Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

sáng kiến kinh nghiệm tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.82 KB, 20 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
a. Khái quát về lý luận
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá
giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc. Các
dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt
cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng
đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí,
thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ. Sự
giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu
số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế và vị thế của cộng đồng các
dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em. Có thể nói rằng “cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” - tiếng
mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh.
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là
ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến
đại học. Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ
thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh. Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số
khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt.
Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi
học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của
trẻ. V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của
loài người. Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng
ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực
thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ
phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường
nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan
trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng,


tình cảm ; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội.
b. Khái quát về thực tiễn:
Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp
và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ
dàng song đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi
nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp.
Đặc biệt ở trường mầm non Nậm Loỏng chúng tôi các cháu 100% là dân tộc
Mông nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến
mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ,
nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một
1


phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học
sinh chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn
thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Chính vì vậy dẫn đến chất
lượng chăm sóc Giáo Dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn
Thông qua các hội thi các cấp cho thấy trẻ dân tộc thiểu số trong nhà trường
đạt kết quả rất thấp so với mặt bằng chung trong toàn Thành phố Lai Châu.
Với nội dung chỉ chú trọng tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị
vào lớp 1 như hiện nay theo tôi là muộn và chưa đủ so với yêu cầu thực tế trong
công tác giáo dục của nhà trường. Bởi trong quá trình học ở các lớp dưới trẻ chưa
thành thạo tiếng việt nên việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết
những yêu cầu hay những cuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích
cực, chủ động của trẻ. Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và kĩ năng diễn đạt ngôn
ngữ tiếng Việt của trẻ còn khó khăn..
Thực tế tại nhà trường trẻ từ 0 – 2 tuổi đi học đạt khoảng 16 - 20%, còn lại 3
tuổi trẻ ra lớp đạt 100%. Bắt đầu đi học cũng là lúc trẻ bắt đầu học ngôn ngữ thứ
hai. Loại ngôn ngữ giúp trẻ giao tiếp, tiếp nhận tri thức, bày tỏ những quan điểm
của riêng mình, song song cùng học ngôn ngữ là trẻ học tri thức, vì vậy có phát

triển ngôn ngữ tiếng Việt mạch lạc càng sớm thì trẻ mới tiếp nhận tri thức một cách
tốt nhất và đảm bảo nhất.
Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêu
cầu cấp thiết đặt cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện sứng tầm với quy mô phát triển của thành phố Lai Châu. Tôi nhận thấy cần
có những biện pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ 3 - 4 tuổi.
Với lý do trên tôi chọn đề tài "Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho
trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
Đây cũng là một sáng kiến tôi đưa ra còn mới với nhà trường song tôi mong rằng sẽ
được áp dụng trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi lớp mẫu giáo bé trung tâm
-Trường Mầm non Nậm Loỏng
Đối tượng nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4
tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
3.Mục đích nghiên cứu
Tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thực trạng của việc
phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi và áp dụng các giải pháp để nâng
cao vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi dân tộc thiểu số tại nhà trường. Qua đó vận
dụng những kiến thức có sẵn và qua học hỏi để nghiên cứu và áp dụng các giải
pháp vào chăm sóc giáo dục phù hợp giúp trẻ phát triển một cách hài hoà và bắt kịp
với chất lượng giáo dục chung trong toàn Thành phố.
2


Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻ được
phát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngay khi trẻ bước
chân vào trường Mầm non và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ của mình với
những người xunh quanh một cách tốt nhất. Tôi mong rằng trẻ thành thạo tiếng
Việt sớm hơn và từ đó trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ ràng và đầy đủ nhất và đó

sẽ là một lý do để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đây cũng là một nền
móng tốt cho trẻ phát triển một cách toàn diện.
4. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Đây là sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện và áp dụng lần đầu.
Bằng một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ 3 - 4 tuổi dân tộc thiểu số
tai trường Mầm non Nậm Loỏng như: Cung cấp tiếng việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi,
trẻ học tiếng Việt đảm bảo theo một trình tự nhất định từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp. Có ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài dạy, vào các hoạt động
ngoài giờ nhằm phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ. Hình thành sự tự tin cho trẻ
vì khi trẻ tự tin trẻ dễ dàng học hỏi, dễ dàng bày tỏ những suy nghĩ, chia sẻ hiểu
biết của mình bằng tiếng việt với cô và bạn bè. Lựa nội dung giáo dục phù hợp với
đối tượng với điều kiện thực tế của trẻ của nhà trường và lớp học.
Nhằm nâng cao chất lượng ngôn ngữ trong giao tiếp, trong diễn đạt tiếng việt
của trẻ một cách tốt nhất.
Giúp trẻ tự tin, mạnh dạn thể hiện hiểu biết của mình bằng cách sử dụng ngôn
ngữ tiếng việt một cách thành thạo sớm nhất.
Chương 1
1.1. Cơ sở lý luận “Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4
tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn
tại, phát triển của xã hội loài người. Là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh,
là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy.
Đối với trẻ em dân tộc ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũng đặc biệt quan
trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là công cụ để
trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh thông
qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và
hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng... của chúng và trẻ học được từ
tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc). Ngôn
ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Từ ngữ giúp cho việc củng
cố những biểu tượng đã được hình thành.

1.1 Các định nghĩa, khái niệm.
a. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp.
Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động
vì những mục đich chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp vì vậy ngôn ngữ chính là một
trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài
3


người, là công cụ hữu hiệu để trẻ bày tỏ những nguyện vọng, suy nghĩ và đánh giá
của bản thân về những hiện tượng xung quanh…
b. Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức.
Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy và tư duy của con người có thể hoạt
động được cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của
con người không diễn ra được. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi, những
hoạt động chủ yếu ở trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ, việc
phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ ở trường mầm non là thực sự là mục tiêu “kép”
giữa phát triển tri thức tư duy tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ. Trẻ biết sử
dụng tiếng Việt đồng thời sử dụng nó như một công cụ để giao tiếp, vui chơi và học
tập. Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi và trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà
dần dần trẻ thành thạo và ngược lại mọi hoạt động ở trường cũng tạo cơ hội cho
ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển.
a. Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để trẻ học tập.
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần
thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất. Song với trẻ dân tộc thiểu
số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp
với xã hội. Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai khi bước vào ngưỡng cửa
trường mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng với một môi
trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn. Trẻ học ngôn ngữ tiếng Việt song

song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn ngữ thứ 2 để đảm
bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau mà
người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến người
nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên hoặc
truyền bá tri thức…. Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số
chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng. Chỉ có ngôn
ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội.
1.2. Các văn bản chỉ đạo:
Căn cứ công văn số: 947/SGDĐT-CNTT ngày 23/9/2013 của Sở Giáo dục và
Đào tạo Lai Châu và công văn số: Số: 521/PGD&ĐT-TĐKTngày 02/10/2013 của
Phòng Giáo dục và Đào tạo Thị xã Lai Châu về việc hướng dẫn công tác nghiên
cứu khoa học và sáng kiến kinh nghiệm năm học 2013-2014;
Căn cứ vào Kế hoạch chỉ đạo chuyên môn trường mầm non Nậm Loỏng về
việc nghiên cứu thực trạng của nhà trường và đưa ra các giải pháp, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ từ 3 –4 tuổi trong nhà trường.
Chương 2
Thực trạng của một số biện " Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt
cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
2.1 Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến.
4


Trường nằm trong Xã Nậm Loỏng là một xã đặc biệt khó khăn của Thành phố,
trong đó dân tộc chiếm chủ yếu trên 90%. Tập quán sinh hoạt còn tương đối lạc
hậu. Nhân dân sinh sống chủ yếu là nghề nông nghiệp. Là xã đặc biệt khó khăn trên
địa bàn thị xã nên thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp. Hộ đói nghèo vẫn
còn cao địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong xã chưa thông thạo tiếng
phổ thông , cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được quan tâm đầu tư song vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân.

Nhà trường có 4 điểm bản với 181 học sinh trong đó trẻ dân tộc thiểu số là 181
Tổng số cán bộ giáo viên: - Ban giám hiệu 2 đồng chí
-

Giáo viên: 21 đồng chí

-

Nhân viên: 10 đồng chí.

*.Đặc điểm tình hình lớp học
- Tổng số học sinh: 23 cháu
- 100% học sinh là người dân tộc Mông
- Trong đó Nam: 11 ; Nữ: 12
- Tổng số giáo viên: 2 cô
- Trình độ chuyên môn: Đại học 1; Cao đẳng 1
-Lớp thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non.
- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ cho
công tác giáo dục
Thực trạng của đề tài:
* Thuận lợi:
Bản thân là giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn với năng lực chuyên
môn vững vàng, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Có khả năng tiếp thu những kinh
nghiệm và vận dụng vào giảng dạy một cách linh hoạt, có nhiều ý tưởng, luôn
mong muốn có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà
trường đó là một thuận lợi lớn trong việc thực hiện đề tài.
Lớp học rộng rãi, thoáng mát đảm bảo cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ, lớp
học có ti vi, đàn ocgan, nhà trường có máy trình chiếu có thể kết nối với máy tính
xách tay, lớp được trang bị các tài liệu, sách truyện để làm tài liệu dạy.
Bản thân đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

Trẻ trong lớp có cùng độ tuổi, sĩ số học sinh đảm bảo phù hợp với điều kiện
của lớp và nhà trường, tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao.
Trường được xây dựng ở gần khu dân cư thuận tiện cho việc đi học của học sinh
Trường lớp khang trang, sạch sẽ có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị cho trẻ
hoạt động trong lớp và ngoài trời.
5


* Khó khăn:
- 100% học sinh trong lớplà dân tộc Mông nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ
còn bất đồng về ngôn ngữ.
- Có 60% trẻ mới bắt đầu ra lớp và cũng là lúc trẻ bắt đầu làm quen với ngôn
ngữ tiếng Việt.
- Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào
việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình.
- Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa phong
phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo.
- Đối với trẻ mới ra lớp ngôn ngữ nói tiếng việt của trẻ còn hạn chế trẻ chậm
chạm, nhút nhát, chưa tự tin.
- Cô giáo còn hạn chế về tiếng Mông nên việc phối kết hợp giữa cô và trẻ còn
chưa đạt hiệu quả cao.
Kết quả khảo sát thực trạng trẻ đầu năm học 2013 – 2014:
* Bảng1: Khảo sát ngôn ngữ tiếng việt của trẻ đầu năm học
Nội dung
Kết quả khảo sát
Trẻ nói thành thạo tiếng Việt

0/23 = 0%

Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và

trò chuyện cùng cô.

3/23 = 13%

Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu của cô: Đứng
lên, ngồi xuống, đi ra ngoài, vào lớp, đi vệ sinh,..

6/23 = 26%

Trẻ biết một số từ đơn giản trong giao tiếp
diễn đạt những yêu cầu, mong muốn của bản thân
như chào hỏi, mời cô và các bạn ăn cơm, xin đi vệ
sinh, xin cô uống nước, chơi cùng các bạn....
Trẻ đọc thơ và kể chuyện một cách mạch lạc.
Trẻ tự tin thể hiện, chao đổi trò chuyện cùng cô
hay người lạ

4/23 = 17,4 %

0/23 = 0%
0/23 = 0%

6


Bảng 2. Chất lượng Giáo dục đầu năm học
Lĩnh vực
phát triển

Giỏi


Tổng
số

Khá

Trung bình

Yếu

Số

Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

lượng

(%)


lượng

(%)

lượng

(%)

lượng

(%)

Thể chất

23

0

0

5

21,7

10

43,5

8


34,8

Ngôn ngữ

23

0

0

3

13

5

21,7

15

65,2

Nhận thức

23

0

0


4

17,4

11

47,8

8

34,8

Thẩm mỹ

23

0

0

5

21,7

10

43,5

8


34.8

Tình cảm xã
hội

23

1

4,3

6

26,1

7

30,4

9

39,1

2.3. Nguyên nhân
Với đặc thù trường có 100% trẻ học là dân tộc thiểu số, 60% trẻ mới bắt đầu
ra lớp trẻ bắt đầu học và làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt.
Vì Tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ nên việc học tập và trao đổi trò chuyện
với cô và bạn bè còn nhiều hạn chế.
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệu
dành riêng giáo viên dạy vùng Dân tộc. Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang

bị kiến thức về đối tượng học sinh.
Đa số phụ huynh chưa thành thạo tiếng Việt, việc chao đổi trò chuyện với trẻ
bằng tiếng phổ thông tại gia đình trẻ chưa có chú trọng.
40% trẻ trong lớp học qua lớp nhà trẻ song tỉ lệ chuyên cần chưa cao, giáo
viên chưa chú trọng vào việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
Chương 3:
" Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 5 tuổi ở lớp mẫu
giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
Để khắc phục những khó khăn trên giáo tôi đã thực hiện như sau:
- Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3 – 5 tuổi.
- Có các giải pháp hướng dẫn trẻ học tiếng Việt một cách linh hoạt, phù hợp
với khả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương và khả
năng nhận thức của trẻ trong lớp.
- Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet,
dự giờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm.
- Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy tiếng
phổ thông cho trẻ.
Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành tiếng Việt một cách tốt
nhất tôi kiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ. Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa
chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay
7


những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học tiếng việt có hiệu quả vì vậy tôi đưa ra các
biện pháp sau:
3.1 Biện pháp thực hiện
*. Biện pháp1: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ
hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp thu

kiến thức bằng tiếng Việt. Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật
khó đối với trẻ. Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng
nghe hiểu lời nói của cô.
Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt. Yêu cầu
đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không
hiểu nghĩa. Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ
vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một
phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai chi, đây là bạn Mai
Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp. Cho
trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch,
đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ.
Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi xuống, đi ra
ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là những
từ trừu tượng, khó hiểu. Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi
trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe cô nói.
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi
được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con
gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả
lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật. Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối
tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi...
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễ
hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ:
Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện
nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn,
quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ
phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh
họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ

ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ. Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc
lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể.
Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc
lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ
dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì
8


đây? Một số trẻ trả lời “ Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng và cho cả lớp và cá
nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả
cũng rất cao.
Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho
trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu.
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện
tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng
dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó.
Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị
cấu trúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh.
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay từ
những ngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen
với ngôn ngữ tiếng Việt. Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó
giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ
đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học.
Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao
tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung cô
cần truyền đạt. Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc,
tránh nói lắp, nói ngọng.
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ.
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ, ca
dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung.

Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính
xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm. Đặc biệt khi lựa chọn đề tài này
cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả
phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền.
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp
trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép.
Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học
tập và sử dụng tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu
quả học tập tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng
học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các
tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to. Để 3 cái hộp
rỗng vào. Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác. Cô nói với Trẻ:
“Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé. Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền
đi. Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!”. Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và
khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô
đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước
trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận
9


xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán
thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình
thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như
“con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”, “thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi
qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô và các bạn.
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc,
đường, bột, hạt cườm…). Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như

nhau để âm thanh trùng nhau chính xác. Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác
biệt với đôi khác. Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ. Cô lắc “Hộp” bất kì, còn
trẻ cần tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế. Cô tăng dần số
lượng hộp. Cô nghĩ ra những tên gọi lí thú cho những dụng cụ đó: Tiếng ồn, quả
bom, lúc lắc, lạo sạo… trẻ được chơi cả lớp và yêu cô yêu cầu cá nhân lên chọn
“Hộp” cả lớp cùng nhắc giúp bạn với sự gợi ý của cô. Cô nói các con chú ý xem
chiếc “Hộp” này có tiếng kêu thế nào ? ai giỏi lên tìm hộp có tiếng kêu giống hộp
của cô nào. Trẻ sẽ phải lắc các hộp để tìm cùng với sự chỉ dẫn của các bạn “ Hộp
này, hộp kia, đúng rồi, sai rồi, tìm đi, lắc hộp đi…” đó là những từ được nhắc nhiều
trong trò chơi, trẻ cổ vũ, chỉ dẫn cho bạn, đây cũng là cách trẻ được học những từ
mới mà không cần cô chỉ dẫn song vẫn đạt yêu cầu… trẻ em rất thích điều đó.
- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi không trong suốt để không
nhìn thấy được những vật dụng bên trong túi. Cho vào đó những đồ vật hình oval
và hình tròn (trứng, quả bóng nhỏ, bóng lục lạc, cái hộp…). Trước khi cô cho
những vật trên vào bao, hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật đó. Sau
đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt thần kì đó.
Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng xem nào!” (hoặc vật khác). Cô hỏi trẻ về đồ
vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như thế nào nhỉ?”.
- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để
giáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt. Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng
của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ nêu
tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên cô, tên
các đồ dùng đồ chơi.
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác thường
chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váy mới…
*.Biện pháp2: Ttrực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới
(ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng
và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng. Phương pháp

này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau. Với phương
pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động của cơ thể
trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới.
Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng
hiệu quả trong quá trình học tập. Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp
10


dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học để đạt được những giờ
học thực sự tích cực. Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt đó cũng là cách làm
trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt động với đồ dùng đó.
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến thức
cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu quả.
Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được ngửi,
được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ mới cho
trẻ : Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu gì, ăn có vị
gì, con thích quả gì. Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại cứ như vậy trẻ
học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau. Với chương trình giáo
dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp súc
làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau như: xem tranh, xem hình
ảnh trên video, quả thật và qua sự miêu tả của cô…. ở các hoạt động vui chơi và
hoạt động khác nữa. Trẻ dần khắc sâu ngôn ngữ tiếng Việt cùng với tư duy của mình.
Giáo viên sử dụng các đồ vật/đồ chơi gần gũi, quen thuộc với trẻ để dạy tiếng
Việt cho trẻ. Với trẻ lớp bé, trẻ mới ra lớp nên lựa chọn các vật thật hoặc các đồ
dùng, đồ chơi sẵn có trong lớp và trẻ thường được chơi và sử dụng để cho trẻ học.
Tôi không chụp ảnh các đồ vật sẵn có trong lớp, những đồ vật tôi có thể chuẩn bị
được để đưa vào máy tính và trình chiếu cho trẻ quan sát mà sử dụng các đồ vật/đồ
chơi thật giúp trẻ vừa được học từ, học câu và vừa được thao tác với đồ vật/đồ chơi
có kết hợp sử dụng ngôn ngữ, ngôn ngữ thứ hai sẽ trở nên gần gũi hơn với đời sống
hàng ngày của trẻ.

Đối với trẻ nhà trẻ và mẫu giáo 3 – 4 tuổi tôi tiến hành trò chuyện kết hợp với
trực quan, hướng chú ý của trẻ lên đối tượng, sau đó gợi cho trẻ nhớ lại bằng những
câu hỏi đơn giản...
Ví dụ: Khi trò chuyện về con mèo, cô giáo có thể cho trẻ xem tranh hoặc quan
sát con mèo thật, cô giáo yêu cầu trẻ quan sát thật kỹ về con mèo để biết con mèo
có đặc điểm gì, hoạt động như thế nào…, sau đó cô đặt câu hỏi cho trẻ trả lời. Cần
lưu ý đến khả năng ngôn ngữ của trẻ trong quá trình trò chuyện nhằm phát triển,
tăng cường ngôn ngữ dưới hình thức.
* Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Những hình ảnh đẹp những hiệu ứng của hình ảnh có tình huống biến hóa,
những vi deo sôi động là cách lôi cuốn trẻ , trẻ có thể ngồi hàng giờ bên video, tôi
thường suy tầm những nội dung phù hợp với chủ đề cho trẻ khám phá:
Ví dụ: Những bài học luyện phát âm và hay từ mới cho trẻ, với chủ đề giáo
thông có những loại phương tiện giao thông hình ảnh kèm lời đọc loại phương tiện
đó , trẻ được chi giác và phát âm theo, hay chủ đề động vật cũng có rất nhiều bài
dạy trẻ phát âm tên và vận động động của các con vật.
*. Biện pháp 3: Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Tôi lựa chọn phương pháp này mong rằng trẻ sẽ mạnh dạn hơn, tự tin hơn
trong việc sử dụng tiếng việt trong giao tiếp cũng như trẻ dám thể hiện bày tỏ quan
điểm của mình về những gì xung quanh, qua đó giữa cô và trẻ có sự trao đổi
11


thường xuên các thông tin và đây cũng là cách giúp trẻ thực hành tiếng Việt một
cách có hiệu quả nhất.
Chắc chắn là trẻ cũng rất thích khi được cô giáo và bạn bè động viên. Nhưng
những lời động viên, khen ngợi đó sẽ có tác dụng lớn hơn khi chúng được nói ra
dựa trên những việc trẻ đã làm tốt hoặc đã nỗ lực để thực hiện. Một khi trẻ đã đạt
được một mục tiêu nào đó thì cô giáo khen ngợi chúng cả về thành quả lẫn quá
trình nỗ lực để đạt được thành quả đó.

Ví dụ: Sau khi trẻ nặn được một quả cam cô nói với trẻ rằng “ Con nặn đẹp rồi
con hãy vuốt cho quả mịn hơn nữa đi” hoặc khi trẻ đọc thơ cô khen trẻ và khuyết
khích các bạn động viên trẻ. Cô chú ý động viên khen ngợi trẻ kịp thời và hướng
cho trẻ đến với sự chính xác của vần đề.
Ví dụ: Khi cô hỏi trẻ màu sắc của bông hoa hồng màu đỏ “ Bông hoa có màu
gì?” nếu trẻ trả lời màu xanh tôi thường cho trẻ khác nhận xét và cô khẳng định lại
và khuyến khích trẻ trả lời lại cho thật chính xác và cũng không quên động viên trẻ
tạo tâm lý thoải mãi ngay cả khi trẻ biết mình trả lời sai.
Tuy nhiên, cần phải chọn thời gian thích hợp để trẻ học làm những việc này.
Thời gian vui chơi, hoạt động khám phá là thích hợp nhất vì trẻ có thể làm từ từ và
ít căng thẳng hơn.
Ví dụ: Các hoạt động: Ngoài trời, hoạt động góc, các hoạt động khám phá hay
các tiết biểu diễn văn nghệ…
Sự tự tin ở trẻ sẽ tăng lên mỗi khi chúng học được một kĩ năng mới hay vượt
qua một mốc quan trọng nào đó. Vì vậy cô giáo thường xuyên có thể giúp trẻ gây
dựng sự tự tin bằng cách tạo cho chúng thật nhiều cơ hội để rèn luyện và tập thành
thục các kĩ năng mới. Tôi để cho trẻ tự do thể hiện và luôn ở bên để động viên tinh
thần của chúng, nhắc chúng tiếp tục cố gắng. Luôn tỏ ra thích thú và vui mừng mỗi
khi trẻ thể hiện là chúng đã tập thành thạo một kĩ năng mới rồi . Khen ngợi trẻ mỗi
khi trẻ đạt được một mục tiêu nào đó hoặc nỗ lực làm việc gì đó.
Ví dụ: Trong các hoạt động vui chơi hay ôn luyện tôi thường mời cá nhân trẻ
lên giới thiệu về bản thân và chủ đề trẻ đang học, mời trẻ lên đọc thơ hay ca hát,
mở các bản nhạc vui nhộn cho trẻ cùng vui nhảy múa theo như các Video erobic
mầm non…
Trẻ thường xuyên thực hành sẽ trở nên tiến bộ rất nhiều vì vậy tôi thường
xuyên chao đổi với trẻ nhằm giúp trẻ được trò chuyện với cô ở mọi lúc mọi nơi.
Vi dụ: Giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ “ Ai đưa con đi học”, “ Sáng nay
con ăn gì”, “ Ai buộc tóc cho con đẹp thế”…Giờ trả trẻ “ Khi về nhà gặp bố mẹ con
sẽ làm gì?”, “ Con chào bà như thế nào, con chào ông như thế nào?....”
Cô luôn phải là tấm gương cho trẻ soi vào, ở đây mỗi động tác, lời nói cử chỉ

điệu bộ của cô cũng là những bài học cho trẻ, muốn trẻ tự tin cô giáo luôn phải có
sự sáng tạo tìm tòi đưa ra các cơ hội giáo dục cho trẻ khác nhau.
12


Ví dụ: Tổ chức các trò chơi tập thể hoặc cá nhân, giúp trẻ tích cực tham gia
theo hình thức tập thể.
- Giáo viên nên khám phá những mặt mạnh, những điểm tích cực của trẻ để
khuyến khích, nâng đỡ. Tăng cường tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi, phù hợp với khả
năng của trẻ. Giáo viên luôn cần giúp trẻ hình thành mối quan hệ gắn bó giữa trẻ này
với trẻ khác, giữa trẻ với cô giáo như vậy trong quá trình học, sinh hoạt động ở trường
cùng cô và các bạn trẻ biết chia sẻ bày tỏ và phối kết hợp cùng hoạt động vui chơi, cô
tạo các hoạt động cho cô và trẻ cùng hoạt động: cùng chơi đùa, cùng ăn uống, cùng trò
chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an toàn và vui vẻ.
Ví dụ: Cô luôn coi những đứa trẻ là bạn trong lúc chơi, đặc biệt trong giờ chơi
hoạt động góc, trẻ phải có tâm lý được thoải mái khi chơi và phối hợp cùng cô.
- Giúp trẻ biết các bầy tỏ nhu cầu:
Cô giáo luôn gần gũi với trẻ và cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ nhu
cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một
chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy
móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.
Ví dụ: Cô luôn chú ý đến những thái độ khác biệt của trẻ và gợi hỏi: con cần
gì nào, con thích gì, con đang tìm gì vậy, con cần cô giúp gì không? nhiều trẻ chưa
thể hiện mong muốn nhu cầu của mình tôi thường hỏi những trẻ khá hơn “ Bạn
muốn gì vậy con” trẻ tự hỏi bạn và đưa ra yêu cầu giúp bạn từ đó tôi cho trẻ nhắc
lại mong muốn của mình, đây là một hình thức rất cần thiết vì trẻ biết phải đưa ra
những mong muốn bằng tiếng Việt thì mới có thể chủ động trong những lần sau
- Giúp trẻ tham gia các hoạt động Tâm vận Động:
Trong một ngày tôi luôn quan tâm đến nội dung hoạt động ngoài trời đây là
khoảng thời gian trẻ sẽ vừa chơi vừa học, bằng những hoạt động vui thú như leo

trèo, chạy nhảy vui chơi cùng cô và các bạn… trẻ được reo vui hò hét một cách
thoải mái. Tôi luôn bày các trò chơi cho trẻ cùng tham gia bằng những hình thức
đơn giản nhưng trẻ lại được chơi và trải nghiệm những từ ngữ tiếng Việt mới.
Ví dụ: Với trò các trò chơi dấu dép cô cho trẻ đi tìm và chỉ hoặc nói địa điểm
cô dấu “ dép cô dấu ở đâu nhỉ?” “ Cô dấu dép ở gốc cây đào” … đây là cách hướng
dẫn trẻ chơi mà học từ mới trẻ cũng hiểu luôn ý nghĩa của những từ mới học và chỉ
những lần sau trẻ tự tìm và nói địa điểm cô dấu một cách rõ dàng và tương đối đầy đủ.
- Giúp trẻ biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi
gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì nhẹ
nhàng nhắc trẻ nghe thêm ý kiến của các bạn và cô nhắc lại câu hỏi và khuyến
khích bạn khác trả lời và cho trẻ yếu nhắc lại .
Tôi chú trọng đến sự phát triển của cá nhân, thường chú ý đến những trẻ yếu
về ngôn ngữ rụt rè trong lớp đây cũng là những đối tượng được ưu tiên.
- Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
13


Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập
mối quan hệ tốt với cô giáo và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày
cũng đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi
- Gọi tên sự vật nhiều lần.
Bất kể lúc nào khi cho con ăn, khi rửa chân tay, tôi gọi tên những đồ vật xung
quanh và chỉ cho trẻ thấy. “Đây là tivi”, “đây là chân cô”, “đây là chân con”… Trò
chuyện với trẻ bằng những câu ngắn và đơn giản: “Các con đói rồi hả”, “cùng đi
rửa tay cô lấy cơm cho ăn nhé”… Điều này giúp trẻ nhận thức được đồ vật, xây
dựng vốn từ và nhận biết mối liên hệ giữa hành động và lời nói.
- Dạy trẻ cách nhìn, nghe và làm theo
Nhìn thẳng vào mắt trẻ để hướng dẫn trẻ nhìn vào vật rồi nhìn miệng cô để

xem cách phát âm. Lặp đi lặp lại nhiều lần, khuyến khích nói những điều trẻ nhìn
thấy. Điều đó có nghĩa là phải làm đi làm lại. Tạo thật nhiều cơ hội để trẻ phải nói
đi nói lại cái đó nhiều lần. Đó có thể là những bài hát, những quyển sách hay những
lời chỉ dẫn. Tôi làm theo một quy tắc và mọi thứ đã trở nên quen thuộc với trẻ và
khi trẻ đã quen, chúng sẽ hiểu và cố gắng làm giống như thế.
*. Biện pháp 4: phối kết hợp với phụ huynh.
Đây là nội dung tôi luôn chú trọng bởi dù ít dù nhiều phụ huynh nào cũng
muốn con em mình học hành tiến bộ. Đối với những trẻ nhỏ ở nhà chưa biết hát
biết múa bằng tiếng Việt nhưng sau một thời gian đến lớp trẻ biết hát, đọc thơ và kể
lại chuyện cho bố mẹ nghe về những bài học ở lớp bằng tiếng phổ thông. Từ đó
giáo viên luôn nhận được sự phối kết hợp nhiệt tình của phụ huynh. Tôi thường
xuyên chao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ, đặc biệt chao đổi về khả
năng nói tiếng Việt của trẻ, và yêu cầu phụ huynh dạy trẻ thêm tiếng Việt ở nhà:
Vì dụ: Tôi hướng dẫn cho phụ huynh khi ăn cơm anh chị hãy chỉ cho các cháu
biết những món ăn trong gia đình, khi tắm cho cháu chỉ cho các cháu các bộ phận
trên cơ thể, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà….
Tuy trẻ đến lớp với cô hàng ngày nhưng cô không thể tập chung và mỗi cá
nhân và hiểu trẻ bằng bố mẹ. Vì vậy phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn
tiếng việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Qua các cuộc họp phụ huynh giáo viên thông báo
kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên cho phụ
huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng việt của mỗi
cháu ra sao và từ đó thống nhất với phụ huynh xây dựng nội quy của trường mầm
non là “Tất cả mọi người khi đến trường, lớp đều phải nói bằng Tiếng việt” và nhà
trường rất mong phụ huynh hợp tác trong việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ thường
xuyên ở nhà.
Ví dụ: Khi phụ đón trẻ cô chao đổi về nội dung bài học và gợi ý cho bố mẹ về
kiểm tra trẻ: Hôm nay cháu học làm quen với các con vật, anh chị hãy về nhà hỏi
cháu bằng tiếng Mông và cho cháu dịch tiếng Việt xem cháu biết nhiều không nhé,
yêu cầu phụ huynh dạy thêm cho trẻ...Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh
quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ

nhiều hơn. Cho nên trẻ trong lớp tôi có nhiều cháu hiện giờ nói tiếng Việt rất thành
14


thạo loát ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói,
không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao
lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.
3.2. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Với sự cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ của lãnh đạo và đồng nghệp
trong khi thực hiện đề tài bản thân tôi đã thu được những kết quả như sau:
* Về bản thân:
- Qua quá trình nghiên cứu nắm bắt đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 3 – 4 tuổi tại
vùng dân tộc thiểu số.
- Đưa ra được hiều hình thức giảng dạy linh hoạt nhằm mở rộng tiếng Việt
cho trẻ. Bản thân có thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy với đối tượng là trẻ
dân tộc thiểu số, luôn được ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp đánh giá cao
trong việc sáng tạo linh hoạt việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy.
*. Đối với trẻ.
- Chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ tăng lên rõ rệ, chất lượng các lĩnh
vực phát triển giáo dục cũng tăng cao thể hiện ở các bảng sau:

15


Bảng 3: So sánh chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ trước và sau khi áp dụng đề tài:
Nội dung
Kết quả đầu năm
Trẻ nói thành thạo tiếng Việt
0/23 = 0%
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và trò chuyện cùng cô.

3/23 = 13%
Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu của cô: Đứng lên, ngồi xuống, đi ra ngoài, vào lớp, đi vệ sinh,..
6/23 = 26%
Trẻ biết một số từ đơn giản trong giao tiếp diễn đạt những yêu cầu, mong muốn của bản thân như
4/23 = 17,4 %
chào hỏi, mời cô và các bạn ăn cơm, xin đi vệ sinh, xin cô uống nước, chơi cùng các bạn....
Trẻ đọc thơ và kể chuyện một cách mạch lạc.
0/23 = 0%
Trẻ tự tin thể hiện, chao đổi trò chuyện cùng cô hay người lạ
0/23 = 0%

Kết quả cuối năm
2/23 = 8,7%
15/23 = 65%
20/23 = 87%
12/23 = 52,2 %
6/23 = 26,1%
4/23 = 17,4%

Bảng 4: So sánh chất lượng Giáo dục trước và sau khi áp dụng đề tài:
Giỏi
Lĩnh vực phát triển

Thể chất
Ngôn ngữ

Nhận thức

Thẩm mỹ


Tình cảm xã
hội

Khá

Trung bình

Yếu

Tổng số
SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Trước khi thực hiện
Sau khi thực hiện
Trước khi thực hiện


23
23

0
6

0
26,1

5
7

21,7
30,4

10
8

43,5
34.8

8
2

34,8
8,7

23

0


0

3

13

5

21,7

15

65,2

Sau khi thực hiện

23

4

17,4

5

21,7

10

43,5


4

17,4

Trước khi thực hiện

23

0

0

4

17,4

11

47,8

8

34,8

Sau khi thực hiện

23

4


17,4

5

21,7

10

43,5

4

17,4

Trước khi thực hiện

23

0

0

5

21,7

10

43,5


8

34.8

Sau khi thực hiện

23

2

8,7

7

30,4

11

47,8

3

13

Trước khi thực hiện

23

1


4,3

6

26,1

7

30,4

9

39,1

Sau khi thực hiện

23

2

8,7

7

30,4

11

47,8


3

13

*Ghi chú: SL (số lượng)

16


3.3 Ứng dụng vào thực tiễn.
3.3.1. Bài học kinh nghiệm.
Qua quá trình thực hiện như đã nêu trên, tôi rút ra một số bài học kinh
nghiệm như sau:
- Tìm hiểu kỹ đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3 – 4 tuổi sau đó đưa ra
các giải pháp phù hợp với trẻ như: dạy cho trẻ nghe hiểu ngôn ngữ tiếng Việt trước
khi cho trẻ học nói tiếng Việt, dạy tiếng Việt cho trẻ thông qua các tình huống thực
tế trong các hoạt động học và sinh hoạt vui chơi hàng ngày của trẻ chú trọng đến
việc hình thành sự tự tin trong giao tiếp cho trẻ.
- Khi dạy trẻ cần kết hợp các biện pháp chỉnh sửa uốn nắn.
- Sử dụng các đồ dùng trực quan một cách sinh động phù hợp nhằm gây
hứng thú cho trẻ luôn hướng trẻ vào những từ mới.
- Đàm thoại lựa chọn những câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu giúp trẻ hiểu từ và
thực hành từ ngữ hiệu quả nhất.
- Giáo viên nghiêm túc trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới.
- Tôn trọng, lắng nghe và không ngừng học tập đồng nghiệp.
- Giáo viên phải không ngừng tìm tòi, sưu tầm, đầu tư, bổ sung các đồ dùng
dạy học cho phong phú về chủng loại đưa vào giảng dạy.
3.3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm.
Bằng sự sáng tạo kết hợp với việc sử dụng hợp lý nhuần nhuyễn các biện

pháp trong quá trình giảng dạy và cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ đã mang lại kết
quả tương đối khả quan. Trẻ được học ngôn ngữ thứ hai một cách nhẹ nhàng đặc
biệt là những giờ học lại rất gần gũi với trẻ. Giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách tốt
hơn, trẻ hăng hái tham gia vào các hoạt động học và vui chơi, trẻ tự tin hơn khi
chao đổi trò chuyện cùng cô bằng tiếng Việt
Trẻ có nhiều cơ hội được học tiếng Việt với nhiều hình thức và tình huống
khác nhau góp phần phát triển ngôn ngữ thứ hai, hình thành sự tự tin, tính sáng tạo,
nhân cách cho trẻ.
Giúp giáo viên biết lựa chọn những biện pháp để tăng cường tiếng Việt cho
trẻ một cách hiệu quả nhất.
3.3.3. Tính khả thi và khả năng ứng dụng và triển khai của sáng kiến:
- Đề tài đã đượcnghiên cứu và ứng dụng và có hiệu quả tại lớp mẫu giáo bé 3
– 4 tuổi trong Trường mầm non Nậm loỏng trong năm học 2013 – 2014.
- Có khả năng ứng dụng đối với tất cả các lớp mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi
trong nhà trường.
PHẦN KẾT LUẬN
1: Kết luận:
Bằng những hiểu biết về thực trạng vốn tiếng Việt của trẻ 3 – 4 tuổi
trong nhà trường và của lớp học mà tôi lựa chọn đề tài "Một số biện pháp phát
triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng"
Qua nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp tăng cường vốn tiếng Việt cho trẻ
phù hợp hợp với thực trạng của đề tài, đem lại kết quả tương đối cao so với mục đích
17


yêu cầu đề ra: Chú trọng các giải pháp dạy trẻ nghe hiểu câu từ và nói chính xác câu từ
đó, sử dụng đồ dùng trực quan sinh động phù hợp có hiệu quả, tạo môi trường học
ngôn ngữ phong phú cho trẻ. Đưa ra được giải pháp hình thành tính tự tin cho trẻ trong
giao tiếp, đây cũng là một điểm mới trong việc áp dụng để phát triển ngôn ngữ tiếng
Việt cho trẻ trong nhà trường.

Trong khi thực hiện các biện pháp trẻ được học và chơi trong môi trường tiếng
Việt, giúp khả năng nhận thức, tiếp thu bài của trẻ tăng lên, trẻ luôn vui vẻ để đến lớp
và tham gia các hoạt động. Trẻ thích thể hiện mình với cô và các bạn, trẻ mạnh dạn tự
tin trong giao tiếp.
Chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt tăng lên roc rệt cùng với đó là chất lượng giáo
dục trẻ cũng tăng theo.
2. Những kiến nghị và đề xuất.
Để thực hiện tốt hơn khi triển khai chuyên đề tôi xin đề xuất với cấp trên một
số kiến nghị sau.
- Ban giám hiệu quan tâm nữa về công tác bồi dưỡng nghiễn cứu khoa học.
- Đầu tư cho lớp thêm về tài liệu giảng dạy, và những tài liệu có liên quan
đến lĩnh vực hát triển ngôn ngữ theo đối tượng vùng miền.
- Đầu tư thêm trang thiết bị dạy học
Trên đây là một vài suy nghĩ về việc làm cụ thể của bản thân tôi trong quá
trình công tác cũng như trong mọi hoạt động. Rất mong được sự góp ý của đồng
nghiệp và sự xem xét, đánh giá, ghi nhận của Hội đồng khoa học các cấp./.
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
HIỆU TRƯỞNG

Lai Châu, ngày 15 tháng 3 năm 2014
Tác giả SKKN

Trần Thị Hạnh

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT


1
2
3
4
5
6

TÊN TÀI LIỆU

TÁC GIẢ ( NHÀ XUẤT BẢN)

Lý luận và phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ em
Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của
trẻ từ 0 – 6 tuổi
Nghiên cứu khoa học công nghệ giáo dục
mầm non
Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho
trẻ mầm non
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
Cổng thông tin điện tử:

Nhà xuất bản Đại học Huế
năm 2013
Đại học Sư phạm Hà Nội
2008
Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội.
- mamnon.com.vn

- giao an violet.com.vn

19


PHỤ LỤC
STT
1

NỘI DUNG
1. Lý do chọn đề tài:
a. Khái quát về lý luận
b. Khái quát thực tiễn
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

TRANG
1

2

3.Mục đich nghiên cứu

2

4. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

3

Chương 1
1.1. Cơ sở lý luận “Một số biện pháp phát triển vốn

tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm
non Nậm Loỏng".
1.1 Các định nghĩa, khái niệm.

3

3

20



×