Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Nguyên lý của sự thấu cảm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.84 KB, 10 trang )

Nguyên lý của sự thấu cảm

access_timeNov 17, 2016 personRubi folder_open Kiến Thức Tâm
Lý Nhận Thức

Sự thấu cảm phụ thuộc vào một lý trí tỉnh táo cũng như một trái tim
nồng nhiệt.
Sherlock đã đúng - một nghiên cứu mới cho thấy khi nhìn nhận sự
việc từ vị trí của người khác ta sẽ có một óc phán đoán độc lập chứ
không chỉ có một trái tim nồng nhiệt.
Điều đầu tiên bạn nghĩ tới là gì khi nghe đến Sherlock Holmes? Có thể là
chiếc mũ thợ săn, cái tẩu thuốc hoặc một cái violin, hay những tội ác bí ẩn
trên các đường phố sương mù ở London. Rất có thể không phải là trái tim
bao la ấm áp và bản tính hào phóng của ông. Trên thực tế, có thể bạn nghĩ
ông là một người lạnh lùng - người mà sẽ nói với người bạn thân nhất đang
chìm đắm trong tình yêu rằng ‘đó là một thứ cảm xúc và bất cứ điều gì là
cảm xúc đều đối lập với lý trí tỉnh táo mà tôi cho là quan trọng hơn tất cả’.
Có lẽ bạn có thể bị ảnh hưởng bởi những tác phẩm phóng tác gần đây, đã
đi quá xa trong việc coi Holmes là một người ‘rối loạn nhân cách’.


Có đúng là Holmes không hề có sự thấu cảm (empathy)? Hay ông ta là
người như nào?
Hãy trở về thời điểm trong truyện ‘Ngọn lửa bạc’ (năm 1892), câu chuyện về
những chú ngựa đua dũng cảm đã biến mất và huấn luyện viên của chúng
được tìm thấy đã chết chỉ vài ngày trước một cuộc đua lớn. Cảnh sát rất bối
rối và Sherlock Holmes được gọi đến để tìm ra nguyên nhân. Ông đã tìm ra
nguyên nhân bằng cách đặt mình vào vị trí của cả huấn luyện viên đã chết
và những con ngựa bị mất tích. Holmes phỏng đoán rằng ngựa là 'một sinh
vật rất thích giao du’. Giả định rằng khi không có huấn luyện viên đám ngựa
có thể chạy đến thị trấn gần nhất, ông đã tìm thấy dấu vết của những con


ngựa, ông bảo bác sỹ Watson dẫn ông tới đó. ‘Hãy xem giá trị của trí tưởng
tượng ... Chúng ta tưởng tượng ra những gì có thể đã xảy ra, hành động
theo giả thiết đó và sau đó kiểm nghiệm giả thiết.’
Holmes có một trí tưởng tượng quá xuất sắc, không chỉ đặt bản thân vào vị
trí của một người, mà còn đặt mình vào vị trí của loại động vật. Cách đặt
mình vào vị trí của người/vật khác để có thể nhìn thế giới từ quan điểm của
người khác là một trong những yếu tố trung tâm của sự thấu cảm mà
Holmes
đã
nâng
lên
thành
nghệ
thuật.
Thông thường, khi chúng ta nghĩ về sự thấu cảm, nó gợi lên cảm giác ấm
áp và thoải mái, trở về bản chất là một hiện tượng cảm xúc. Nhưng có lẽ sự
hiểu biết của chúng ta về sự thấu cảm là không đủ. Giá trị của sự thấu cảm
cũng có thể không thật như "giá trị của trí tưởng tượng" mà Holmes sử
dụng trong việc tìm hiểu cảm xúc của người khác. Có lẽ sự duy lý lạnh lùng
của Sherlock Holmes giúp chúng ta xem xét lại định kiến của chúng ta về
định nghĩa và tác dụng của sự thấu cảm.
Mặc dù các tài liệu khoa học về sự thấu cảm rất phức tạp, một đánh giá gần
đây trên tạp chí Nature Neuroscience bởi một nhóm các nhà nghiên cứu từ
Đại học Harvard và Columbia, bao gồm Jamil Zaki và Kevin Ochsner đã
phân chia hiện tượng này thành ba giai đoạn trung tâm. Giai đoạn đầu tiên
là "chia sẻ trải nghiệm", hoặc cảm nhận những cảm xúc của người khác
như thể chúng là của mình - sợ hãi khi họ sợ hãi, hạnh phúc khi họ hạnh
phúc v.v. Giai đoạn thứ hai là 'ý thức' tức là xem xét những cảm xúc và



nguyên nhân dẫn đến cảm xúc đấy một cách có ý thức và cố gắng hiểu
chúng. Giai đoạn cuối cùng là ‘quan tâm đến xã hội’ hay bị thúc đẩy hành
động - ví dụ, muốn tiếp cận với sự đau đớn của người khác. Tuy nhiên, bạn
không cần có tất cả ba điều này cùng một lúc để trải nghiệm sự thấu cảm.
Thay vào đó, bạn có thể xem chúng là ba điểm trong quá trình thấu cảm:
đầu tiên, bạn cảm nhận; sau đó, bạn cảm nhận và bạn hiểu; cuối cùng, bạn
cảm nhận, hiểu và bắt buộc phải hành động dựa trên sự hiểu biết của bạn.
Có vẻ như điều chắc chắn ở đây là tất cả các giai đoạn đều phải có ‘sự cảm
nhận’.
'Cảm xúc là đối lập với lý luận khoa học.
Tôi thề với bạn rằng người phụ nữ quyến rũ nhất
mà tôi từng biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa trẻ.'
‘Sự cảm thông’ có lịch sử lâu đời - trong tiếng Hy Lạp cổ đại, sympatheia có
nghĩa đen là ‘với sự đau khổ' – nhưng từ ' thấu cảm' mới chỉ được sử dụng
phổ biến trong thời hiện đại. Từ này được đưa ra bởi các nhà tâm lý học
nhận thức người Anh Edward Titchener vào cuối năm 1909, ông viết rằng
“Không chỉ làm tôi thấy sự hấp dẫn và sự khiêm tốn và lòng tự hào và sự
nhã nhặn và sự ổn định, mà tôi cảm thấy hoặc thực hành nó trong tâm trí”.
Đối với Titchener, sự thấu cảm là một loại ‘cảm nhận’ trạng thái cảm xúc
của người khác.
Ngay sau đó, từ này đã được sử dụng bởi các nhà tâm lý trị liệu tâm thần
như Carl Rogers, một nhà tâm lý học người Mỹ và là người sáng lập ra
cách tiếp cận nhân văn, người đã viết trong cuốn sách Client-centred
Therapy (1951) của ông rằng những nhà trị liệu cần ‘sống với cuộc sống
của người khác’. Nhưng trong khi thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi gần
đây – năm 1984 nhà phân tâm học Stanley Olinick gọi nó là một ‘từ thịnh
hành’ - nó tồn tại trong một khoảng thời gian dài tương đối vô định; linh hoạt
trong định nghĩa và cách sử dụng.
Năm 1986, nhà tâm lý học Lauren Wispé cố gắng để tóm tắt lại khái niệm
sự thấu cảm một cách có hệ thống. Bà viết ‘tất nhiên, câu hỏi quan trọng là



tại sao con người lại bị thôi thúc có sự cảm thông hay sự thấu cảm, dưới
những điều kiện gì và cho ai’. Mặc dù cam kết có một cái nhìn mới, khách
quan đối với khái niệm này, bà định nghĩa sự thấu cảm ban đầu dựa trên
một cảm giác, một sự ép buộc: chúng ta bị thôi thúc, dưới những điều kiện
thích hợp và với những người thích hợp ngay trong tầm tay. Khả năng
chúng ta có thể không bị thôi thúc, thay vào đó chúng ta có thể chọn để suy
nghĩ và hành động vì lợi ích của người khác mà không có sự thúc đẩy của
yếu tố cảm xúc, không được xem xét đến.
Nhưng điều này có nhất thiết là chính xác? Cơ sở của sự thấu cảm là có
thể nhìn sự việc từ vị trí của người khác. Thấu cảm cho phép chúng ta ‘tiến
một bước dài bằng đôi chân của người khác’, nhìn thế giới qua con mắt của
người khác hoặc bất kỳ một khẩu hiệu sáo rỗng nào khác. Nhưng quan
điểm kiểu như đứng ở vị trí của người khác để cảm nhận nỗi đau của họ
dường như quá thiên về cảm xúc, đôi khi nó thực sự không cần thiết. Một
nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, có những lúc việc quá xúc động thực sự
bóp nghẹt khả năng thấu cảm của chúng ta.
Bạn có tưởng tượng ra được một tính cách vô cùng thấu cảm - nhưng hoàn
toàn không cảm xúc? Tôi nghĩ rằng, chỉ có thể là một người hoàn toàn
không có cảm xúc như tôi đã nhắc đến ở trên: Sherlock Holmes, nhân vật
thám tử vĩ đại nhất thế giới. Holmes lạnh lùng và logic. Holmes độc lập.
Như ông giải thích khi Watson nhận xét về sự hấp dẫn và thánh thiện của
một phụ nữ trẻ, ‘Điều quan trọng nhất là không cho phép phán đoán của
bạn bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm cá nhân’. Ông giải thích tầm quan
trọng của việc loại bỏ những cảm xúc riêng của bản thân ra khỏi sự tính
toán của ông : ‘Đối với tôi khách hàng là một đơn vị đơn thuần, là một yếu
tố trong một vấn đề. Những yếu tố cảm xúc đối lập lý luận chặt chẽ. Tôi thề
với bạn rằng người phụ nữ quyến rũ nhất mà tôi từng biết đã bị treo cổ vì
đầu độc ba đứa con để lấy tiền bảo hiểm và người đàn ông khó chịu nhất

trong số người quen của tôi là một nhà từ thiện đã dành gần một phần tư
triệu bảng cho người nghèo ở London’.
Dường như Holmes là một cái máy giải quyết vấn đề chứ không phải là một
con người. Nhưng ông cũng là một người có trí sáng tạo không tưởng. Ông
không dừng lại ở bề nổi của sự kiện. Ông đưa ra nhiều khả năng, vẽ ra


nhiều tuyến đường khác nhau, liên tục lắp ráp những sự kiện thực tế vào để
tìm ra phương án đúng nhất. Cách thức của ông đối lập với kiểu lập luận
theo một đường thẳng. Nếu ông chỉ có một cách tiếp cận thì ông cũng
không thể giỏi hơn thanh tra Lestrade hay thám tử Gregson - những người
của sở cảnh sát Scotland Yard chỉ luôn theo một lối mòn lập luận mà không
có trí tưởng tượng.
Khi loại bỏ cảm xúc trong sự thấu cảm của mình, Holmes thực sự làm
cho nó mạnh hơn:
một ý thức hợp lý, chứ không phải một sự xúc động phù phiếm.
Trên thực tế, sự thành công của ông bắt nguồn từ tư duy tưởng tượng
phong phú, khả năng đưa ra các giả thuyết như thể ông có mặt tại hiện
trường. Trong cuốn Thung lũng khủng khiếp (năm 1915), truyện về Sherlock
Holmes cuối cùng của Conan Doyle, trong đó thanh tra MacDonald, hay
Mac như Holmes trìu mến gọi ông, lúng túng với những sự chỉ dẫn rõ ràng tìm kiếm một người đi xe đạp bị mất tích, theo dõi các khách sạn và các nhà
ga, nói chung là làm mọi thứ một thám tử nhiệt tình có thể làm. Thay vào đó
Holmes yêu cầu ở một đêm trong căn phòng xảy ra vụ án. Tại sao? Mơ
màng trong bầu không khí tội ác xảy ra giúp ông nhìn thấy thế giới như tên
tội phạm đã thấy, để suy nghĩ xem liệu tên tội phạm đã làm gì. Trí tưởng
tượng là trung tâm trong năng lực suy luận của ông.
Holmes là chuyên gia trong việc thực hiện bước đầu của sự thấu cảm –
nhìn thế giới từ vị trí của người khác. Ông có khả năng thấu hiểu bản chất
bên trong của con người, xem xét và phân tích bản chất đó và bày tỏ những
mối quan tâm đến xã hội. Trên thực tế, ông là bậc thầy trong việc này. Vào

cuối truyện ‘Chàng quý tộc độc thân’ (năm 1892), chính Holmes chứ không
phải Watson hiểu rõ nhất động cơ của người kỵ sĩ. Watson nhận xét châm
biếm rằng ‘hành vi của anh ta không nhã nhặn’. Holmes trả lời với một nụ
cười: “Ah, Watson, có lẽ anh cũng sẽ không nhã nhặn được nếu anh bị
cướp mất vợ và tài sản sau tất cả những rắc rối của việc tán tỉnh và cưới
xin. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên cám ơn chúa vì chúng ta sẽ không bao giờ
ở trong hoàn cảnh tương tự”.


Holmes chắc chắn sẽ lấy lý lẽ rằng việc không có cảm xúc giúp ông tự do
phán đoán mà không định kiến. Theo một nghiên cứu gần đây thì điều này
là đúng. Hầu hết chúng ta bắt đầu nhìn nhận sự việc một cách khá ích
kỷ/chủ quan: chúng ta nhận thức sự việc như chúng ta nhìn thấy và sau đó
chúng ta khái quát quan điểm của mình, áp đặt lên cả những sự việc khác.
Nhưng chúng ta lại không giỏi trong việc này. Khái niệm ‘sự tham chiếu và
điều chỉnh chủ quan’ đã được nghiên cứu rộng rãi bởi các nhà tâm lý học
Nicholas Epley của Đại học Chicago và Thomas Gilovich của Đại học
Cornell. Ngay cả khi chúng ta biết rằng lý lịch người khác không giống
chúng ta và chúng ta nên thận trọng với các giả định rằng mình có thể hiểu
được hoàn cảnh của họ như thể mình cũng ở trong hoàn cảnh như vậy,
chúng ta vẫn không thể thoát khỏi những định kiến của bản thân trong việc
đánh giá người khác. Chúng ta càng được rèn luyện nhiều về tinh thần thì
chúng ta càng trở nên tệ hơn trong việc điều chỉnh quan điểm chủ quan của
mình sao cho phù hợp với cái nhìn của người khác đối với thế giới. Gilovich
gọi điều này là 'thoả mãn'. Chúng ta không làm được gì nhiều để điều chỉnh
quan điểm của chúng ta phù hợp với quan điểm của người khác. Chúng ta
hài lòng với những thứ gần đủ. Có lẽ hệ thống thần kinh của chúng ta có
thể phản ánh sự đau khổ của người khá nhưng phần lớn chỉ vì chúng ta lo
lắng việc chúng ta sẽ cảm thấy thế nào.
Nhưng Holmes thì không như vậy. Bởi vì ông đã rèn luyện vất vả để giảm

những cảm xúc bột phát ban đầu đối với mọi người, ông hoàn thiện sự điều
chỉnh của mình, có khả năng suy đoán ra sự thật từ những hoàn cảnh khác
nhau. Từ đó ông trở nên ít chủ quan hơn, phản ánh chính xác hơn những gì
mà người khác nghĩ và trải qua tại một thời điểm nhất định.
Holmes gần như đọc được chính xác tính cách của người khác, ý tưởng bất
chợt của họ, động cơ của họ và cảm xúc bên trong của họ. Ông cố gắng
hiểu rõ và mở lòng đối với tất cả những dấu hiệu ông bắt gặp. Như ông đã
viết trong bài luận của mình về sự quan sát: ‘Con người bộc lộ tính cách
qua đặc điểm của móng tay, cổ áo, giầy, đầu gối quần, chai ở ngón trỏ và
ngón cái, sự lúng túng hay cổ tay áo sơ mi’. Trong nỗ lực của chúng ta để
hiểu người khác, chúng ta thường xem nhẹ những chi tiết vụn vặt - tại sao
lại bận tâm tới những điều nhỏ nhặt như vậy trong khi đang cần tìm hiểu về
cảm xúc, tình cảm, cuộc sống? Nhưng bỏ qua những chi tiết nhỏ nhặt,


chúng ta bỏ lỡ những bằng chứng quan trọng. Chúng ta bỏ lỡ những dấu
hiệu của sự khác biệt có nghĩa là chúng ta đã không xem xét kỹ tình huống.
Chúng ta bỏ mất nền tảng của trí tưởng tượng trong tương lai. Chúng ta sẽ
trở nên thấu cảm nhiều hơn hay ít hơn khi làm như vậy? Sự thấu cảm
dường như không chỉ đơn giản là cảm xúc vội vã, nếu chỉ như vậy thì nó
không phải là một thước đo hoàn toàn đáng tin cậy đối với thế giới nội tâm
của người khác.
Simon Baron-Cohen, giáo sư về sự phát triển của rối loạn tâm lý tại Oxford
và nổi tiếng với công trình về tự kỷ, đã phân biệt giữa hai yếu tố của sự
thấu cảm. Sự thấu cảm về tình cảm, đó là thành phần cảm xúc. Và có sự
thấu cảm về nhận thức, hay khả năng suy nghĩ như đặt mình ở vị trí của
người khác. Dựa trên việc có một lý thuyết hữu ích về tâm lý, sự thấu cảm
về nhận thức cung cấp một đối trọng quan trọng với cảm xúc. Nhưng có
phải cả hai yếu tố này luôn đi cùng nhau? Chúng ta có thể tin vào việc chỉ
hoàn toàn là sự thấu cảm về nhận thức chứ không có một chút cảm xúc

nào?
Câu hỏi này không mới. Năm 1963 trong nghiên cứu về sự thấu cảm và thứ
tự phát sinh, các nhà tâm lý học Ezra Stotland và Robert Dunn đã phân biệt
"tính logic" và "tính cảm xúc" của sự thấu cảm với những người giống nhau
và khác nhau. Trước tiên là thực hành để đạt được quan điểm về nhận
thức, sau đó là sự lan truyền của những cảm xúc phi lý. Gần đây hơn,
Baron-Cohen đã nhận xét rằng, một vài người có chứng rối loạn tự kỷ có
thể không hiểu hoặc không có ý thức, nhưng họ hoàn toàn có khả năng
thấu cảm (về mặt cảm xúc) khi trạng thái cảm xúc của người khác xuất hiện
rõ ràng trước họ - đây là một dấu hiệu chỉ ra rằng dường như hai yếu tố
nhận thức và cảm xúc có phần độc lập.
Sự thấu cảm và sự sáng tạo có chung một đặc điểm rất quan trọng:
đó là chúng ta cần phải bỏ qua quan điểm của bản thân chúng ta.
Những nghiên cứu sinh lý dường như cũng chỉ ra điều này. Trong năm
2009, một nhóm các nhà tâm lý học từ trường Đại học Haifa nhận thấy
những bệnh nhân có tổn thương não trước giữa trán thể hiện việc thiếu sự


thấu cảm về nhận thức và lý thuyết tâm lý - đó là cạnh nhận thức của sự
thấu cảm - trong khi họ vẫn có khả năng thấu cảm về cảm xúc và nhận biết
cảm xúc. Ngược lại, những bệnh nhân có tổn thương ở các nếp của bộ não
phần dưới trước trán có biểu hiện thiếu sự thấu cảm về mặt cảm xúc và sự
nhận biết cảm xúc - nhưng sự thấu cảm về nhận thức của họ vẫn như
người bình thường. Vậy có đúng là mỗi nhóm người này đồng cảm theo
cách riêng của họ - một theo cảm xúc và một theo nhận thức?
Đối với hầu hết chúng ta, sự phân biệt giữa khía cạnh nhận thức và cảm
xúc của sự thấu cảm dường như không quá rõ. Ngay cả trong trường hợp
của Holmes: Conan Doyle là nhanh chóng cho chúng ta thấy rằng người
hùng của ông cũng có sự thương cảm riêng, nhưng chúng được kiểm soát
tốt, thậm chí dấu đi. Holmes cũng sẵn sàng bao che cho một tên tội phạm

có mục đích tốt, ông nói rằng: “Tôi thà làm trái với luật pháp của nước Anh
còn hơn với lương tâm của tôi" Và tình bạn của ông với Watson đôi khi làm
ông mất vẻ lạnh lùng bề ngoài. “Anh không bị thương chứ, Watson? Vì
Chúa, hãy nói rằng anh không bị thương!”. Ông kêu lên trong một lần hiếm
hoi không kiềm chế được cảm xúc khi người bạn của mình bị bắn trong tập
truyện ‘Ba người họ Garridebs’ (1924).
Không phải là Holmes không có cảm xúc thấu cảm, mà ông không cho
phép chúng điều khiển hành động của mình. Thay vào đó, ông chỉ hành
động khi nhận thức đồng tình với cảm xúc. Và nếu không? Cảm xúc sẽ bị
bác bỏ. Nó không phải là về cảm xúc của Holmes mà về sự nắm bắt vấn
đề, các giả thuyết về các khả năng có thể xảy ra là gốc rễ của trí tưởng
tượng. Nói ngắn gọn, nó là về sự sáng tạo xuất phát từ tâm trí của riêng
bạn - bất kể động lực đằng sau là gì thì nó vẫn xảy ra. Khi loại bỏ cảm xúc
trong sự thấu cảm của mình, Holmes thực sự làm cho nó mạnh hơn: một ý
thức hợp lý, chứ không phải một sự xúc động phù phiếm. Như Watson
nhận xét: ‘Một ít bụi trong nhạc cụ, hay một vết nứt trong ống kính của
Holmes, cũng sẽ không gây xáo trộn hơn một cảm xúc mạnh mẽ trong bản
chất của ông’.
Khi nói về sự thấu cảm, những nhà tâm lý học như Daniel Batson, giáo sư
tâm lý học xã hội tại Đại học Kansas và Frans de Waal, giáo sư về hành vi
của động vật linh trưởng tại trường Đại học Emory, đã viện dẫn giá trị tiến


hóa của nó như là một kỹ năng xã hội của động vật, cho dù là con người
hay không. Cái gọi là tế bào thần kinh gương - động cơ tạo ra sự bắt chước
ngay lập tức trong não của chúng ta khi chúng ta quan sát một người nào
đó làm hay trải qua một cái gì đó - có vẻ chỉ ra nguồn gốc tiến hóa sâu xa
của sự thấu cảm. Chúng ta không chỉ bắt chước lại những gì người khác
làm, mà việc phản chiếu như vậy cũng giúp tương tác xã hội thông suốt,
giúp chúng ta giúp đỡ lẫn nhau, và giúp chúng ta vượt qua những chướng

ngại vật mà cản trở tính xã hội nếu chúng ta không có một khuynh hướng
ủng hộ xã hội mạnh mẽ.
Nhưng phần nhận thức của sự thấu cảm hay lý thuyết về lý trí có tiến hóa
giống như vậy không? Khả năng nhìn thế giới qua con mắt của người khác,
để trải nghiệm mọi thứ một cách gián tiếp, ở nhiều cấp độ, là sự rèn luyện
cho trí tưởng tượng kỳ diệu và đó là lý do cho phép Holmes có thể giải
quyết hầu hết các vụ án, Einstein có thể tưởng tượng ra một thực tế không
giống như bất kỳ cái gì chúng ta đã trải qua trước đây, và Picasso đã sáng
tạo nghệ thuật khác với bất kỳ quan niệm nào về nghệ thuật trước đây.
Có một bước nhảy vọt về nhận thức sâu sắc mà chúng ta có thể thực hiện.
Bắt đầu với tính vị kỷ và suy nghĩ thế giới như thể chỉ có bản thân mình. Nó
đặt sự tập trung vào người khác và thế giới sinh ra là vì những người khác.
Tách cảm xúc ra khỏi sự thấu cảm và bạn sẽ có khả năng phát triển lý luận
logic và tư duy sáng tạo. Sự thấu cảm và sự sáng tạo có chung một đặc
điểm rất quan trọng: đó là chúng ta cần phải bỏ qua quan điểm của bản
thân chúng ta. Chúng ta phải nhìn thấy những khả năng có thể xảy ra chứ
không chỉ nhìn sự việc trước mắt. Khả năng này sẽ được phát triển vượt xa
thực tế đơn giản rằng một số tế bào thần kinh của chúng ta được kích hoạt
khi chúng ta nhìn thấy một ai đó đau khổ - hoặc chúng ta cảm thấy cần phải
giúp đỡ khi chúng ta động lòng với một người khác, là người thật hay nhân
vật hư cấu.
Có lẽ không nên hoàn toàn loại bỏ yếu tố cảm xúc ra khỏi sự thấu cảm vì
cảm xúc có thể phát triển thành một yếu tố thiết yếu trong sự sáng tạo và
giải quyết vấn đề. Các yếu tố cảm xúc trong sự thấu cảm bản thân nó cũng
có sự hạn chế. Nó thường chọn lọc và định kiến - chúng ta có xu hướng
cảm thông hơn với những người mà chúng ta biết hoặc thấy họ giống


chúng ta, hoặc chỉ đơn giản là khi chúng ta có đầu óc để bận tâm đến
người khác. Sự thấu cảm có thể trở nên mạnh hơn và sáng tạo hơn trong

hình thái nhận thức khi nó độc lập với bối cảnh và sự xúc động.
Sherlock Holmes có thể được mô tả như là người rất lạnh lùng, đó là sự
thật. Nhưng bạn muốn ai đứng về phía bạn khi nói đến việc được đưa ra
một tiếng nói công bằng, để được giúp đỡ khi sự giúp đỡ thật sự cần thiết,
để biết rằng ai đó sẽ vượt ra ngoài tiếng gọi của trách nhiệm vì lợi ích của
bạn, bất kể bạn là ai hay bạn làm gì? Tôi sẽ chọn một người có cái đầu lạnh
như Holmes, người hiểu được những giới hạn của tình cảm con người, và
người tìm cách ‘đại diện cho công lý’ bằng tất cả sức mạnh của ông.



×