Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (653.09 KB, 90 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ KIỀU LÝ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ KIỀU LÝ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC


TS. HÀ THỊ THƢ

HÀ NỘI, năm 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời biết ơn sâu sắc đến Ban giám đốc, các Khoa,
Phòng và Quý Thầy, Quý Cô trong Học Viện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình
truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn thạc sĩ Chính sách công. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến TS Hà Thị Thư người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn và
dành thời gian, tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này.
Bên cạnh đó tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Ủy ban nhân dân quận
Hải Châu, cùng các đồng nghiệp công tác tại Ủy ban nhân dân quận Hải Châu
và các Lãnh đạo Học Viện Khoa học xã hội… đã luôn quan tâm, giúp đỡ,
động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự góp ý của
quý Thầy, Qúy Cô và bạn bè. Xin trân trọng cảm ơn!
Trần Thị Kiều Lý


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả luận văn


Trần Thị Kiều Lý


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH AN SINH XÃ HỘI............................................................................... 8
1.1. An sinh xã hội: Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu .......................................... 8
1.2. Khái niệm chính sách an sinh xã hội........................................................ 11
1.3. Thực hiện chính sách an sinh xã hội: Khái niệm, ý nghĩa tầm quan
trọng của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội......................................... 14
1.4. Các phương pháp, các bước tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã
hội .................................................................................................................... 16
1.5. Những yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức thực hiện chính sách an
sinh xã hội ....................................................................................................... 21
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã
hội .................................................................................................................... 24
1.7. Tổ chức bộ máy để thực hiện chính sách an sinh xã hội ......................... 28
CHƢƠNG 2. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI, TỪ
THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................. 31
2.1. Thực trạng chính sách an sinh xã hội tại quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng ................................................................................................................ 31
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng.................................................................................................... 33
2.3. Kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng ............................................................................... 40
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách an sinh xã hội, từ thực tiễn
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ............................................................... 53



CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở QUẬN HẢI
CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................... 60
3.1. Nhu cầu, mục tiêu, định hướng về thực hiện chính sách an sinh xã hội
trên địa bàn quận Hải Châu ............................................................................. 60
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội .......... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

: An sinh xã hội

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

BHTN

: Bảo hiểm thất nghiệp

ĐTCS


: Đối tượng chính sách

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LĐ-TB&XH

: Lao động - Thương binh và Xã hội

NHCSXH

: Ngân hàng Chính sách xã hội

UBND

: Ủy ban nhân dân

UBMTTQ

: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.
2.2.


Tên bảng
Tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc của quận
Hải Châu từ 2010 - 2015
Số đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế

Trang

46
48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An sinh xã hội (ASXH) là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước ta, thể hiện quyền cơ bản của con người và là công cụ để đảm bảo
xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh và không có sự loại trừ. ASXH có
nguyên tắc cơ bản là đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng đối
với các rủi ro trong đời sống, do vậy có tác dụng thúc đẩy sự đồng thuận, bình
đẳng và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống ASXH thông qua tác động
tích cực của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập và các dịch
vụ xã hội, sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu lao động
nói riêng và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế nói chung.
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác chăm
lo đời sống của nhân dân, mà nổi bật là chính sách ASXH, coi việc tổ chức
thực hiện chính sách ASXH là một vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội.
Tại thành phố Đà Nẵng, ASXH luôn được Đảng bộ và chính quyền các
cấp quan tâm chỉ đạo và nỗ lực thực hiện. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành
phố lần thứ XXI đã chỉ rõ: “Phát triển các lĩnh vực văn hóa – xã hội tương
xứng với vị thế trung tâm kinh tế - xã hội. Tiếp tục đầu tư phát triển sự nghiệp

y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây
dựng Đà Nẵng thành trung tâm khám, chữa bệnh chất lượng cao. Phấn đấu
đến năm 2020, toàn dân tham gia bảo hiểm y tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu
quả chương trình thành phố “5 không”, “3 có” và các chính sách an sinh xã
hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Ở quận Hải Châu, ASXH luôn là vấn đề mang tính chiến lược, lâu dài,
vừa mang tính cấp bách, được Đảng bộ và chính quyền quận quan tâm. Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ V, giai đoạn 2015-2020 đã chỉ rõ: “Phát
1


triển văn hóa – xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế. Công tác chính sách –
xã hội được quan tâm, phát triển sâu rộng, cải thiện đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội như tạo việc
làm, giảm nghèo, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế”.
Trong những năm qua, quận đã triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc
và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ASXH.
Ngoài những chính sách ưu đãi của trung ương, thành phố, quận đã huy động
cả hệ thống chính trị từ quận đến phường và các tổ chức, cá nhân tham gia
tích cực vào việc thực hiện chính sách ASXH bằng những việc làm cụ thể
như: huy động bảo đảm nguồn lực tạo điều kiện cho người nghèo từng bước
ổn định cuộc sống, hỗ trợ phương tiện làm ăn, học bổng, nhà ở, các điều kiện
sinh hoạt và nâng cao thu nhập; đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ bảo hiểm;
tham gia huy động, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; thường xuyên chăm sóc,
phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Từ những việc làm thiết thực,
cụ thể nêu trên, đã tác động một cách tích cực, trực tiếp đến các đối tượng, đã
giúp cho các đối tượng chính sách ổn định cuộc sống, tiếp tục củng cố niềm
tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng và Nhà Nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại,
hạn chế như: vấn đề tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ cận

nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội còn thấp; giáo dục và đào tạo chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người dân, nhất là
đối với người nghèo; tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao và giảm chậm; tỉ lệ
người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp; nguồn lực thực hiện
cho người có công chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức… những tồn tại,
hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, nếu không có những
giải pháp kịp thời để khắc phục, hoàn thiện, sẽ ảnh hưởng đến chủ trương và
chính sách lớn rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
2


Xuất phát từ những lý giải trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính
sách an sinh xã hội từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” để làm
luận văn khóa học với mong muốn thông qua thực tiễn việc đánh giá, phân
tích những thành tựu, c ng như những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức
thực hiện, nhằm giúp cho cấp có thẩm quyền nhìn nhận bổ sung, hoàn thiện
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH trong cả nước nói chung và
quận Hải Châu nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quận Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, là một trong
những địa phương thực hiện có hiệu quả các quan điểm chỉ đạo của Thành ủy
và UBND thành phố trên lĩnh vực đảm bảo ASXH.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách ASXH trên địa
bàn quận Hải Châu c ng gặp không ít những thách thức, những bất cập và
khó khăn trên cả góc độ tổ chức thực hiện, giải pháp và cả trong ý thức của
người dân.
Vì thế việc nghiên cứu một cách khoa học, đánh giá một cách toàn diện
việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn quận là việc làm cần thiết,
nhằm hướng tới việc xem xét, nhìn nhận quá trình tổ chức thực hiện chính sách
trên địa bàn một địa phương cấp quận, từ đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp

thực hiện chính sách một cách có hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Đã có khá nhiều bài viết trên các sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài
khoa học, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực ASXH. Dưới đây là
một số đề tài, mà tác giả được biết:
- Bài viết của tác giả V Văn Phúc, tạp chí Cộng sản “An sinh xã hội ở
nước ta, một số vấn đề lý luận thực tiễn”. Bài viết đã nêu ra các trụ cột chính
trong cấu trúc của hệ thống ASXH, vạch ra những hạn chế, thách thức trong
việc thực hiện chính sách ASXH hiện nay, đồng thời đề ra các quan điểm,
3


mục tiêu, yêu cầu, các giải pháp đổi mới nhằm hoàn thiện hệ thống ASXH
trong giai đoạn mới[26].
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Chiêu, Khoa Khoa học quản lý,
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội “An
sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã
hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”. Bài viết
đã chỉ ra vai trò của hệ thống ASXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện
nay, đồng thời đề ra những định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của
khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam[12].
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Mai Ngọc Anh, trường Đại học
Kinh tế Quốc dân với đề tài “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện
kinh tế thị trường ở Việt Nam”. Trong phạm vi luận án này, tác giả chủ yếu
đề cập đến các nhân tố, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH
hiện đại đối với nông dân. Từ đó làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn trong
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện
kinh tế thị trường[2].
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Chương Phát, trường Đại
học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh với đề tài “Ảnh hưởng của hệ thống An
sinh xã hội tới vấn đề nghèo đói hộ nông dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”,

trong đề tài này trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng hệ thống ASXH tới nghèo đói
của hộ nông dân huyện Văn Chấn, tác giả đã đưa ra các kiến nghị, giải pháp
toàn diện nhằm xây dựng hệ thống ASXH đảm bảo giữa tăng trưởng kinh tế
với xóa đói giảm nghèo [19].
Đối với quận Hải Châu, vấn đề thực hiện chính sách ASXH luôn được
xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, trong những năm qua, tuy đạt được một số thành quả nhất
định, góp phần ổn định đời sống của một bộ phận dân cư, tạo điều kiện phát
4


triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận, song kết quả giảm nghèo chưa thật sự
bền vững, việc trợ giúp xã hội đối với những đối tượng yếu thế và việc thực
hiện chính sách đối với người có công vẫn còn mang nặng yếu tố phụ thuộc
vào nhà nước, chưa thực sự huy động được nguồn lực của toàn xã hội. Vấn đề
đặt ra cho việc thực hiện chính sách trên địa bàn quận hiện nay là làm sao để
chính sách thực sự đi vào đời sống xã hội, góp phần đảm bảo công bằng và
tiến bộ xã hội, ổn định vững chắc đời sống nhân dân nhất là đối với các đối
tượng thụ hưởng chính sách. Mặt khác, chính sách ASXH tại quận Hải Châu
cho tới nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, cả trên phương diện lý
luận và thực tiễn.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của
mình, luận văn có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các đề tài liên
quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với
tình hình thực tế và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của quận Hải Châu
nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn (thông qua nghiên cứu
thực tiễn tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) về thực hiện chính sách

ASXH. Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần từng bước hoàn thiện chính
sách và bảo đảm thực hiện chính sách ASXH.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nh t là hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực
hiện chính sách ASXH.
Thứ hai khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình; đặc biệt là nêu
phương pháp, cách thức thực hiện; nêu rõ những thành tựu và hạn chế, bất cập của
tổ chức thực hiện chính sách ASXH ở quận Hải Châu từ năm 2010 đến năm 2015.
5


Thứ a, đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách trên địa
bàn quận và kiến nghị các nội dung nhằm góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách
ASXH trong cả nước nói chung và quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách ASXH, cụ thể là nghiên cứu giải pháp và công cụ chính
sách ASXH dưới góc độ khoa học chính sách công. Tuy nhiên, ASXH là một
chính sách rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy
người viết không có tham vọng đi sâu nghiên cứu sự tác động của chính sách
ASXH trên tất cả các lĩnh vực đó, mà chỉ giới hạn trong các chính sách giảm
nghèo; chính sách Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chính sách đối với người
có công với cách mạng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu tình
hình thực hiện chính sách ASXH trong các lĩnh vực nêu trên, giai đoạn từ
năm 2010 đến nay và đề ra giải pháp hoàn thiện chính sách ASXH từ thực
tiễn quận Hải Châu trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Cách tiếp cận quy phạm chính sách
công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá
chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách
công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về
chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng
6


để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; Nghị quyết, Quyết
định, các văn bản của Quận ủy, UBND quận Hải Châu; các công trình nghiên
cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ
chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách an sinh
xã hội ở nước ta nói chung và thực tế quận Hải Châu nói riêng. Đồng thời, thu
thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên
quan đến vấn đề chính sách an sinh xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đóng góp bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về chính sách ASXH
ở nước ta hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng tình hình thực hiện chính sách
ASXH; nhằm tiếp tục duy trì, phát huy những ưu điểm, cách làm mới, hay mang
lại hiệu quả thiết thực; đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế, đề ra các giải
pháp để tổ chức thực hiện tốt hơn chính sách ASXH trên địa bàn quận Hải Châu.
7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cơ cấu gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã
hội.
Chương 2. Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện
chính sách an sinh xã hội ở quận Hải Châu.
7


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI
1.1. An sinh xã hội: Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu
1.1.1. Khái niệm an sinh xã hội
- Trong cuốn „„Cẩm nang an sinh xã hội” của Tổ chức Lao động Quốc
tế (ILO) cho rằng: ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các
thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để
đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc
suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động,
mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp
cho các gia đình nạn nhân có trẻ em [15].
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng
nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế
được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những
bấp bênh thu nhập[1].
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống
chính sách công liên quan đến sự bảo đảm bảo an toàn cho tất cả các thành
viên trong xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn đề mà ISSA quan

tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT; hệ
thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp; trợ giúp xã hội.
Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực ASXH còn nhiều mới mẻ nhưng c ng đã
dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về
vấn đề này.
- Theo tác giả Hoàng Chí Bảo:ASXH là sự an toàn của cuộc sống con
8


người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con người
và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con
người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt
động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách.
- Tác giả Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất của
ASXH, chúng ta cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái
niệm này.
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con
người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội [11, tr.21].
+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện
thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho
những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế,
người bị thiên tai địch hoạ [11, tr.22].
- Trong bài „„Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020”,
Thủ tướng Nguyễn Tấn D ng cho rằng “an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ
thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người
dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường;
vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân

dân”[12, tr.3].
- Trong “Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020” ghi nhận: “An
sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội
thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp
trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
[16].
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của các tổ chức, các nhà khoa
9


học trong và ngoài nước, theo tác giả: “An sinh xã hội là mạng lưới các chương
trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ
giúp, hỗ trợ, ảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc iệt là các cá nhân gặp phải rủi
ro hay khó khăn trong cuộc sống, ảo đảm mức sống tối thiểu và góp phần nâng
cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến ộ xã hội”.
1.1.2. Nhu cầu, đặc điểm của an sinh xã hội
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người không
ngừng tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất nhằm duy trì sự sống và
tồn tại của mình. Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động c ng đảm bảo
chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định. Đó là
những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất
hoặc giảm việc làm.v.v. Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người
không phải lúc nào c ng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên,
môi trường, xã hội.v.v. Vì thế, sự cần thiết phải có các biện pháp phòng tránh
và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người. Đặc biệt trong
nền sản xuất công nghiệp, khi mà số lượng người lao động có thu nhập chính
từ tiền lương tăng lên thì sự hụt hẫng về thu nhập trong các trường hợp gặp
rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động càng trở thành mối đe dọa đối
với cuộc sống của họ. Chính vì thế, một trong những nhu cầu xã hội hiện đại
là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ

bị giảm sút hoặc bị mất nguồn thu nhập trước các cú sốc về kinh tế - xã hội
hay chính là đảm bảo ASXH cho người dân. Tuy nhiên, tùy theo trình độ phát
triển kinh tế - xã hội, tùy theo cách tiếp cận, giải quyết vấn đề mà mỗi quốc
gia có quan điểm, thể chế chính sách và thể chế tổ chức cụ thể về hệ thống
ASXH nhằm thực hiện chức năng bảo vệ các thành viên trong xã hội của
mình.

10


1.2. Khái niệm chính sách an sinh xã hội
Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức
về chính sách ASXH, tiếp cận nó từ góc độ quyền con người và coi việc thực
hiện chính sách ASXH là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Hiến pháp năm 1946 đã xác định: “Người lao động được bảo đảm
quyền việc làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…”.
Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo
xã hội cho mọi người. Trong đó nhấn mạnh, Nhà nước thực hiện chế độ
BHXH đối với người công chức nhà nước và người làm công ăn lương,
khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động.
Ngay sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất (năm 1975) bước
vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà
nước ta vẫn luôn xác định công tác chăm lo cho người nghèo, người có công
với cách mạng là một trong những vấn đề cần quan tâm hàng đầu của đất
nước; Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII trong thời
kỳ đổi mới của đất nước đã xác định coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề
để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động
lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghị quyết Đại hội VIII đã xác định phải thực hiện và hoàn thiện chế

độ BHXH, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được
cải thiện… Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện. Thực hiện các chính
sách bảo trợ trẻ mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến
tranh, người tàn tật. Đặc biệt Nghị quyết đã nhấn mạnh phải xây dựng luật
BHXH, luật về bảo vệ người tàn tật và trẻ em mồ côi. Đến Đại hội IX của
Đảng, lần đầu tiên trong Nghị quyết đã sử dụng thuật ngữ ASXH và chủ
trương: “Mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [17, tr.34].
11


Trên cơ sở những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh năm 1991, Cương
lĩnh xây dựng và phát triển đ t nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển
năm 2011) đã có một số điểm mới quan trọng, xác định rõ hơn định hướng,
như: Gắn nghĩa vụ với quyền lợi; cống hiến với hưởng thụ; lợi ích cá nhân và
lợi ích tập thể cộng đồng xã hội. Tạo môi trường để người lao động có việc
làm tốt hơn. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững;
giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, tầng lớp dân
cư. Một trong những định hướng lớn mà Đảng ta chỉ rõ phải thực hiện là:
“Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Thực hiện tốt chính sách đối với người
có công và gia đình người có công với nước” [14, tr.79].
Bảo đảm ASXH là một nội dung mới, được bổ sung, phát triển trong
định hướng thực hiện tiến độ và công bằng xã hội đã từng được nêu trong các
kỳ Đại hội trước. Đến Đại hội XI, bảo đảm ASXH đã được khẳng định ngay
trong phần tiêu đề của Báo cáo chính trị trình Đại hội XI của Đảng: “Thực
hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong
từng bước và từng chính sách phát triển” [14, tr.227]. Nhận thức mới của
Đảng ta về ASXH là kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và thực hiện
chính sách ASXH, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, càng phát triển kinh
tế thì xã hội ngày càng phải được an sinh. Phát triển hệ thống ASXH phù hợp
với phát triển kinh tế chính là thực hiện tiến bộ, cong bằng xã hội và là một

trong những tiêu chí của định hướng XHCN; đầu tư cho ASXH c ng chính là
đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thể hiện nhận thức
mới trong chủ trương, đường lối xây dựng hệ thống ASXH với quan điểm bao
trùm: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có
khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu
12


thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [18,
tr.228];đồng thời, “tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói
giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, huy động mọi
nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và
tinh thần của những người và gia đình có công. Giải quyết dứt điểm các tồn
đọng về chính sách người có công…”[14, tr.229].
Chính sách ASXH là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà
cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội. Chính sách bảo đảm xã hội là sự bảo vệ
của Nhà nước, của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các
biện pháp công cộng. Trong hệ thống chính sách ASXH ở nước ta, gồm có ưu đãi
xã hội đối với những người có công lao đối với đất nước; bảo hiểm xã hội đối với
người lao động trong các thành phần kinh tế; cứu trợ xã hội đối với những người
không may bị rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo. Như vậy, có thể thấy bảo đảm xã
hội là sự bảo vệ, giúp đỡ của Nhà nước, của cộng đồng đối với mọi thành viên của
mình.
Tuy nhiên, chính sách ASXH không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà
còn là sự thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với
một bộ phận dân cư. Chính vì vậy, chính sách ASXH có vị trí đặc biệt quan
trọng trong chính sách xã hội nói riêng và trong hệ thống chính sách bảo đảm
xã hội nói chung.

Chính sách ASXH là phương tiện, công cụ quản lý có hiệu lực mọi mặt
đời sống vật chất và tinh thần nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro
đối với các thành viên trong xã hội. Chính sách ASXH được ban hành là thực
hiện nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội, đây không phải là sự “đền bù”,
bởi lẽ không ai mong muốn gặp phải những cản trở, khó khăn trong cuộc sống và
sự hy sinh của người có công với cách mạng là cao quý, vì đại nghĩa, bằng xương
và máu, bằng tài sản và tính mạng thì không gì có thể so sánh được, không gì có
13


thể đền bù được.
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm
vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lí với
các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lí sự phát
triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách
công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm chọn các mục tiêu cụ thể với
giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu
xác định của Đảng chính trị cầm quyền.
Từ những quan niệm, ta có thể định nghĩa về chính sách ASXH như
sau: “Chính sách an sinh xã hội là tập hợp các quyết định chính trị- pháp lý
có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải
quyết các v n đề liên quan theo mục tiêu tổng thể của chính sách đã được xác
định” .
1.3. Thực hiện chính sách an sinh xã hội: Khái niệm, ý nghĩa tầm
quan trọng của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
1.3.1. Khái niệm thực hiện chính sách an sinh xã hội
Tổ chức thực hiện chính sách ASXH là một khâu quan trọng hợp thành
chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính
sách đến đối tượng chính sách, được hiện thực bởi các công cụ chính sách bao

gồm các họat động của các chủ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định nhằm đưa chính sách ASXH vào cuộc sống thông qua các nội dung công
việc cụ thể đảm bảo nguyên tắc, tuân thủ theo một trình tự, thủ tục nhất định
nhằm đạt được mục tiêu của chủ thể chính sách.
1.3.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách an
sinh xã hội
Tổ chức thực hiện chính sách ASXH có ý rất quan trọng, là bước hiện
14


thực hóa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện chính
sách ASXH là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính
sách thành một hệ thống hoàn chỉnh; là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn
trong thực thi chính sách. Việc hoạch định, xây dựng được chính sách đúng,
có chất lượng là rất quan trọng, nhưng triển khai, thực hiện một cách đúng
đắn chính sách còn quan trọng hơn. Có chính sách đúng nếu không được
thực hiện sẽ chỉ nằm ở dạng văn bản giấy, trở thành khẩu hiệu suông, không
những không thực hiện được mục tiêu, ý định của chủ thể ban hành chính
sách, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành
chính sách. Nếu chính sách không được tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn,
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không những sẽ không đến trực
tiếp được với đối tượng thụ hưởng, mà sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự
phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây
những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý. Qua việc tổ
chức thực hiện, mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc
sống hay không. Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp
phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực
tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá
một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau

khi được thực hiện. Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là
thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và
hiệu quả của chính sách. Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một
quá trình khó khăn, phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà
hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được
các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách.

15


1.4. Các phƣơng pháp, các bƣớc tổ chức thực hiện chính sách an
sinh xã hội
1.4.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách an sinh xã
hội
Để thực hiện một cách hiệu quả chính sách an sinh xã hội, cần phải tiến
hành xây dựng kế hoạch thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng từ kế hoạch
tổ chức điều hành, kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện, kế hoạch
kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương; nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu
của chủ thể ban hành. Khi xây dựng kế hoạch thực hiện, phải quy định cụ thể
thời gian, lộ trình triển khai thực hiện; đồng thời xác định rõ các bên tham gia,
có sự phân công, phân định rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, từng cán
bộ, công chức, tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan khác;
đặc biệt là phải đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật
chất, các công cụ, phương tiện thực hiện, đảm bảo việc triển khai thực hiện
diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao.
1.4.2. Phổ biển, tuyên truyền chính sách an sinh xã hội
Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH là họat động mang tính thông
tin, là hình thức công khai chính thống chính sách cho các cơ quan có thẩm
quyền, các đối tượng chính sách và các bên tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu

cầu, về tính đầy đủ, tính đúng đắn của chính sách để các bên có liên quan tự
giác tham gia thực hiện. Ngoài họat động mang tính thông tin, công tác phổ
biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho cán bộ, công chức tổ chức thực hiện
chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ, quy mô, tầm quan trọng
của chính sách đối với đời sống xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các
giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực
hiện có hiệu quả kế hoạch chính sách.
16


Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH được thực hiện bằng nhiều hình
thức như thông qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, tổ chức Hội nghị, hình
thức lan truyền cộng đồng (thông tin từ người này sang người khác), hoặc lồng
ghép các hình thức tuyên truyền khác. Công tác phổ biến, tuyên truyền đóng vai
trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách. Nếu việc phổ biến,
tuyên truyền chính sách tiến hành một cách kịp thời và hiệu quả, các đối tượng
chính sách dễ dàng tiếp cận, kê khai, thụ hưởng chính sách nhanh; giúp cho các
cơ quan và cán bộ, công chức thực thi chính sách tiết kiệm được thời gian, công
sức, giúp cho chính sách được thực hiện một cách trọn vẹn, triệt để; còn ngược
lại, nếu đối tượng thụ hưởng không có thông tin, không tiếp cận được chính sách
sẽ kéo dài thời gian, bổ sung nhiều lần, nhiều đợt không những gây khó khăn,
phiền hà cho các tổ chức, cá nhân và các cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện
chính sách; mà còn gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tổng
kết, đánh giá thực hiện chính sách.
1.4.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội
Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ASXH là việc cơ quan tổ chức
thực hiện chính sách xem xét chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức chức, cá
nhân có liên quan để phân công, phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ,
khoa học và hợp lý, xác định cơ quan nào đóng vai trò chủ trì, cơ quan nào có
chức năng phối hợp, tránh trường hợp nêu chung chung chung, nhằm đảm bảo

trong suốt quá trình thực hiện chính sách diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, không bị
chồng chéo, thiếu sót hoặc bị tắc nghẽn.
Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách là một trong những
vấn đề vướng mắc và yếu ở nước ta hiện nay. Có những chính sách khi ban hành
xong không thể triển khai thực hiện do sự phân công, phân nhiệm cho các cơ
quan chủ quản và cơ quan phối hợp thực hiện không rõ ràng hoặc chồng chéo,
không có sự thống nhất giữa các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp nên xảy
17


×