Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.04 KB, 103 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................../...............

........../.........

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI THANH HÙNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................../...............

........../.........

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA


BÙI THANH HÙNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : QUẢN LÝ CÔNG
Mã số

: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Cao học Hành chính công “Quản lý nhà
nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu và thông tin được sử dụng trong Luận văn có xuất xứ rõ ràng
và kết quả nghiên cứu là do quá trình lao động trung thực của bản thân tôi.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và lãnh đạo Học
viện Hành chính về Luận văn cao học này.

Học viên

Bùi Thanh Hùng



LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc tới TS. Trần Thị Diệu Oanh, Học viện Hành chính Quốc gia đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công với đề tài: “Quản lý nhà nước về phổ biến,
giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ”
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo của Học
viện Hành chính đã tận tình, chu đáo trong quá trình tham gia giảng dạy và
truyền đạt kiến thức cho tác giả. Xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến
toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của Học viện Hành chính đã tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
thành chương trình cao học cũng như hoàn thành Luận văn này.
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo UBND Tỉnh Phú
Thọ, Văn phòng UBND Tỉnh Phú Thọ, Sở Tư pháp Tỉnh Phú Thọ, các cơ sở
Đoàn, Hội, Đội, cán bộ, công chức, các cơ sở giáo dục trong địa bàn Tỉnh
Phú Thọ mà tác giả đã đến khảo sát, lấy số liệu phục vụ cho việc hoàn thành
Luận văn này.
Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo, đồng
nghiệp và các học viên cao học - Học viện Hành chính và quý bạn đọc để
Luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn cao hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên

Bùi Thanh Hùng


MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ............... 8
1.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số

8

1.2. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân
tộc thiểu số .............................................................................................................. 18
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp
luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số ................................................................ 26
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH PHÚ THỌ............................................................................................ 32
2.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp
luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ...................... 32
2.2. Tình hình quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ................................................... 40
2.3. Đánh giá chung quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh
viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ........................................... 57
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ .................... 63



3.1. Một số định hướng tăng cường công tác tư pháp, phổ biến giáo dục pháp
luật của tỉnh Phú Thọ .............................................................................................. 63
3.2. Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp
luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ...................... 65
3.3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ............................. 70
KẾT LUẬN..................................................................................................... 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 93


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DTTS

: Dân tộc thiểu số

HĐND

: Hội đồng nhân dân

HĐPH

: Hội đồng phối hợp

HSSV

: Học sinh sinh viên

KTX


: Ký túc xá

PBGDPL

: Phổ biến giáo dục pháp luật

QLNN

: Quản lý nhà nước

QPPL

: Quy phạm pháp luật

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài của luận văn
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng
thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Trong những năm
qua, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Bên cạnh việc thể
chế hóa Hiến pháp năm 2013 về lĩnh vực dân tộc, Nhà nước tiếp tục dành những
nguồn lực đầu tư phát triển thông qua các chương trình, dự án đã triển khai như:
Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Chương trình 135 giai
đoạn III; Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 69 huyện nghèo và
23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; chính sách định canh định cư; chính sách hỗ trợ đất

ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã,
thôn, bản đặc biệt khó khăn...
Tuy nhiên, vào những năm gần đây, vùng đồng bào DTTS đã và đang xuất
hiện một số vấn đề như: tình hình khiếu kiện tranh chấp đất đai đông người có xu
hướng tăng lên. Tình trạng lao động người DTTS qua biên giới làm thuê theo mùa
vụ ngày càng nhiều, không chỉ ở vùng giáp biên mà còn ở cả vùng sâu trong nội
địa; nạn lừa gạt, mua bán phụ nữ qua biên giới với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Tình
trạng mua bán các chất ma tuý và dụ dỗ đồng bào DTTS tham gia vận chuyển các
chất ma tuý, sử dụng các chất ma túy diễn biến phức tạp. Đạo lạ, tà đạo xuất hiện,
cùng với hoạt động truyền đạo trái pháp luật, lôi kéo, tranh giành tín đồ đang làm
mất ổn định về an ninh trật tự ở vùng đồng bào DTTS [23].
Mặt khác, Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì từ năm
2009 đến tháng 8/2014, tổng số HSSV liên quan đến pháp luật hình sự trên 8000 vụ
việc, trong đó, gây rối trật tự công cộng là 935 vụ, tội phạm ma túy là 357 trường
hợp, giết người 37 vụ, cướp, trộm cắp tài sản là 6000 vụ...
Từ năm 2010 đến tháng 8/2014 đã có tới 7.735 HSSV tham gia đánh nhau, bị
xử lý kỷ luật. Tệ nạn ma túy trong HSSV diễn biến phức tạp. Theo điều tra của liên
ngành giáo dục-công an thì năm 2010 có 538 HSSV, năm 2011 có 350 HSSV, năm
2012 có 159 HSSV, năm 2013 có 296 HSSV vi phạm tệ nạn ma túy. Đáng chú ý,

1


tình hình sử dụng ma túy tổng hợp, đặc biệt là ma túy đá đang có xu hướng tăng
mạnh tại các thành phố lớn.
Tình trạng đánh bạc trong KTX đã được ngăn chặn, đẩy lùi do sự quản lý chặt
chẽ của các nhà trường nhưng HSSV ở ngoại trú chơi lô đề, cá độ bóng đá, đánh
bạc rất khó kiểm soát. Đã có những trường hợp quá đam mê lô đề dẫn đến bỏ học,
tham gia trộm cướp [22].
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vấn đề trên là do sự nhận

thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế.
Trong những năm qua, bên cạnh việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp
luật, Đảng và nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến việc PBGDPL sâu rộng trong
các tầng lớp nhân dân, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường QLNN,
quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và
tăng cường pháp chế XHCN.
Hoạt động PBGDPL cho các đối tượng sinh viên là người DTTS trong thời
gian qua đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Cụ thể đã ban hành các văn bản
như : Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý
thức pháp luật của cán bộ và nhân dân; Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/
2009 Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường; Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày
25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách
pháp luật; Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án tăng cường công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý
thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015; Thông tư liên tịch số
30/2010/TTLT-BGD&ĐT-BTP ngày 16/11/2010 của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ
Tư pháp hướng dẫn phối hợp công tác PBGDPL trong trường học.... Ngày
20/6/2012, Quốc hội đã ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng cho công tác PBGDPL, tạo chuyển biến căn bản, bền vững, hiệu
quả cho hoạt động PBGDPL với việc huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia

2


công tác PBGDPL, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; xác lập trách nhiệm và
cơ chế phối hợp, huy động các nguồn lực của các cơ quan, tổ chức xã hội cho công
tác PBGDPL.
Thực tế cho thấy, hoạt động PBGDPL cho đối tượng sinh viên người DTTS

trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Tỉnh Phú
Thọ là một tỉnh miền núi với 34 dân tộc anh em cùng chung sống, 16% dân số là
người DTTS, sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, họ chỉ cần
tới pháp luật khi nảy sinh những vụ việc ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích cá
nhân mà không hình thành được ý thức pháp luật không có thói quen tìm hiểu pháp
luật. Điều này gây khó khăn rất lớn cho công tác PBGDPL cho đồng bào người
DTTS, đặc biệt là đối tượng sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh.
Hơn thế nữa, nhu cầu PBGDPL cho nhân dân nói chung và cho sinh viên
người DTTS trên địa bàn tỉnh nói riêng ngày một gia tăng khi chúng ta đang xây
dựng nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa dẫn đến hiện
tượng đô thị hóa nông thôn và hội nhập quốc tế ngày càng nhiều. Trong khi đó, đội
ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL còn chưa đáp ứng yêu cầu, lúng túng trong quản
lý, điều hành. Cơ sở vật chất và kinh phí dành cho hoạt động PBGDPL chưa được
quan tâm đầu tư tương xứng với vị trí và vai trò của công tác PBGDPL.
Trước tình hình đó, tôi lựa chọn đề tài "Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo
dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ"
làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sỹ. Việc nghiên cứu này vừa có ý nghĩa lý luận
cũng như thực tiễn trong việc góp phần cung cấp nội dung khoa học cho quá trình chủ
động, tích cực tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng công tác
QLNN về PBGDPL cho đối tượng sinh viên người DTTS.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn
Công tác QLNN về PBGDPL là một vấn đề mang tính cấp thiết của nhà nước
ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là vấn đề có rất nhiều nhà khoa học quan tâm.
Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố như:

3


- Thạc sỹ Phạm Thị Kim Dung (2011), Phổ biến giáo dục pháp luật cho học
sinh sinh viên trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Bộ Tư pháp.

- PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ (2014), Giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật.
- TS. Lương Khắc Hiếu (2006), Tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về một số
suy nghĩ về công tác tuyên truyền hiện nay, Đề tài cấp bộ.
- Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước
ta - Thực trạng và giải pháp.
- Trần Ngọc Đường- Dương Thị Thanh Mai (1995), Bàn về giáo dục pháp
luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Lê Đình Khiên (1996), Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản
lý hành chính ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sỹ luật học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi
mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Lê Thị Thu Ba (2006), Tăng cường vai trò của Hội đồng Phối hợp công tác
PBGDPL đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ đưa pháp luật vào cuộc sống, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, Số chuyên đề năm 2006, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồi (2008), Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật- Số chuyên đề tháng 2 năm 2008, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hoàng Lan (2009), Một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức
pháp luật phòng, chống ma túy trong học sinh, sinh viên hiện nay, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật - Số tháng 10 năm 2009, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
- Phạm Đức Hoài (2009), Quản lý nhà nước về PBGDPL trong Bộ Quốc
Phòng hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính,
Hà Nội.
- Nguyễn Tất Viễn (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật, Đề tài cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội.

4



- Nguyễn Duy Lãm (2012), Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp pháp luật- số chuyên đề
tháng 10 năm 2012, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
- Nguyễn Đình Đình Đặng Lục (2008), Giáo dục pháp luật trong nhà trường,
Nxb Giáo dục Hà Nội.
- Đinh Xuân Thảo (1996), Giáo dục pháp luật trong các trường trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ .
- Hà Thị Tuyến (2011),Phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và
đồng bào dân tộc thiểu số trong xây điều kiện dựng nhà nước pháp quyền, Luận văn
Thạc sĩ.
- Phùng Thị Lan Anh (2013), Ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên ở tỉnh
Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ.
Những công trình khoa học trên đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý
luận, kiến thức, kinh nghiệm đối với công tác QLNN trên nhiều góc độ. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ
thống về công tác QLNN về PBGDPL cho sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ.
Vì vậy, đây là đề tài không trùng lắp với các công trình có liên quan đã được
công bố trong thời gian gần đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề QLNN
về PBGDPL, trên cơ sở đó đánh giá đúng thực trạng của QLNN về PBGDPL cho
sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tìm ra những giải pháp nhằm triển
khai thực hiện hiệu quả QLNN về PBGDPL cho sinh viên người DTTS dựa trên
tình hình thực tế của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

5



- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của PBGDPL và QLNN về PBGDPL
cho sinh viên người DTTS.
- Nghiên cứu thực trạng QLNN về PBGDPL cho sinh viên người DTTS trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về PBGDPL, nâng cao ý
thức pháp luật của sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về PBGDPL cho sinh viên người
DTTS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Công tác QLNN về PBGDPL cho sinh viên người DTTS trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác QLNN về PBGDPL cho sinh viên
người DTTS đang học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác QLNN về PBGDPL cho sinh
viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm
ra mối liên hệ nhằm đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học; dựa trên tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủ trương của
Đảng về quản lý xã hội bằng pháp luật; các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật
của nhà nước về công tác dân tộc; những quy định pháp luật về QLNN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để làm rõ vấn đề,
trong đó tập trung một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo cứu tài liệu: Tác giả đã sử dụng được giới thiệu tại Phần

mở đầu, tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (mục 2, phần mở đầu) và để thực

6


hiện Chương 1 của luận văn. Phương pháp này cung cấp cơ sở lý luận, những luận
cứ cho việc đánh giá và đề ra giải pháp cho công tác công tác QLNN về PBGDPL
cho sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả đã tham vấn ý kiến của đồng chí Chánh
Văn phòng Ban Dân tộc tỉnh Phú Thọ, đồng chí Phó Ban Nội chính Tỉnh ủy Phú
Thọ và đồng chí Trưởng phòng Tuyên truyền Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ về công tác
PBGDPL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tác giả đã trực tiếp trao đổi với các đồng
chí Quản lý sinh viên của các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
về nội dung, những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức PBGDPL cho sinh
viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Ngoài ra Luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khác như : phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
QLNN về PBGDPL, từ đó làm phong phú thêm về hành chính học và quản lý công.
Những đề xuất của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc QLNN về
PBGDPL cho sinh viên người DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cũng như có giá trị
tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương tự như tỉnh Phú Thọ.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu
liên quan sau này.
7. Kết cấu của Luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phổ biến giáo dục pháp luật cho
sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến
giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số
1.1.1. Quan niệm, mục đích, nguyên tắc về phổ biến, giáo dục pháp luật cho
sinh viên người dân tộc thiểu số
1.1.1.1. Quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân
tộc thiểu số
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về PBGDPL, trong đó có thể kể như:
Quan niệm thứ nhất cho rằng, PBGDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị,
tư tưởng, đạo đức. Theo quan niệm này, khi tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng,
các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình
thành nên ý thức pháp luật. Hay nói cách khác, sự hình thành ý thức pháp luật là hệ
quả tất yếu của việc giáo dục chính trị, tư tưởng hay giáo dục đạo đức.
Quan niệm thứ hai cho rằng, PBGDPL chỉ đơn thuần là hoạt động tuyên
truyền, giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách
báo, phát thanh, truyền hình. Do vậy, coi đây là chỉ là công việc của hệ thống các
phương tiện thông tin đại chúng.
Quan niệm thứ ba cho rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung.
Mọi công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Vì vậy, không cần đặt ra vấn đề
PBGDPL.
Những quan niệm nêu trên mặc dù ở góc độ nào đó không sai, nhưng chưa đầy

đủ. Pháp luật được ban hành trên văn bản mới chỉ là bước đầu tiên của quy trình
QLNN: ban hành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức thực hiện, theo dõi thi
hành, kiểm tra giám sát.
Ở một góc độ khác, có thể thấy PBGDPL là một từ ghép hai từ "phổ biến pháp
luật" và "giáo dục pháp luật".
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa:

8


- Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của nó.
- Nghĩa rộng: là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân.
Theo Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ PBGDPL thì: Giáo dục pháp luật là một
khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và
bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị...) hình thành tình cảm, niềm tin
pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật của đối tượng [2].
Cả cụm từ PBGDPL có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức,
tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp
luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Nghĩa rộng: là công tác, lĩnh vực, bao gồm tất cả các công đoạn như định
hướng công tác PBGDPL, lập chương trình, kế hoạch PBGPL, áp dụng các hình
thức PBGDPL, triển khai chương trình về PBGDPL, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đúc
rút kinh nghiệm về PBGDPL.
PBGDPL là quá trình hoạt động thường xuyên, liên tục và lâu dài của chủ thể
tuyên truyền lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống. Trong
công tác QLNN thì PBGDPL được hiểu theo nghĩa rộng và được xác định là một
công việc trọng tâm và thường xuyên của các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành
[20].

Từ những đặc thù và phân tích trên ta có thể thấy rõ bản chất của PBGDPL là
hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể PBGDPL nhằm chuyển
tải các tri thức về nhà nước và pháp luật đến đối tượng được giáo dục pháp luật với
mục đích hình thành ở họ những tri thức pháp lý, tình cảm, lòng tin và ý thức tự
giác tuân thủ pháp luật.
Việc PBGDPL cho sinh viên người DTTS là một quá trình triển khai và áp
dụng các quy trình của PBGDPL cho đối tượng là sinh viên người DTTS.

9


Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là
người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Theo ngôn
ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc
đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh viên" được dùng để chỉ người học
ở bậc đại học[44].
Theo Điều 59, Luật Giáo dục đại học số: 08/2012/QH13 thì: " sinh viên" được
hiểu là người học của các cơ sở giáo dục đại học theo chương trình đào tạo cao đẳng
và chương trình đào tạo đại học.
Cụm từ “dân tộc thiểu số” hiện đang được sử dụng tương đối phổ biến trong
các văn bản của Đảng, Nhà nước và trong đời sống xã hội. Đây là những khái niệm
khoa học liên quan đến vấn đề chính trị - xã hội. Tuy nhiên trong xã hội hiện nay,
có lúc có nơi vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về cách gọi cũng như nội hàm của
nó.
“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế
giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ
chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.
Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân
tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát
triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của

giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia.
Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan
về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì
khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát
triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở
số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã
hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là

10


một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 90 triệu người.
Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số,
được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được
quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm
“dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi
là “dân tộc ít người”. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc
thiểu số” và cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung [34].
Như vậy, có thể hiểu : PBGDPL cho sinh viên người DTTS là hoạt động có
định hướng, có tổ chức, có dự định của chủ thể PBGDPL tác động lên đối tượng là
sinh viên người DTTS một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình
thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các
quy định pháp luật hiện hành.
1.1.1.2. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc
thiểu số
Mục đích PBGDPL là hoạt động mang tính định hướng, nhằm nâng cao ý thức
pháp luật, hình thành tình cảm, lòng tin và sự tôn trọng đối với pháp luật của Nhà
nước, từ đó tự giác xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành.

Mục đích của PBGDPL là một trong những yếu tố tạo lên cấu trúc bên trong
của PBGDPL, là đặc trưng để phân biệt PBGDPL với các loại giáo dục khác như
giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức...Việc xác định mục đích của PBGDPL có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong cả lý luận lẫn thực tiễn, đó là cơ sở khoa học cho
việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp, mang lại chất lượng, hiệu
quả cho công tác PBGDPL.
Mục đích của PBGDPL cho sinh viên người DTTS bao gồm mục đích tổng
quát và mục địch cụ thể.
Mục đích tổng quát của PBGDPL cho sinh viên người DTTS chính là góp
phần hình thành và nâng cao văn hóa pháp lý cho từng sinh viên người DTTS và
toàn xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN, xây dựng nhà nước pháp quyền.
Mục đích cụ thể gồm có bốn mục đích sau:

11


Mục đích thứ nhất, nâng cao hiểu biết pháp luật cho sinh viên người DTTS
(Mục đích nhận thức)
PBGDPL cho sinh viên người DTTS bao gồm hai lĩnh vực : phổ biến pháp
luật và giáo dục pháp luật. Hoạt động giáo dục pháp luật là một hoạt động giáo dục
cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung. Nội dung giáo dục pháp
luật là một phần của nội dung chương trình giáo dục. Giáo dục pháp luật cho sinh
viên thực hiện thông qua việc dạy và học nội dung, kiến thức pháp luật trong trong
chương trình giáo dục chính khóa qua môn học Pháp luật đại cương, Pháp luật
chuyên ngành. Phổ biến pháp luật cho sinh viên được thực hiện thông qua các hoạt
động giáo dục ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp [26].
PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu nội
dung và các quy định pháp luật đến với sinh viên người DTTS, giúp cho họ hiểu
biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho
việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao

hiểu biết pháp luật cho sinh viên người DTTS.
Mục đích thứ hai, hình thành lòng tin vào pháp luật của sinh viên người DTTS
(Mục đích cảm xúc)
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng
vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho công dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công
bằng và dân chủ xã hội. Khi nào sinh viên người DTTS nhận thức được đầy đủ về
pháp luật thì không cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế mà họ vẫn tự giác thực
hiện.
Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho sinh viên người DTTS đòi hỏi sự kết hợp
của nhiều yếu tố. Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBGDPL để sinh
viên người DTTS hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng
pháp luật, tuyên truyền về những mặt thuận lợi và khó khăn phức tạp của việc thực
hiện và áp dụng pháp luật, những mặt ưu điểm và hạn chế của quá trình điều chỉnh
pháp luật.

12


Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt,
không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng,
mong muốn của tất cả sinh viên người DTTS cũng như mọi người trong xã hội. Quá
trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu
chí, thước đo, do đó sẽ có một số ít đối tượng không được thoả mãn. Chính các yếu
tố hạn chế và mặt trái của các quy định pháp luật càng tạo đòi hỏi sự cần thiết của
công tác PBGDPL để sinh viên người DTTS hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ
pháp luật. Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của sinh viên người
DTTS và đông đảo nhân dân trong xã hội.
Mục đích thứ ba, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên
người DTTS (Mục đích hành vi)

Ý thức pháp luật của người dân nói chung, sinh viên người DTTS nói riêng
được hình thành từ hai yếu tố: tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật.
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên người DTTS chỉ có thể được
nâng cao khi công tác PBGDPL được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính
thuyết phục. PBGDPL góp phần củng cố những tri thức được học trong chương
trình, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin pháp luật, đồng thời rèn luyện, uốn nắn hình
thành hành vi ứng xử theo chuẩn mực pháp luật quy định. PBGDPL trong nhà
trường giúp sinh viên người DTTS tiếp cận pháp luật toàn diện hơn, đầy đủ hơn,
thấm sâu hơn, vượt qua rào cản khô khan của ngôn ngữ văn bản, từ đó nâng cao ý
thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên người DTTS [26].
Mục đích thứ tư, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả QLNN trong quản lý
xã hội và quản lý sinh viên người DTTS.
Một nguyên lý đã được khẳng định là nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp
luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của
bộ máy nhà nước. Thông qua quyền lực nhà nước, pháp luật mới có thể phát huy tác
dụng trong đời sống xã hội, phát huy vai trò quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Hệ
thống pháp luật là “con đường”, là cái “khung pháp lý” do Nhà nước vạch ra để mọi
tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, hoạt động và phát triển. PBGDPL

13


giúp cho sinh viên người DTTS có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và
hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường
pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi sinh viên người DTTS.
PBGDPL đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi
trường QLNN bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá
trình QLNN, quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng
tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý.
1.1.1.3. Nguyên tắc của phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân

tộc thiểu số
Nguyên tắc của PBGDPL chính là những quy định, quy tắc có tính chỉ đạo
xuyên suốt công tác PBGDPL, bảo đảm cho công tác này đạt hiệu quả, thiết thực.
Điều 5 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định các nguyên tắc PBGDPL
bao gồm:
Một là, chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực.
Hai là, kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm.
Ba là, đa dạng các hình thức PBGDPL, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ
của đối tượng được PBGDPL và truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân
tộc.
Bốn là, gắn liền với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống
hàng ngày của người dân.
Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội.
1.1.2. Nội dung, hình thức của phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
người dân tộc thiểu số
Do đối tượng của PBGDPL ở đây chính là sinh viên người DTTS, là đối tượng
có tâm lý thường hay tự ti, bảo thủ, bao gồm cả tư tưởng cục bộ địa phương, địa
phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, dòng họ có phong tục tập quán

14


riêng biệt. Trình độ văn hóa và hiểu biết pháp luật còn thấp, chưa có ý thức tự giác
trong việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật [18].
Theo đánh giá, mặc dù đã có những cải thiện đáng kể nhưng nguồn nhân lực ở
vùng DTTS, miền núi vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng ở cả ba mặt thể
lực, trí lực và tâm lực vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế, xã
hội trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt thể lực, đa số đồng bào DTTS có chiều cao, cân nặng nhỏ bé hơn mức

trung bình của cả nước kém xa mức trung bình về thể chất của người dân trên thế
giới.
Về mặt trí lực, nguồn nhân lực ở vùng DTTS, miền núi đã từng bước được cải
thiện do các chính sách ưu đãi trong giáo dục để thu hút trẻ em tới trường và theo
học các cấp, bậc học cao hơn. Song chất lượng giáo dục ở vùng DTTS, miền núi
nhìn chung còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước, tình trạng lưu ban, bỏ học
tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn.
Về mặt tâm lực, do đặc điểm địa hình xa xôi, cách trở; điều kiện sống ít giao
thiệp với bên ngoài và khó khăn về mặt ngôn ngữ nên phần đa trẻ em DTTS, miền
núi chưa có nhiều kỹ năng sống trong môi trường hiện đại cần hợp tác, trao
đổi...[43]
Do vậy chúng ta cần quan tâm đến nội dung, hình thức PBGDPL cho phù hợp
với đối tượng sinh viên người DTTS.
Theo Điều 10 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật thì việc tổ chức PBGDPL
tập trung vào các nội dung sau:
- Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các
quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình
đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc
phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và
trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp
luật mới được ban hành.

15


- Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên, các thỏa thuận quốc tế.
- Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của
việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật.
Ngoài ra, đối với sinh viên người DTTS chúng ta cũng cần tập trung

PBGDPL trên các nội dung :
- Các chế độ, chính sách mà Đảng và nhà nước đặc biệt ưu tiên cho sinh viên
và đồng bào DTTS.
- Phê phán các luật tục lạc hậu, trái với pháp luật của nhà nước, với lợi ích của
xã hội, tập thể, kìm hãm văn minh tiến bộ.
- GDPBPL về đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân...
- Tuyên truyền sâu rộng quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng ta về đại
đoàn kết dân tộc, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác dân tộc, các chính sách
pháp luật chung và chính sách Dân tộc trong giai đoạn mới, các mục tiêu quốc gia
về thiên niên kỷ và chiến lược công tác Dân tộc, nghị quyết Đại hội Đảng các cấp,
các chương trình phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ
chủ quyền biên giới quốc gia.
- Tuyên truyền vận động sinh viên người DTTS thường xuyên nâng cao cảnh
giác trước mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Dân tộc, Tôn giáo,
lợi dụng những khó khăn trong đời sống của họ để lôi kéo, kích động, chia rẽ khối
đại đoàn kết Dân tộc.
- Tuyên truyền cho sinh viên người DTTS chương trình chung tay xây dựng
nông thôn mới và chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững, tiếp thu các tiến bộ
KHKT, nêu gương các tập thể cá nhân điển hình gương mẫu trong mọi lĩnh vực về
làm kinh tế giỏi, giữ gìn an ninh trật tự nông thôn, cải tạo tập quán lạc hậu, xây
dựng nếp sống văn minh, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
khu dân cư, các gương người tốt việc tốt để nhận diện học tập noi theo.

16


- Tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền,
lợi ích chính đáng của sinh viên người DTTS, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm
như tranh chấp đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, phòng chống các tai tệ nạn xã
hội, buôn bán phụ nữ, trẻ em, phụ nữ bỏ đi khỏi địa bàn, tảo hôn, hôn nhân cận

huyết, các luật tục lạc hậu, mê tín dị đoan trong sinh viên người DTTS [8]
Theo Điều 11 của Luật PBGDPL đã luật hóa các hình thức PBGDPL cho sinh
viên người DTTS hiện đang được áp dụng nhiều trên thực tế và có hiệu quả là:
- Họp báo, thông cáo báo chí;
- PBGDPL trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin,
tài liệu pháp luật;
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet,
pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải trên trang thông tin
điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư;
- Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật;
- Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước, thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở;
- Lồng nghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính
trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ
sở;
- Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ
thống giáo dục quốc dân;
- Các hình thức PBGDPL khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để đảm bảo hiệu quả cho công
tác PBGDPL.
Trong các hình thức PBGDPL trên, có những hình thức Nhà nước, cơ sở giáo
dục thực hiện trách nhiệm chủ động PBGDPL cho sinh viên người DTTS, đáp ứng
quyền của sinh viên người DTTS được thông tin về pháp luật, nhưng cũng có những

17


hình thức để sinh viên người DTTS thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước cung cấp
thông tin pháp luật, chủ động tìm hiểu các vấn đề pháp luật cụ thể. Nhà nước, cơ sở

giáo dục có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu này của sinh viên người DTTS (như
hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật...).
Một số hình thức như đăng tải thông tin pháp luật trên cổng thông tin điện tử,
PBGDPL trên phương tiện thông tin đại chúng được quy định cụ thể về cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm thực hiện các hình thức PBGDPL này để bảo đảm tính khả thi,
tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức.
1.2. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người
dân tộc thiểu số
1.2.1. Quan niệm về quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho
sinh viên người dân tộc thiểu số
Sự ra đời của nhà nước đã dẫn đến sự xuất hiện QLNN. QLNN phụ thuộc vào
chế độ lịch sử, chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia qua các giai đoạn lịch sử. Trong toàn bộ hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham
gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế,
các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội...Trong các chủ thể quản lý xã hội đó thì Nhà
nước là một chủ thể đặc biệt và quản lý nhà nước có những điểm khác biệt sau:
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước (theo nghĩa rộng) là các cơ quan, cá nhân
trong bộ máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp
và cơ quan tư pháp.
Thứ hai, đối tượng quản lý nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống
và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài quốc
gia.
Thứ ba, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao...
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ
pháp luật và các chính sách của nhà nước để quản lý xã hội.

18



×