Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.01 KB, 13 trang )

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ.

I. Phần thứ nhất: Di sản thừa kế.
Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý
khi trả lời.
- Căn cứ vào Điều 634, BLDS 2005 về Di sản thì:
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản
chung với người khác”.
- Trong di sản, không bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố mà nằm độc lập với di sản.
Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản
mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
- Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới
sau đó thì tài sản mới không là di sản.
- Vì tại thời điểm mở thừa kế thì tài sản của người quá cố đã trở thành di sản, nếu bị thay thế
bởi một tài sản mới thì tài sản đó không phù hợp với ý chí của người quá cố và tài sản đó cũng
không thuộc quyền sở hữu của người quá cố (nếu đó là động sản có đăng ký quyền sở hữu
hoặc bất động sản). Thêm vào đó, BLDS không có quy định về điều này. Do vậy, khi tài sản
do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài
sản mới không là di sản
Câu 3: Trong Quyết định số 30, theo Viện Kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp có là di sản của cố
Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?
- Trong Quyết định số 30, theo Viện Kiểm sát, đối với 02 tài sản tranh chấp thì căn nhà số 5
Hoàng Hoa Thám không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng, còn căn nhà số 122 Nguyễn
Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng.
- Vì tại Quyết định số 100/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 16/8/2011được trích trong Quyết định số
30, Viện kiểm sát nhận định:
“Sinh thời cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng có tài sản là căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám
diện tích 19 m2, căn nhà số 13 Đường Thiệu Trị (nay là 122 Nguyễn Hùng Sơn) toạ lạc trên
1



diện tích đất 270,5 m2. Cố Thái Anh chết năm 1975, cố Liêng chết năm 1977 không để lại di
chúc”.
Đến thời điểm cố Thái Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai.
Như vậy, căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn là tài sản chung của cố Thái Anh và cố Liêng nên
sau khi hai cố mất hai căn nhà là di sản của hai cố, thoả mãn Điều 634, BLDS 2005 Di sản
bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với
người khác.
Đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám thì Viện kiểm sát cho rằng khi cố Thái Anh và cố
Liêng còn sống thì đã cho cụ Thái Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967, do vậy, căn nhà số
5 Hoàng Hoa Thám không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng.
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Viện Kiểm sát.
- Hướng xác định trên của Viện kiểm sát đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám là có căn cứ
pháp luật.
Bởi vì căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám hai cố Thái Anh và cố Liêng đã cho cụ Thái Tri sử
dụng riêng và cụ Thái Tri đã hoàn thành thủ tục đứng tên sở hữu từ ngày 09/5/1967. Do đó,
căn nhà này Viện Kiểm sát nhận định đó không phải là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng là
có căn cứ.
- Còn đối với căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, hướng giải quyết xác định căn nhà số 122 là
di sản của cố Thế Anh và cố Liêng của Viện Kiểm sát là chưa thoả đáng và không có cơ sở.
Bởi vì căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn hai cố Thái Anh và cố Liêng đã cho cụ Hy vì cụ
Hy là con trai trưởng và có công chăm sóc hai cố, bác ruột và em ruột bị tâm thần, còn có
trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này. Thêm vào đó, cụ Thái Tri đã không có phản đối, tôn
trọng quyết định của cha mẹ. Do vậy, việc Viện Kiểm sát xác định căn nhà số 122 Nguyễn
Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng là không có cơ sở.
Câu 5: Trong Quyết dịnh số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp có là di sản
của cố Thái Anh và cố Liêng không? Vì sao?
- Trong Quyết dịnh số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp không là di sản của
cố Thái Anh và cố Liêng.
2



- Vì đối với căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám thì cố Thái Anh và cố Liêng còn sống thì đã cho
cụ Thái Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967, do vậy, căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám
không là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng.
Đối với căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn thì hai cố dành cho cụ Thái Thuần Hy căn nhà vì
cụ Hy là con trai trưởng, ở cùng và có công chăm sóc hai cố, chăm sóc bác ruột và em ruột là
cụ Lượng bị bệnh tâm thần và có còn có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này. Thực tế, khi cụ
Hy phá nhà cũ của hai cố, xây dựng nhà mới thì cụ Thái Tri còn sống và không phản đối, điều
này chứng tỏ cụ Thái Tri tôn trọng định đoạt của cha. Do đó, căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn
không còn là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng.
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán.
- Hướng giải quyết trên hợp tình và hợp lí.
- Bởi vì : Theo Điều 631, 632, 637, BLDS 2005 thì phần tài sản của cụ cố Thái Anh và cụ cố
Liêng phân chia rất hợp lí.
Thứ nhất căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám (nhỏ hơn) được chia cho cụ Tri bởi cụ Tri là con
thứ và không nuôi dưỡng, chăm sóc ba mẹ của mình.
Thứ hai căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn (lớn hơn) được chia cho cụ Thái Hy bởi vì cụ
Hy ở cùng cha mẹ và có công chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; nuôi dưỡng vợ chồng cố Thái
Cẩm An và nuôi em ruột là cụ Thái Thị Lượng bị tâm thần, đến khi những người này chết.
Như vậy thì tài sản đã được chia theo đúng với phần công được bỏ ra và theo nguyện vọng
của 2 cụ cố.
Câu 7: Xác định di sản của cụ Quế và cụ Minh trong tình huống nêu trên. Nêu rõ cơ sở pháp
lý khi xác định di sản của hai cụ.
- Do cụ Quế cho bà Ánh (con cụ Quế và cụ Minh) cất nhà trên phần diện tích đất 978 m2
(thuộc bản đồ số 10) nhưng không có văn bản tặng cho, do đó giao dịch tặng cho vô hiệu khi
căn cứ theo Điều 467, BLDS 2005 quy định về Tặng cho bất động sản:
“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc
phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.
3



2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản
không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển
giao tài sản”.
Vậy phần di sản bà Ánh là: 9520 : 6 = 1586 m2.
- Cụ Minh ký giấy cam kết sang nhượng cho vợ chồng ông Việt 600 m2 đất (thuộc bản số 10
xã Phước Long) và đã nhận tiền nên phần di sản còn lại của cụ Minh là:
9520 : 6 – 600 = 986 m2.
II. Phần thứ hai: Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản.
Câu 1: Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa
vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo BLDS, nghĩa vụ mang tính nhân thân của người quá cố đương nhiên chấm dứt.
Căn cứ vào Khoản 8, Điều 374, BLDS 2005 quy định về Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự:
“8. Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà nghĩa vụ
phải do chính cá nhân, pháp nhân, chủ thể đó thực hiện;”
- Theo BLDS, nghĩa vụ về tài sản của người quá cố thì không đương nhiên chấm dứt.
Căn cứ vào Điều 637, BLDS 2005 quy định về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để
lại
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di
sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được
người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ
trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Câu 2: Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố?
Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
4



Căn cứ vào Điều 637, BLDS 2005 về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì:
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di
sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được
người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ
trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Câu 3: Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao?
- Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng là nghĩa vụ về tài sản.
- Vì nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng không là nghĩa vụ đối với nhân thân – là những
nghĩa vụ do chính bản thân thực hiện. Do đó, nghĩa vụ đó là nghĩa vụ tài sản.
Câu 4: Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ
trên của bà Loan? Vì sao?
- Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán thì những người thừa kế của bà Loan là người phải
thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan.
- Vì căn cứ vào Điều 637 về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì:
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di
sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được
người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ
trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”

5


Câu 5: Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi
họ còn sống?
- Trong Quyết định số 26, Toà án xác định ông Vân có công chăm sóc cha mẹ và công quản lí
di sản, ông Vi có công lớn trong việc nuôi dưỡng cha mẹ (ông Vi là người gửi tiền cho cha mẹ
để không phải bán nhà).
Câu 6: Trong Quyết định trên, theo Toà giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào?
- Trong Quyết định trên, theo Toà giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ
của ông Vân, ông Vi được xử lý theo hướng: ông Vân và ông Vi có công sức chăm sóc, nuôi
dưỡng cha mẹ nhưng không xác định rõ công sức chăm sóc cha mẹ và quản lý di sản mà ông
Vân, ông Vi được hưởng là bao nhiêu để đối trừ, số tiền còn lại mới chia cho các đồng thừa kế
là chưa hợp tình, hợp lý.
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ
với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố).
- Hướng xử lý trên của Toà giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ
về nghĩa vụ của người quá cố) là thoả đáng.
- Vì trên đất tranh chấp có 02 ngôi nhà hai tầng và 01 ngôi nhà trần làm công trình phụ, các
đương sự không thông nhất được các phần diện tích nhà nào là của ai nhưng Toà án các cấp
lại xác định 02 ngôi nhà một tầng là tài sản của cụ Phúc, cụ Thịnh là chưa có căn cứ vững
chắc, có thể vi phạm đến quyền lợi của người khác. Bên cạnh đó, công chăm sóc cha mẹ, quản
lý của ông Vân và việc nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vi cũng không được Toà án các cấp xác
định rõ để đối trừ, số tiền còn lại mới chia cho các đồng thừa kế. Như vậy, là chưa thoả đáng,
hợp tình. Do đó, Toà giám đốc thẩm đã huỷ bản án phúc thẩm và sơ thẩm, yêu cầu xem xét lại
là đúng với căn cứ của pháp luật.
III. Phần thứ ba: Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế.
Câu 1: Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế.
6



Có 3 loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế:
- Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc phản đối quyền thừa kế của người khác:
được quy định Điều 645, BLDS 2005 và Khoản 2, Điều 623, BLDS 2015:
“2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền
thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
- Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết
để lại: được quy định tại Điều 645, BLDS 2005:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết
để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
- Thời hiệu yêu cầu chia di sản:
+ Theo Điều 645, BLDS 2005 thì:
“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của
mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
+ Theo Khoản 1, Điều 623 BLDS 2015 thì:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm
đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
Câu 2: Yêu cầu của ông Trạch có trong thời hiệu không trong trường hợp nhà ở do cụ Tành
và cụ Chắc tạo lập? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Yêu cầu của ông Trạch chỉ có thời hiệu một phần trong trường hợp nhà ở do cụ Tành và cụ
Chắc tạo lập, cụ thể là chỉ có hiệu lực đối với phần di sản của cụ Chắc.
- Vì cụ Tành mất tháng 2/1986 tính đến nay đã quá 10 năm, do đó căn cứ vào Điều 645,
BLDS 2005:
“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Do vậy, yêu cầu chỉ có thời hiệu trong phần di sản của cụ Chắc vì cụ Chắc mất tháng
12/2006, tính đến nay chưa hết 10 năm.
Thêm vào đó, căn cứ vào quy định của Khoản 1, Điều 643, BLDS 2005:
“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

7


a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược
đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm
của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng
một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di
chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di
sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
Theo đó, ông Trạch không thuộc những trường hợp không được quyền hưởng di sản. Do
vậy, ông Trạch không có quyền yêu cầu chia di sản trong trường hợp nhà ở do cụ Tành và cụ
Chắc tạo lập, mà chỉ có quyền yêu cầu chia di sản đối với phần di sản của cụ Chắc.
Câu 3: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi bà Sắc định cư tại Mỹ từ năm 1990 và
nhà ở do cụ Tành và cụ Chắc tạo lập? Vì sao?
- Câu trả lời cho câu hỏi trên không khác khi bà Sắc định cư tại Mĩ từ năm 1990 và nhà ở do
cụ Tành và cụ Chắc tạo lập.
- Vì cụ Tành mất tháng 2/1986 tính đến nay đã quá 10 năm, do đó căn cứ vào Điều 645,
BLDS 2005:
“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Do vậy, yêu cầu chỉ có thời hiệu trong phần di sản của cụ Chắc vì cụ Chắc mất tháng
12/2006, tính đến nay chưa hết 10 năm.
Thêm vào đó, căn cứ vào quy định của Khoản 1, Điều 643, BLDS 2005:
“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược
đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm
của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
8


c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng
một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di
chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di
sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
Theo đó, ông Trạch không thuộc những trường hợp không được quyền hưởng di sản. Do
vậy, ông Trạch không có quyền yêu cầu chia di sản trong trường hợp nhà ở do cụ Tành và cụ
Chắc tạo lập, mà chỉ có quyền yêu cầu chia di sản đối với phần di sản của cụ Chắc.
- Còn đối với bà Sắc thì tòa có thể nhờ Bộ tư pháp ủy thác tư pháp cho Tòa án ở Hoa kỳ lấy
lời khai (cách này giải quyết tốn thời gian) hoặc bà Sắc tự khai rồi công chứng lời khai, hợp
pháp hóa lãnh sự gởi về cho tòa ý kiến của mình (cách này nhanh hơn).
Câu 4: Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên có khác không khi bà Sắc định cư tại Mỹ từ năm 1990
nhưng nhà ở trên đất không là của cụ Tành và cụ Chắc (mà do người quen được mượn đất cất
nhà để ở nhờ)? Vì sao?
- Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên có khác khi bà Sắc định cư tại Mỹ từ năm 1990 nhưng nhà ở
trên đất không là của cụ Tành và cụ Chắc (mà do người quen được mượn đất cất nhà để ở
nhờ).
- Vì căn cứ Điều 634, BLDS 2005 quy định về Di sản:
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản
chung với người khác.”
Theo đó, căn nhà không thuộc quyền sở hữu của cụ Tành và cụ Chắc nên sẽ không là di sản
mà chỉ có mảnh đất là di sản của hai cụ. Như vậy, ông Trạch chỉ được yêu cầu chia di sản đối
với mảnh đất ứng với phần của cụ Chắc. Còn đối với bà Sắc thì tòa có thể nhờ Bộ tư pháp ủy
thác tư pháp cho Tòa án ở Hoa kỳ lấy lời khai hoặc bà Sắc tự khai rồi công chứng lời khai,
hợp pháp hóa lãnh sự gởi về cho tòa ý kiến của mình.
Câu 5: Theo quy định hiện hành, trong trường hợp (điều kiện) nào di sản (hết thời hiệu khởi

kiện để chia thừa kế) được chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế?
9


Theo quy định hiện hành thì trong trường hợp nếu hết thời hiệu mà có cơ sở chứng minh
rằng những người thừa kế vẫn ghi nhận di sản thì di sản sẽ trở thành tài sản chung của các
đồng thừa kế. Cụ thể theo Điểm 2.4, Điều 2, Mục I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP
ngày 10/8/2004 hướng dẫn thì:
“2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế
không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau
khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và
đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung
của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu
khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để
giải quyết và cần phân biệt như sau:
a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc
chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản
chung đó được thực hiện theo di chúc.
a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được
hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả
thuận của họ.
a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi
người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện
theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp
quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn,
quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.”
Câu 6: Nếu hết thời hiệu chia di sản thừa kế và không đủ điều kiện chuyển di sản thành tài
sản chung của các đồng thừa kế, di sản thừa kế được xử lý như thế nào?

- Theo BLDS 2005, nếu hết thời hiệu chia di sản thừa kế và không đủ điều kiện chuyển di sản
thành tài sản chung của các đồng thừa kế thì vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định tài
sản đó thuộc quyền sở hữu của ai, cơ quan nào có thẩm quyền sử lý. Nên di sản thừa kế sẽ
10


được xử lý theo từng phiên tòa theo nhiều hướng khác nhau ví dụ như: để người đang quản lý,
sử dụng di sản tiếp tục quản lý, sử dụng di sản là hướng giải quyết hay được các Tòa án áp
dụng.
- Theo Khoản 1, Điều 623, BLDS 2015 thì có quy định như sau:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm
đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa
kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản
được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ
luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản
này.”
Câu 7: Cần xử lý phần di sản do cụ Tành để lại như thế nào trong tình huống trên? Vì sao
- Di sản do cụ Tành để lại sẽ được chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế.
- Bởi vì trong tình huống không nhắc đến chuyện các đồng thừa kế tranh chấp về hàng thừa
kế và không ai phủ nhận di sản là của cụ Tành để lại nên các điều kiện xem như hội đủ. Như
vậy, do ông Chanh có công quản lí di sản nên sẽ nhận được một khoản tiền tương ứng từ giá
trị tài sản chung, sau đó tài sản còn lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế. Còn nếu các bên có
xảy ra tranh chấp thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về
chia tài sản chung.
Câu 9: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không khi ông Trạch yêu cầu chia di sản vào
tháng 1/2017? Vì sao?
- Trong trường hợp ông Trạch yêu cầu chia di sản vào tháng 1/2017 thì những câu trả lời trên
sẽ không khác.

- Vì theo Khoản 3, Điều 623, BLDS 2015 có quy định:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm
đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
11


Như vậy, di sản của cụ Tành và cụ Chắc là một mảnh đất và trên đất có nhà ở, do đó di sản
là bất động sản nên có thời hiệu yêu cầu là 30 năm. Tính từ thời điểm cụ Tành mất là vào
tháng 2/1986 đến năm 2017 đã hơn 30 năm nên và cụ Chắc mất là vào tháng 12/2006 tính đến
năm 2017 đã được 11 năm là chưa quá thời hiệu mà Pháp luật quy định nên yêu cầu chia di
sản của ông Trạch vẫn được chấp nhận nhưng chỉ đối với phần di sản của cụ Chắc.
IV. Phần thứ tư: Tìm kiếm tài liệu.
Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản và thừa kế được công bố trên các
Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2014 đến nay. Khi liệt kê, yêu cầu viết theo trật tự
theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn những thông tin theo trật tự sau : 1) Họ và tên
tác giả, 2) Tên bài viết in nghiêng, 3) Tên Tạp chí, 4) Số và năm của Tạp chí, 5) Số trang của
bài viết (ví dụ : từ tr. 41 đến 51). Các bài viết được liệt kê theo alphabet tên các tác giả
(không nêu chức danh).
- Những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản:
+ Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4/2015, từ tr. 3 đến 11.
+ Đỗ Văn Đại và Nguyễn Nhật Thanh, Rủi ro đối với tài sản trong pháp luật Việt Nam, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 6/2015, từ tr. 3 đến 11.
+ Nguyễn Văn Hợi, Điều kiện phát sinh bồi thường thiệt hạu do tài sản gây ra trong Bộ luật
Dân sự, Tạp chí Luật học, số 12/2015, từ tr. 47 đến 57.
+ Nguyễn Thị Long, Chế định tài sản theo quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi),
Tạp chí Luật học, số đặc biệt 6/2015, từ tr. 73 đến 81.
+ Vũ Thị Hồng Yến, Áp dụng nguyên tắc vật quyền nhằm khắc phục những hạn chế của chế
định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự, Tạp chí Luật học, số đặc biệt 6/2015, từ tr.
82 đến 91.

+ Vũ Thị Hồng Yến, Mối quan hệ giữa tài sản, vật và quyền tài sản trong pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, Tạp chí Luật học soó
8/2015, từ tr. 61 đến 72.
+ Vũ Thị Hồng Yến, Đăng kí trực tuyến giao dịch bảo đảm bằng bất động sản nhu cầu, thực
trạng và giải pháp, Tạp chí Luật học số 1/2016, từ tr. 68 đến 76.
12


+ Vũ Thị Hồng Yến, Khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự và kiến nghị sửa đổi Bộ luật
Dân sự 2005, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21 (301) tháng 11/2015, từ tr. 30 đến 36.
- Những bài viết liên quan đến pháp luật về thừa kế:
+ Đoàn Thị Phương Diệp, Sự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự với các quy định xác lập quyền
thừa kế, Tạp chí Nghien cứu lập pháp, số 13 (293) tháng 7/2015, từ tr. 49 đến 54.
+ Phạm Thị Hằng, Bản án không quy định về việc người chiến hữu, sử dụng, quản lý phần di
sản hết thời hiệu được tiếp tục quản lý di sản đó, Tạp chí Toà án nhân dân kỳ I, số 3 tháng
2/2015, từ tr. 29 dến 31.
+ Đỗ Văn Đại, Về thời hiện khởi kiện yêu cầu chia di sản, Tạp chí Toà án nhân dân kỳ I, số
11 tháng 6/2015, từ tr. 1 đến 5.
+ Đỗ Văn Đại và Nguyễn Ngọc Hồng Phượng, Thời hiệu yêu cầu chia di sản trong Bộ luật
Dân sự 2015 kỳ I, Tạp chí Toà án nhân dân, số 4/2016, từ tr. 22 đến 27.
+ Phan Thị Hồng, Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Bộ luật Dân sự 2005,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1 (281) tháng 1/2015, từ tr. 35 đến 39.
+ Lê Văn Sua, Toà án phải bác yêu cầu đòi lại di sản của nguyên đơn, Tạo chí Luật sư Việt
Nam, số 7 tháng 7/2015, từ tr. 25 đến 28.
+ Lê Văn Sua, Tranh chấp tài sản thuộc về sở hữu chung của dòng họ: Điều kiện thụ lý giải
quyết đơn khởi kiện, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 1 + 2 tháng 1 + 2/2016, tr. 53 đến 56.
+ Phạm Văn Tuyết, Góp ý về chế định thừa kế trong dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi, Tạp chí
Dân chủ và pháp luật, số 6 (279) năm 2015, từ tr. 12 đến 16.

13




×