BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH- MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
LỚP: DB_13DTM1
KHÓA: 10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU CÁ TRA SANG THỊ TRƯỜNG NGA CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN
CỬU LONG AN GIANG
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
GVHD: TH.S MAI XUÂN ĐÀO
Tháng 12, 2015
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH- MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
LỚP: DB_13DTM1
KHÓA: 10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU CÁ TRA SANG THỊ TRƯỜNG NGA CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN CỬU
LONG AN GIANG
GVHD: TH.S MAI XUÂN ĐÀO
Tháng 12, 2015
NHẬN XÉT CỦA GVHD
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
Thành phố Hồ Chí Minh , ngày … tháng … năm
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CL-Fish: Công ty CP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang
CP: Cổ phần
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
GAA: Liên minh thủy sản toàn cầu
HACCP (Hazard Analysis & Critical Control Points): Hệ thống phân tích mối nguy
hiểm và các kiểm soát tới hạn
ISO (International Organization for Standardization): Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn
hóa
NK: Nhập khẩu
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
XK: Xuất khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỤC LỤC
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD: Ths.Mai Xuân Đào
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Kể từ năm 1980, ngành thủy sản Việt Nam đã từ thảm cảnh “đứng bên bờ vực thẳm
của sự đổ vỡ” để sau gần 35 năm trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành
nông nghiệp chủ lực, đặc biệt là trong xuất khẩu. Từ chỗ toàn ngành chỉ xuất khẩu
được 11 triệu đô la, không đủ cho việc nhập vật tư thiết bị cho sản xuất trong nước,
đến nay ngành thủy sản đã xuất khẩu khoảng 6,5 tỷ USD; từ chỗ cả ngành nuôi
trồng và khai thác thủy sản chỉ cung cấp được 600.000 tấn thủy hải sản cho nhu cầu
tiêu dùng nội địa, đến nay ngành đã sản xuất trên 3.000.000 tấn.
Năm 2014 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7.836 triệu USD, tăng 16,74% so
với năm 2013, bình quân tăng 14,27%/năm (1995-2014). Năm 2014 kim ngạch xuất
khẩu thủy sản chiếm 25,39% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp và
2,65% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc. Trong đó, tôm và cá tra vẫn là hai mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt trong đó cá tra đạt khoảng 1.768
triệu USD chiếm 22,56% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản. 1
Nhờ những ưu ái mà thiên nhiên ban tặng, cá tra nhanh chóng trở thành loại cá được
nuôi phổ biến hầu hết ở các nước Đông Nam Á, một trong sáu loài cá nuôi quan
trọng nhất của khu vực này nói chung và Việt Nam nói riêng. Chiếm đến khoảng
95% thị phần cá tra thế giới, tuy nhiên, suốt thời gian qua, XK cá tra Việt Nam
thường xuyên rơi vào tình trạng lao đao. “Trong 3 năm qua mặt hàng cá tra chỉ xoay
quanh mức trên dưới 1,8 tỷ USD, điều này thể hiện rõ quy luật lợi nhuận biên cá tra
giảm dần nếu chúng ta có chính sách tốt thì có thể giữ ổn định ở mức 1.800 triệu
USD, còn không thì ngược lại kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này có thể sẽ giảm
dần trong thời gian tới”.
1Th.s Nguyễn Tiến Hưng, Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản, Thực trạng kim ngạch xuất khẩu thủy sản
giai đoạn 1995-2014 và dự báo năm 2015, 16/04/2015, />
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD: Ths.Mai Xuân Đào
Nhằm thoát khỏi tình trạng lao đao mà nguyên nhân xuất phát từ chính những yếu
kém nội tại cố hữu của ngành đó thì các công ty xuất khẩu thủy sản trong nước
đóng vai trò vô cùng to lớn, không chỉ ổn định lại mà còn nâng tầm thủy sản nói
chung, cá tra nói riêng cả về chất và về lượng.
Đứng trong top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra hàng đầu Việt Nam, Công ty CP
XNK Thủy sản Cửu Long An Giang (CL- Fish Corp) không ngừng nâng cao sức
cạnh tranh, phấn đấu vượt qua khó khăn, đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu. Từ năm
2010 đến nay, trong tình hình chung của ngành, hoạt động xuất khẩu của công ty có
nhiều điều kiện để phát triển, song song đó là những khó khăn và thách thức cũng
không ít. Vì vậy, việc phân tích hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty trong
thời gian vừa qua là rất cần thiết, từ đó đánh giá được tình hình xuất khẩu, xác định
được những yếu tố thuận lợi và khó khăn, đồng thời tìm ra các giải pháp khắc phục
những khó khăn, giúp công ty nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Đó là lí do đề tài “Thực
trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cá tra sang thị trường Nga của Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Cửu Long An Giang” được chọn.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu chung
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản công ty từ năm 2010 đến 2014. Từ đó đưa ra
những giải pháp để thúc đẩy tình hình xuất khẩu thủy sản của công ty cũng như
ngành thủy sản Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thị trường Nga, đơn cử là thị trường cá tra, tình hình xuất nhập
khẩu giữa Việt Nam và Nga, cơ hội và thách thức mà thị trường Nga mang
-
lại cho doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam.
Phân tích được tình hình xuất khẩu cá tra của công ty từ 2010 đến 2014
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu cá tra của công
ty trong những năm gần đây.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Thực Hành Nghề Nghiệp
-
GVHD: Ths.Mai Xuân Đào
Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội và thách thức
đã và đang tồn tại trong công ty. Từ đó, đề ra những giải pháp để nâng cao
hiệu quả xuất khẩu cho công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình xuất khẩu mặt hàng cá tra của công ty.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Công ty CP XNK Thủy sản Cửu Long An
Giang, số 90, đường Hùng Vương, khu công nghiệp Mỹ Quí, TP.Long Xuyên, tỉnh
An Giang.
-
Phạm vi về thời gian
Thông tin số liệu thu thập từ năm 2010 đến cuối năm 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
-
Phương pháp tổng hợp, phân tích: Trên cơ sở tổng hợp các số liệu thứ cấp
của công ty báo báo hằng năm và một số các thông tin trên báo, các dữ liệu
của tổng cục thống kê, tiến hành phân tích tình hình xuất khẩu sang thị
-
trường Nga của công ty.
Phương pháp dự báo: Trên cơ sở các phân tích về thị trường Nga cũng như
thực trạng xuất khẩu cá tra qua các năm từ đó đưa ra các dự báo về xu hướng
trong tương lai của hoạt động xuất khẩu sang thị trường này.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kiến nghị và phần kết luận, kết cấu của bài viết được
chia thành bốn chương nội dung cụ thể như sau:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG NGA VỀ CÁ TRA
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD: Ths.Mai Xuân Đào
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA CÔNG TY CP
XNK THỦY SẢN CỬU LONG AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG NGA
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY KINH DOANH XUẤT
KHẨU CÁ TRA CỦA CÔNG TY CP XNK THỦY SẢN CỬU LONG AN
GIANG VÀO THỊ TRƯỜNG
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Thực Hành Nghề Nghiệp
CHƯƠNG 1.
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.
Khái quát chung về xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu
-
Xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ một quốc gia nhất
định ra ngoài quốc gia đó nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Xuất khẩu
phản ánh mối quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi
khu vực và thế giới. Hình thức kinh doanh xuất khẩu là một trong những
hoạt động kinh tế quan trọng của một quốc gia. Nó là “chiếc chìa khoá” mở
ra những giao dịch kinh tế cho quốc gia gia đó đồng thời tạo ra nguồn thu
ngoại tệ chủ yếu cho quốc gia khi tham gia vào kinh doanh quốc tế. Thực
chất xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các chủ thể có
quốc tịch khác nhau. Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là hoạt động kinh
doanh quốc tế cơ bản của doanh nghiệp. (Th.s Nguyễn Thị Thanh Minh,
-
2013)
Theo Luật Thương mại Việt Nam số 36/2005/QH11, điều 28 khoản 1: “ Xuất
khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực
hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm chung của xuất khẩu
-
Hoạt động xuất khẩu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên cũng
có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và nó liên quan đến
hoạt động thương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc
tế, vận tải quốc tế,… Hoạt động xuất khẩu không giống như hoạt động buôn
bán trong nước ở đặc điểm là có sự tham gia buôn bán của đối tác nước
ngoài, hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở phạm vi nước ngoài. Điều
này sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 11
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
cầu. Vì vậy, nhà xuất khẩu cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu
-
nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hoá phù hợp.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền
kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng
hóa thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem
-
lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Có thể diễn
ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được
diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
Nói tóm lại, hoạt động xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ buôn bán trong nước ra
nước ngoài, điều này thể hiện sự phức tạp của nó. Hoạt động xuất khẩu có thể đem
lại kết quả cao hơn cho hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng
nhiều rủi ro hơn.
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu
Vai trò của hoạt động xuất khẩu đã được tìm hiểu và nhận biết rất sớm bởi
các nhà kinh tế học. Qua quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa những quan
điểm về vai trò xuất khẩu ngày càng hoàn thiện hơn. Ngày nay hoạt động xuất khẩu
có vai trò quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà
còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các công ty xuất nhập khẩu cũng như
các công ty đa quốc gia. Sau đây là một số vai trò chủ yếu của xuất khẩu đối với
mỗi quốc gia và các doanh nghiệp trong nước.
1.1.3.1.
-
Đối với quốc gia
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước.
Ở các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng trưởng
kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước ngoài được
coi là nguồn chủ yếu cuả họ cho quá trình phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc
vay nợ từ nước ngoài và các quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 12
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
vay thấy được khả năng xuất khẩu của nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo
nước này có thể trả được nợ.
-
Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã, đang và
sẽ thay đổi mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các
quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và sự dịch chuyển
cơ cấu kinh tế:
+ Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm này
tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển. Cụ thể là:
• Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
• Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản
xuất, tạo ra lợi thế nhờ qui mô.
• Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động ngoại thương cho
phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn
nhiều lần so với khả năng sản xuất của quốc gia đó.
• Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút kỹ thuật công
nghệ từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng
lực cho sản xuất mới.
• Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản
xuất của từng quốc gia. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân
công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay đã có những sản phẩm mà việc
chế tạo từng bộ phận được thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Để hoàn
thiện được những sản phẩm này, người ta phải tiến hành xuất khẩu linh kiện
từ nước này sang nước khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Do đó, từng
nước không nhất thiết phải sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá mà mình cần,
mà thông qua xuất khẩu họ có thể tập trung vào sản xuất một vài loại mà họ
có lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy những hàng hoá mà mình cần.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 13
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
+ Một cách nhìn nhận khác lại cho rằng, chỉ xuất khẩu những sản phẩm hàng
hoá thừa trong tiêu dùng nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu
và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động
chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi hẹp
-
và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân.
Đối với việc giải quyết công ăn việc làm: Xuất khẩu thu hút hàng ttriệu lao động
thông qua sản xuất hàng xuất khẩu, tạo thu nhập ổn định cho người lao động.
Mặt khác, xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu
ngày càng phong phú và đa dạng của nhân dân.
-
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối
ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại, phụ
thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là một loại hoạt động cơ bản, là hình thức ban
đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tế,
bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế. . . phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của
các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
1.1.3.2.
-
Đối với doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị
trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh
nghiệp. Xuất khẩu là một trong những cách để doanh nghiệp thực hiện kế
-
hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ
buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên
-
cùng có lợi.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng
cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu,… phục vụ cho quá trình phát triển.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 14
Thực Hành Nghề Nghiệp
-
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới hoàn thiện công
tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp cho các doanh nghiệp kéo dài tuổi
-
thọ của chu kỳ sống của sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham
gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân
buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng
hóa xuất khẩu, hạ giá thành của sản phẩm, tiết kiệm các nguồn lực.
1.1.4. Các hình thức xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,
điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ vào
nguồn hàng xuất khẩu...Hiện nay, các doanh nghiệp ngoại thương thường tiến hành
một số hình thức xuất khẩu và được coi là xuất khẩu sau:
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu hàng hoá mà trong đó
các doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản
xuất trong nước, sau đó bán các sản phẩm này cho các khách hàng nước ngoài (có
thể qua một số công đoạn gia công chế biến).
Theo hình thức xuất khẩu này, các doanh nghiệp ngoại thương muốn có hàng
hoá để xuất khẩu thì phải có vốn thu gom hàng hoá từ các địa phương, các cơ sở sản
xuất trong nước. Khi doanh nghiệp bỏ vốn ra để mua hàng thì hàng hoá thuộc sở
hữu của doanh nghiệp.
Xuất khẩu theo hình thức trực tiếp thông thường có hiệu quả kinh doanh cao hơn
các hình thức xuất khẩu khác. Bởi vì doanh nghiệp có thể mua được những hàng
hoá có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của mình cũng như của khách hàng với
giá cả mua vào thấp hơn. Tuy nhiên, dây là hình thức xuất khẩu có độ rủi ro lớn,
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 15
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
hàng hoá có thể không bán được do những thay đổi bất ngờ của khách hàng, của thị
trường dẫn đến ứ đọng vốn và đôi khi bị thất thoát hàng hoá.
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác.
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh
nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò là trung gian thực hiện việc xuất khẩu hàng
hoá cho các đơn vị có hàng hoá uỷ thác. Trong hình thức này, hàng hoá trước khi
kết thúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở hữu của đơn vị uỷ thác. Doanh nghiệp
ngoại thương chỉ có nhiệm vụ làm các thủ tục về xuất khẩu hàng hoá, kể cả việc vận
chuyển hàng hoá và được hưởng một khoản tiền gọi là phí uỷ thác mà đơn vị uỷ
thác trả.
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là dễ thực hiện, độ rủi ro thấp, doanh nghiệp
ngoại thương không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng về hàng hoá và cũng
không phải tự bỏ vốn ra để mua hàng. Tuy nhiên, phí uỷ thác mà doanh nghiệp
nhận được thường nhỏ nhưng được thanh toán nhanh.
Hoạt động gia công xuất khẩu quốc tế.
Gia công quốc tế đó là một hoạt động mà một bên - gọi là bên đặt hàng - giao
nguyên vật liệu , có khi cả máy móc , thiết bị và chuyên gia cho bên kia gọi kà bên
nhận gia công . Để xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng . Hàng
hoá sau khi sản xuất xong được giao cho bên đặt gia công .Bên nhận gia công được
trả tiền công . Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gội
là gia công quốc tế.
Theo hình thức xuất khẩu này, doanh nghiệp ngoại thương đứng ra nhập nguyên
nhiên vật liệu, bán thành phẩm về cho các đơn vị nhận gia công từ các khách hàng
nước ngoài đặt gia công. Sau đó, đơn vị ngoại thương sẽ nhận thành phẩm từ các
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 16
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
đơn vị nhận gia công và xuất sản phẩm này sang cho khách hàng nước ngoài đã đặt
gia công. Đơn vị ngoại thương sẽ nhận được khoản tiền thù lao gia công.
Hoạt động gia công xuất khẩu có đặc điểm là doanh nghiệp ngoại thương không
phải bỏ vốn vào kinh doanh nhưng thu được hiệu quả cũng khá cao, ít rủi ro và khả
năng thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn
thực hiện theo hình thức này, doanh nghiệp phải quan hệ được với các khách hàng
đặt gia công có uy tín. Đây là một hình thức phức tạp, nhất là trong quá trình thoả
thuận với bên khách hàng gia công về số lượng, chất lượng, nguyên vật liệu và tỷ lệ
thu hồi thành phẩm, giám sát quá trình gia công. Do đó, các cán bộ kinh doanh của
doanh nghiệp phải am hiểu tường tận về các nghiệp vụ và quá trình gia công sản
phẩm.
Hoạt động xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu.
Theo hình thức này, mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu về một
khoản ngoại tệ mà là thu về một lượng hàng hoá khác tương đương với trị giá của lô
hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp ngoại thương có thể sử dụng hình thức xuất khẩu
này để nhập khẩu những loại hàng hoá mà thị trường trong nước đang rất cần hoặc
có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba.
Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập
Theo điều 29 Luật Thương mại Việt Nam 2005
-
Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc
từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục xuất
khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
-
Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc
đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 17
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra
khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hang hóa đó vào Việt
Nam.
-
Thời gian hàng hoá kinh doanh theo hình thức tạm nhập tái xuất được lưu
chuyển ở Việt Nam là 60 ngày.
Chuyển khẩu hàng hoá
Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho
một nước khác (nước nhập khẩu) nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt
Nam cũng như thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
Quá cảnh hàng hoá
Hàng hoá của một nước được gửi đi tới một nước thứ ba qua lãnh thổ Việt Nam, có
sự cho phép của Chính phủ Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam nếu có đủ điều
kiện như quy định của Nhà nước Việt Nam có thể được xem xét cho thực hiện dịch
vụ này để tăng thêm thu nhập.
1.1.5. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp
Đánh giá tình hình hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là rất quan trọng và cần
thiết. Qua đó, cho phép doanh nghiệp xác định được thực trạng xuất nhập khẩu của
công ty, tình hình kinh doanh, thông qua đó doanh nghiệp sẽ nhìn nhận được những
mặt thành tựu và tồn tại bên trong doanh nghiệp, từ đó có phương hướng điều chỉnh
cho phù hợp với tình hình hiện tại. Thực trạng xuất khẩu được đánh giá thông qua
hệ thống các chỉ tiêu:
Chỉ tiêu định tính
Các tiêu chuẩn định tính là các tiêu chuẩn không thể hiện được dưới dạng các số đo
vật lý hoặc tiền tệ. Ở đây chỉ tiêu khả năng xâm nhập, mở rộng và phát triển thị
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 18
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
trường được sử dụng thông qua kết quả của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy các
hoạt động xuất khẩu của mình trên thị trường xuất khẩu, khả năng mở rộng sang các
thị trường khác, mối quan hệ với khách hàng nước ngoài, khả năng khai thác, nguồn
hàng cho xuất khẩu …Các kết quả này chính là những thuận lợi quá trình mà doanh
nghiệp có thể khai thác để phục vụ cho quá trình xuất khẩu tới độ thu được lợi
nhuận cao, khả năng về thị trường lớn hơn.
Các chỉ tiêu định lượng.
-
Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu bán hàng của công ty xuất nhập khẩu là toàn bộ giá trị hàng hóa và
dịch vụ đã bán, đã thu tiền và chưa thu tiền (do phương thức thanh toán) trong một
kỳ kinh doanh nào đó.
Doanh thu bán hàng của công ty xuất nhập khẩu được xác định bằng công thức:
Doanh thu bán hàng ảnh hưởng trực tiếp bởi hai nhân tố:
+ Số lượng hàng hóa
+ Đơn giá xuất bán
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu rất phức tạp, có những khoản thu bằng
ngoại tệ, có những khoản lại thu bằng nội tệ. Để đánh giá tình hình kinh doanh xuất
nhập khẩu của công ty thì ta dùng chỉ tiêu doanh thu quy về ngoại tệ phổ biến như
USD.
-
Chỉ tiêu lợi nhuận.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 19
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng của
doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động.
TR = P x Q
Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp được tính bằng công thức:
Trong đó:
TR: Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu
P: Giá cả hàng xuất khẩu
Q: Số lượng hàng xuất khẩu
1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp
1.1.6.1.
Nhóm nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Các nhân tố quốc tế
Trong điều kiện mà mỗi quốc gia đều dựa vào lợi thế của mình cũng như thị trường
tiêu thụ thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu thì tính liên kết và phụ thuộc giữa
các nước ngày càng tăng lên. Chính vì điều này mà mỗi sự biến động của các nhân
tố quốc tế đều có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động kinh tế trong nước.
Lĩnh vực hoạt động xuất khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước
ngoài, chịu sự chi phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng rất
nhạy cảm. Bất kỳ một sự thay đổi nào của các nhân tố sau của các nước đều ảnh
hưởng tới hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu ở nước ta:
-
Môi trường kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu và
khả năng thanh toán của khách hàng , do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu
của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị trường
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 20
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thu nhập của dân cư, tình hình lạm
phát, tình hình lãi xuất.
-
Môi trường luật pháp
Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc
gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của một nhóm các
quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.
-
Môi trường văn hoá - xã hội
Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường xuất khẩu có ảnh
hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết định mua
hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghệp.
-
Môi trường cạnh tranh
Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp, các công ty
quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường xuất khẩu nhất
định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp muốn thâm
nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình.
Các nhân tố quốc gia
Đây là các nhân tố ảnh hưởng bên trong đất nước nhưng ngoài sự kiểm soát của
doanh nghiệp. Các nhân tố đó bao gồm:
-
Nguồn lực trong nước
Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước có
điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao động. Về mặt ngắn
hạn, nguồn lực đuợc xem là không biến đổi vì vậy chúng ít tác động đến sự biến
động của xuất khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều kiện
thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công mỹ
nghệ, may mặc giầy dép...
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 21
Thực Hành Nghề Nghiệp
-
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Nhân tố công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, và
mang lại nhiều lợi ích , trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả cao. Nhờ sự
phát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm
phán với các bạn hàng qua điện thoại , fax.. giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian.
Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin chính xác,kịp thời .Yếu tố công
nghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu.
Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất khẩu, kỹ thuật
nghiệp vụ trong ngân hàng...
-
Cơ sở hạ tầng
Đây là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng
gồm: đường xá, bến bãi hệ thống vận tải , hệ thống thông tin,hệ thống ngân hàng...
Các nhân tố này có thể tăng cường hoặc hạn chế năng lực giao dịch, mở rộng thị
trường xuất khẩu của doanh nghiệp, tăng cường hoặc hạn chế các dịch vụ vận
chuyển hàng hoá xuất của doanh nghiệp.
-
Hệ thống chính trị pháp luật của nhà nước
Nhân tố này không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp ở hiện
tại mà cón ảnh hưởng trong tương lai. Vì vậy doanh nghiệp phải tuân theo và hưởng
ứng nó ở hiện tại, mặt khác doanh nghệp phải có kế hoạch trong tương lai cho phù
hợp.
Các doanh ngiệp ngoại thương khi tham gia hoạt động xuất khẩu cần nhận biết và
tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động xuất khẩu nói riêng và hoạt động
kinh doanh nói chung. Do vậy doanh nghiệp cần lợi dụng các chính sách của nhà
nước về hoạt động xuất khẩu cũng như không tham gia vào các hoạt động xuất khẩu
mà nhà nước không cho phép.
-
Tỷ giá hối đoái
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 22
Thực Hành Nghề Nghiệp
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa giá đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.
Tỷ gía hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến
lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu. Do vậy doanh
nghiệp cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến việc thu đổi ngoại tệ sang
nội tệ, từ đó ảnh hướng đến hiệu quả xuất của doanh nghiệp.Để biết được tỷ giá hối
đoái, doanh nghiệp phải hiểu được cơ chế điều hành tỷ giá hiện hành của nhà nước ,
theo dõi biến động của nó từng ngày. Doanh nghiệp phải lưu ý tỷ giá hối đoái được
điều chỉnh là tỷ giá tỷ giá chính thức được điều chỉnh theo quá trình lạm phát.
-
Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp, mặt
khác nó cũng chèn ép “dìm chết” các doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh ở
đây biểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cùng ngành hoặc các
mặt hàng khác có thể thay thế được. Hiện nay, nhà nước Việt Nam có chủ trương
khuyến khích mọi doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu đã dẫn đến sự bùng nổ số
lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, do đó đôi khi có sự cạnh tranh không
lành mạnh. Đây là một thách thức cho các doanh nghiệp hiện nay.
1.1.6.2.
Nhóm nhân tố môi trường bên trong doanh nghiệp
Là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác động
làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình. Bao gồm các nhân
tố sau:
-
Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính của doanh nghiệp
Là sự tác đông trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống các cán bộ, công nhân viên đến
hoạt động tổ chức sản xuất và xuất khẩu hàng hoá. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của
bộ máy điều hành cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố
quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp
lý cách điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết định tới hiệu quả kinh doanh nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 23
Thực Hành Nghề Nghiệp
-
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Yếu tố lao động
Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất khẩu
hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là chủ thể sáng
tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động. Trình độ và năng lực trong hoạt động xuất
khẩu của các bên kinh doanh sẽ quyết định tới tới hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
-
Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng tác động tới hoạt động xuất của doanh nghiệp là
vốn . Bên cạnh yếu tố về con người, tổ chức quản lý thì doanh nghiệp phải có vốn
để thực hiên các mục tiêu về xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra. Năng lực tài
chính có thể làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng của doanh nghiệp vì vốn là
tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu theo chiều hướng khác
nhau, tốc độ và thời gian khác nhau...tạo nên một môi trường xuất khẩu phức tạp
đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt, những thay đổi
này để có những phản ứng kịp thời, tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tiến hành hoạt
động xuất khẩu.
1.1.7. Phân tích quy trình hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toànvà thuận lợi
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải tổ chức tiến hành theo các khâu sau
của quy trình xuất khẩu chung.
Trong quy trình gồm nhiều bước có quan hệ chặt chẽ với nhau bước trước là cơ sở,
tiền đề để thực hiện tốt bước sau. Tranh chấp thường xảy ra trong tổ chức thực hiện
hợp đồng là do lỗi yếu kém ở một khâu nào đó. Để quy trình xuất khẩu được tiến
hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở các bước là rất cần thiết. Thông thường một
quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một số bước sau.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 24
Thực Hành Nghề Nghiệp
1.1.7.1.
GVHD:Ths. Mai Xuân Đào
Nghiên cứu thị trường và lựa chọn đối tác
Nghiên cứu thị trường
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá
ở đâu có sản xuất và lưu thông và ở đó có thị trường. Thị trường nước ngoài gồm
nhiều yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường trong nước bởi vậy nắm vững các
yếu tố thị trường hiểu biết các quy luật vận động của thị trường nước ngoài là rất
cần thiết phải tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường có
ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu
thị trường phải trả lời một số câu hỏi sau: xuất khẩu cái gì, ở thị trường nào, thương
nhân giao dịch là ai, giao dịch theo phương thức nào, chiến lược kinh doanh cho
từng giai đoạn để đạt được mục tiêu đề ra.
Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu thị trường có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng. Trong nghiên cứu cần nắm vững một số nội dung:những điều kiện
chính trị, thương mại chung, luật pháp và chính sách buôn bán, những điều kiện về
tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước. Bên cạnh đó, đơn vị kinh
doanh cũng cần phải nắm vững một số nội dung liên quan đến mặt hàng kinh doanh
trên thị trường đó như dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu tiêu dùng của
người dân, giá thành và dự biến động giá cả, mức độ cạnh tranh của mặt hàng đó.
Lựa chọn đối tác
Trong kinh doanh xuất khẩu, đối tác hay khách hàng nói chung là những người hay
tổ chức có quan hệ giao dịch với doanh nghiệp nhằm thực hiện các hợp đồng mua
bán hàng hóa hay hợp tác kỹ thuật liên quan tới việc xuất khẩu hàng hóa của doanh
nghiệp. Xét về tính chất và mục đích hoạt động, đối tác trong kinh doanh xuất khẩu
có thể được chia làm ba loại:
•
Các hãng hay công ty.
SVTH: Tống Thị Kim Thanh
Trang 25