứ ba, khu vực miền núi phía Bắc, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cần nhanh
chóng cải thiện và mở rộng độ bao phủ của lương hưu xã hội cho người ở độ tuổi
từ 80 trở lên. Tất cả các khu vực và thành phố cần hướng tới việc đạt được độ
bao phủ ít nhất 80% tổng số đối tượng đến cuối năm 2014.
Thứ tư, Chính phủ Việt Nam cần xem xét việc thiết lập một chiến lược tổng thể
trung hạn nhằm đảm bảo an toàn thu nhập cho người cao tuổi, bao gồm cả lương
hưu xã hội và lương hưu đóng góp nhằm tạo dựng một Sàn An sinh Xã hội cho
người cao tuổi. Cần xem xét một chiến lược lâu dài cho một hệ thống lương hưu
và phúc lợi tổng thể cho người cao tuổi, nhằm đảm bảo sự gắn kết của chế độ
bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội.
Thứ năm, Chính phủ cần xem xét các cơ hội việc làm và phát triển kỹ năng cho
người cao tuổi như một phương pháp đảm bảo thu nhập và phúc lợi cho người
cao tuổi.
Thứ sáu, Bộ LĐTBXH và Tổng cục Thống kê cần phối hợp cải thiện dữ liệu và
thông tin sẵn có. Các cuộc khảo sát gần đây không cung cấp thông tin của từng
người thụ hưởng, quyền lợi và chính sách trợ giúp xã hội mà chỉ đưa ra thông tin
tổng hợp và ở cấp hộ gia đình, dẫn đến việc gần như không thể xác định được
mức độ ảnh hưởng của lương hưu xã hội hay các chính sách bảo trợ xã hội khác.
Thứ bảy, xây dựng hệ thống bảo hiểm hưu trí nhiều tầng và nhiều trụ cột
Để ứng phó với tình trạng già hóa dân số toàn cầu, Báo cáo “Phòng chống nguy

cơ già hoá: chính sách bảo vệ người cao tuổi và thúc đẩy tăng trưởng” của Ngân
hàng Thế giới năm 2005 đã đề ra chế độ bảo đảm dưỡng lão nhiều tầng bậc. Việt
Nam có thể tham khảo chế độ bảo đảm dưỡng lão này để xây dựng hệ thống an
sinh xã hội nhiều tầng.
Để chủ động ứng phó với tình trạng già hóa dân số, cùng với biện pháp nêu trên,
có thể xem xét điều chỉnh tuổi nghỉ hưu và thời hạn đóng bảo hiểm. Cần thực


hiện nghiêm tuổi nghỉ hưu để giảm số người nghỉ hưu trước tuổi, nâng tuổi nghỉ
hưu đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định.
Thứ tám, nên sớm xây dựng chế độ Bảo hiểm chăm sóc tuổi già. Thời gian qua,
chính sách xã hội với NCT được cải thiện khá rõ. Tuy nhiên, gần đây khi lạm
phát hơn 10% trong 4 tháng qua, thì cuộc sống NCT chắc chắn bị ảnh hưởng khá
nhiều.
-Khẩn trương xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia về chăm sóc sức khỏe
tuổi già (hướng dẫn rèn luyện sức khỏe, dinh dưỡng, ăn uống, chăm sóc sức khỏe
ban đầu cho NCT).
- Sớm xây dựng chế độ Bảo hiểm chăm sóc tuổi già - Đó là điều kiện tốt để sau
này NCT có thể vào sống ở các Trung tâm chăm sóc NCT mà không lo chi phí”.



×