Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (912.42 KB, 98 trang )

Header Page 1 of 166.
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính đa dạng của nền văn hoá Việt Nam đƣợc thể hiện bằng những giá
trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong nền văn hoá đa
dạng mà thống nhất ấy, những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít
ngƣời có vị trí quan trọng. Với điều kiện địa lí tự nhiên khác nhau, mỗi dân
tộc đã tìm ra phƣơng thức ứng xử thiên nhiên khác nhau, hình thành tập quán
sản xuất. Đây có thể đƣợc coi là một lâu đài văn hóa đồ sộ của mỗi tộc
ngƣời, là sản phẩm đƣợc tích lũy, chắt lọc qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo
nên bản sắc văn hóa dân tộc, làm thành chuẩn mực để phân biệt dân tộc này
với dân tộc khác. Tuy nhiên, hiện nay, những giá trị văn hoá đã bị mai một,
thậm chí biến mất. Yêu cầu đặt ra là phải có biện pháp giữ gìn, phát huy
những di sản văn hoá đó.
Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang với 8 dân tộc anh
em sinh sống, trong đó ngƣời Dao cƣ trú chủ yếu ở 4 xã Lục Sơn, Bình Sơn,
Vô Tranh, Trƣờng Sơn. Quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên, lao động
sản xuất để sinh tồn đã hình thành những kinh nghiệm sản xuất và đƣợc
truyền từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc văn hoá của ngƣời Dao nơi
đây. Tuy nhiên, để hội nhập và phát triển, việc thay đổi tập quán sản xuất và
áp dụng khoa học kĩ thuật mới là yêu cầu cấp thiết đối với nông nghiệp của
ngƣời Dao ở Lục Nam. Trong số kĩ thuật mới đƣợc áp dụng có những kĩ thuật
đem lại hiệu quả sản xuất, nhƣng cũng có kĩ thuật không phù hợp với đặc thù
về nơi cƣ trú, về tập quán và tổ chức xã hội. Điều đó cho thấy tập quán sản
xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc Dao ở Lục Nam có những điểm tích
cực cần đƣợc phát huy. Việc nghiên cứu về những tri thức dân gian trong sản
xuất nông nghiệp sẽ giúp các cơ quan quản lý có thêm cơ sở để giải quyết tốt
vấn đề trên, nhằm tạo ra sự phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần xây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Footer Page 1 of 166.




Header Page 2 of 166.
2
dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của tộc ngƣời Dao ở Lục
Nam tỉnh Bắc Giang.
Với những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tri thức dân gian trong
sản xuất nông nghiệp của người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của người Dao ở
huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các
góc độ khác nhau. Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục của tác giả Lê Quí Đôn
viết năm 1778 đã đề cập tới ngƣời Man (ngƣời Dao) về phong tục tập quán và
địa vực cƣ trú của họ. Đây là cơ sở để làm rõ tên gọi, những nét cơ bản về văn
hóa và địa bàn cƣ trú của dân tộc Dao ở nƣớc ta cũng nhƣ trên địa bàn huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Năm 1971, chuyên khảo công phu về ngƣời Dao của Viện dân tộc học
xuất bản với nhan đề “Người Dao ở Việt Nam” đã nghiên cứu một cách tổng
thể về ngƣời Dao ở nƣớc ta về nhiều mặt nhƣ nguồn gốc ngƣời Dao, đời sống
vật chất và tinh thần của các nhóm ngƣời Dao sống ở nƣớc ta.
Bài viết Bước đầu tìm hiểu các nhóm Dao ở Việt Nam (Nguyễn Khắc
Tụng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 87/1996) và đề tài nghiên cứu Trang
phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam (Nông Quốc Tuấn, Bảo tàng văn
hóa các dân tộc Việt Nam, năm 2000) đã làm rõ đƣợc cách phân biệt các
nhóm Dao ở Việt Nam qua trang phục của ngƣời phụ nữ. Các công trình đề
cập tới sự phân bố các nhóm Dao ở nƣớc ta, đây lại là một bằng chứng nữa để

phân biệt các nhóm Dao và địa bàn cƣ trú của họ trong đó có ở huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang.
Cuốn Lịch sử Lục Nam do Ban thƣờng vụ huyện uỷ Lục Nam tổ chức
biên soạn và xuất bản năm 1994 đã trình bày những nét cơ bản về huyện Lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 2 of 166.




Header Page 3 of 166.
3
Nam và ngƣời Dao sống trên địa bàn. Tác phẩm đề cập tới vị trí địa lí, điều
kiện tự nhiên của huyện Lục Nam. Những nội dung không chỉ đề cập tới nghề
sống chính của dân tộc Kinh chiếm đa số mà còn đề cập tới nghề sống chính
của bộ phận ngƣời Dao ở đây, đó là nghề nông nghiệp. Tác phẩm cho thấy
tầm quan trọng của nông nghiệp trong đời sống của ngƣời Dao nơi đây và đặc
biệt với tầm quan trọng nhƣ vậy họ đã có những cách thức sản xuất nhƣ thế
nào để đảm bảo cuộc sống.
Công trình Địa chí Bắc Giang - Địa lí và kinh tế, do Sở văn hoá thông
tin Bắc Giang phối hợp với Trung tâm UNESCO thông tin tƣ liệu lịch sử và
văn hoá Việt Nam, (năm 2003), đã giới thiệu về dân tộc Dao ở Bắc Giang từ
địa vực cƣ trú, truyền thống văn hoá đến tập quán canh tác.
Các công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2003) và Lịch sử
Đảng bộ huyện Lục Nam (2003) đã giới thiệu sơ lƣợc về ngƣời Dao nhƣ địa
bàn cƣ trú, tên gọi của các nhóm ngƣời Dao tại địa phƣơng và những truyền
thống của họ trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Tác phẩm, là cơ sở
để giải thích và làm rõ quá trình di cƣ và tên gọi các nhóm ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam.

Năm 2006, Bảo tàng Bắc Giang xuất bản công trình “Di sản văn hoá
Bắc Giang về Văn hoá phi vật thể”, tác phẩm là sự khái quát về những nét
văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Bắc Giang trong đó có
đề cập tới ngƣời Dao về địa bàn cƣ trú, những nét văn hoá tiêu biểu của họ
trong đời sống vật chất và tinh thần. Tác phẩm cũng đã cơ bản giới thiệu
đƣợc những tri thức dân gian của dân tộc Dao ở Bắc Giang trong các lĩnh
vực của đời sống trong đó có những tri thức dân gian liên quan tới lĩnh vực
nông nghiệp.
Những kết quả nghiên cứu trên đây chính là ý kiến gợi mở, nguồn tài
liệu quan trọng giúp tác giả tiếp cận và nghiên cứu đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 3 of 166.




Header Page 4 of 166.
4
3. Đối tƣợng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp
bao gồm các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi của dân tộc Dao ở huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang trong truyền thống và hiện tại.
Mục đích: Nghiên cứu tri thức dân gian truyền thống và hiện tại
trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam. Nghiên cứu
đó xác định những tri thức nào đã biến đổi, sự biến đổi đó phù hợp hoặc
không phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trƣờng sinh thái và phƣơng thức
canh tác hiện tại. Từ đó, đề xuất hƣớng áp dụng khoa học kĩ thuật có hiệu
quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững ngành kinh tế nông nghiệp của
ngƣời Dao ở địa phƣơng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và nguồn gốc của ngƣời
Dao của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Hệ thống lại những tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của
ngƣời Dao ở huyện Lục Nam trong truyền thống.
- Làm rõ sự biến đổi của tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp
dƣới tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh thời điểm hiện nay. Từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của tri thức dân gian của
ngƣời Dao trong sản xuất nông nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các thôn bản có
đông ngƣời Dao sinh sống, đó là 4 xã Lục Sơn, Bình Sơn, Vô Tranh và
Trƣờng Sơn - huyện Lục Nam.
Về mặt thời gian: Nghiên cứu những tri thức dân gian trong sản xuất
nông nghiệp truyền thống và hiện tại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 4 of 166.




Header Page 5 of 166.
5
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Nguồn tƣ liệu
Nguồn tài liệu chung: Bao gồm một số sách sử và địa chí cổ; các công
trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đã xuất bản của các nhà khoa học trong và
ngoài nƣớc.
Nguồn tài liệu địa phƣơng: Các công trình nghiên cứu về lịch sử, lịch

sử Đảng bộ và văn hoá tộc ngƣời ở tỉnh Bắc Giang nói chung và huyện Lục
Nam nói riêng.
Nguồn tƣ liệu điền dã: Bao gồm sự quan sát trực tiếp cảnh quan, môi
trƣờng, nguồn tài liệu truyền miệng thông qua phỏng vấn trực tiếp.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp lịch sử nghiên cứu khái quát về huyện Lục Nam, nguồn
gốc tộc ngƣời, các tập quán trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao nơi
đây và những biến đổi của nó trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phƣơng pháp logic nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá khách quan về vấn
đề nghiên cứu, giúp ngƣời đọc có cái nhìn hệ thống và khái quát về những tri
thức trong nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Phƣơng pháp điền dã dân tộc học khai thác đƣợc nguồn tƣ liệu thực tế
không đƣợc ghi lại thành văn đồng thời khẳng định tính chính xác của nó.
Ngoài ra, đề tài còn kết hợp với một số phƣơng pháp khác nhƣ so sánh, đối
chiếu, phân tích, tổng hợp các nguồn tƣ liệu liên quan để rút ra những kết luận
khoa học.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống đƣợc những tri thức dân gian trong sản xuất nông
nghiệp của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhƣ: chọn đất, chọn
giống, lựa chọn thời vụ, cách thức chăm sóc, bảo quản sản phẩm...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 5 of 166.




Header Page 6 of 166.
6
Qua nghiên cứu Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của

người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang làm sáng tỏ sự biến đổi của tri
thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp dƣới tác động của các yếu tố nội
sinh và ngoại sinh. Đây sẽ là cơ sở ý tƣởng cho các công trình nghiên cứu
khoa học sau này.
Luận văn cũng góp phần vào việc giới thiệu bản sắc văn hoá của dân
tộc Dao ở huyện Lục Nam nói riêng và cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Bắc
Giang nói chung. Luận văn là nguồn tƣ liệu cho dạy học lịch sử địa phƣơng,
giáo dục tƣ tƣởng tình cảm yêu quê hƣơng, đất nƣớc.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia
thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1. Khái quát về huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.
Chƣơng 2. Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao
ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang trong truyền thống.
Chƣơng 3. Sự biến đổi của tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp
của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang hiện nay.
Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phụ lục bao gồm một số bảng biểu và
ảnh minh họa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 6 of 166.




Header Page 7 of 166.
7
CHƢƠNG 1


KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LỤC NAM
1.1. Lịch sử hành chính huyện Lục Nam
Vùng đất Lục Nam ngày nay vốn thuộc địa phận huyện Na Ngạn thời
Lý- Trần; huyện Na Ngạn - Lục Na thời thuộc Minh; huyện Lục Ngạn thời Lê
sơ; huyện Lục Ngạn, Phƣợng Sơn thời Mạc; huyện Lục Ngạn - Phƣợng Nhãn
- Bảo Lợi thời Lê trung hƣng - Tây Sơn và thời Nguyễn.
Thời kỳ thực dân Pháp thống trị, năm 1889, thực dân Pháp thành lập tỉnh
Lục Nam, tỉnh lỵ đóng ở thị trấn Lục Nam. Năm 1891, tỉnh Lục Nam bị giải
thể, thuộc về tỉnh Bắc Ninh [3, tr.7].
Sau ngày hòa bình lập lai, ngày 21 tháng 1 năm 1957, huyện Lục Nam
đƣợc thành lập (thuộc tỉnh Bắc Giang). Theo Nghị định số 24-Ttg của Thủ
tƣớng Chính phủ, 3 xã Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội thuộc huyện Chí Linh của
Hải Dƣơng; 2 xã Yên Sơn, Bắc Lũng thuộc huyện Yên Dũng - Bắc Giang; 7
xã: Hoà Bình A, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hƣng, Phƣơng Sơn, Tân
Lập thuộc huyện Lạng Giang-Bắc Giang đƣợc trả về huyện Lục Ngạn (cũ).
Trên cơ sở hai huyện là Lục Ngạn và Sơn Động (cũ) chia thành 3 huyện là
Lục Ngạn, Sơn Động và Lục Nam. Khi ấy, Lục Nam có 19 xã và 1 thị trấn:
Nam Sơn, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội, Yên Sơn A, Yên Sơn B, Bắc Sơn, Bắc
Lũng, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tam Dị, Hoà Bình A, Hoà Bình B, Tiên Hƣng, Tân
Lập, Phƣơng Sơn, Mỹ An, Nghĩa Phƣơng, Trƣờng Sơn và Thị trấn Lục Nam.
Theo Nghị định số 535-TC CQNTNĐ kí ngày 6 - 9 - 1957 hai xã là Nam Sơn
và Bắc Lũng đƣợc chia thành 4 xã là: Nam Sơn, Cƣơng Sơn, Bắc Lũng và
Khám Lạng [3, tr.7].
Ngày 28-7-1958, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 241-NV chia xã Phƣơng
Sơn thành 2 xã Phƣơng Sơn và Thanh Sơn; chia xã Hoà Bình B thành 2 xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 7 of 166.





Header Page 8 of 166.
8
Đông Hƣng và Tiên Nha; chia xã Yên Sơn B thành 2 xã Bình Sơn và Hùng
Sơn; chia xã Mỹ An thành 2 xã Mỹ An và Trƣờng Giang. Đồng thời theo
Nghị định, xã Mỹ An đƣợc chuyển về huyện Lục Ngạn, còn xã Lan Mẫu
thuộc huyện Yên Dũng đƣợc chuyển về huyện Lục Nam.
Thực hiện chỉ thị số 23-TTg kí ngày 15-4-1963 của Thủ tƣớng Chính
phủ, 2 xã đƣợc trả lại tên cũ là Hoà Bình A thành Chu Điện và Bắc Sơn thành
Vô Tranh, 4 xã đƣợc đổi tên mới là Tân Lập thành Đông Phú, Hùng Sơn
thành Lục Sơn, Thanh Sơn thành Thanh Lâm và Nam Sơn thành Huyền Sơn.
Kể từ đây, huyện Lục Nam có 25 xã và 1 thị trấn: Bảo Đài, Bắc Sơn,
Bắc Lũng, Bình Sơn, Cẩm Lý, Cƣơng Sơn, Chu Điện, Đan Hội, Đông Phú,
Đông Hƣng, Huyền Sơn, Khám Lạng, Lan Mẫu, Lục Sơn, Nghĩa Phƣơng,
Phƣơng Sơn, Tam Dị, Tiên Nha, Tiên Hƣng, Thanh Lâm, Trƣờng Giang,
Trƣờng Sơn, Vũ Xá, Vô Tranh, Yên Sơn và Thị trấn Lục Nam.
Ngày 18-2-1997, Chính phủ ra Nghị định số 19/CP thành lập Thị trấn
Đồi Ngô trên cơ sở tách một phần dân cƣ từ xã Chu Điện, Tiên Hƣng, Tam
Dị. Thị trấn huyện lị Đồi Ngô đƣợc đầu tƣ qui hoạch, xây dựng kết cấu hạ
tầng thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện.
1.2. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Lục Nam là huyện miền núi, nằm ở phía Đông - Nam của tỉnh Bắc
Giang, có diện tích tự nhiên 59.858 ha. Địa hình của huyện chia thành ba
vùng: vùng núi, vùng trung du và chiêm trũng. Diện tích đất nông nghiệp là
14.800 héc ta, diện tích đất rừng và đồi là 31.170 héc ta.
Huyện Lục Nam nằm ở vị trí từ 21 độ 11 phút đến 21 độ 27 phút vĩ độ
Bắc; từ 106 độ 18 phút đến 106 độ 41 phút kinh độ Đông. Phía Bắc huyện
Lục Nam giáp huyện Lục Ngạn, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam
giáp hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Dƣơng, phía Đông giáp huyện Sơn Động,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 8 of 166.




Header Page 9 of 166.
9
phía Tây giáp hai huyện là Lạng Giang và Yên Dũng. Trung tâm huyện cách
Hà Nội 100km và cách thành phố Bắc Giang 25km.
Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực núi rừng Đông - Bắc với khu
vực Trung du và đồng bằng Bắc bộ nên khí hậu Lục Nam có tính đa dạng của
chế độ hoàn lƣu gió mùa nhiệt đới phức hợp, có phân hóa rõ rệt theo mùa.
Nhiệt độ bình quân hàng năm là 22,90C. Do sự ảnh hƣởng của địa hình nên
trong cùng một huyện cũng có sự chênh lệch về nhiệt độ, tạo ra những tiểu
vùng khí hậu khác nhau. Số ngày mƣa của huyện trong năm trung bình là 107
ngày, mƣa phân bố không đều giữa các vùng trong huyện, giữa các tháng
trong năm. Mùa mƣa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, tập trung ở các tháng 6,
7 và 8 (chiếm từ 50 - 60% lƣợng nƣớc mƣa của cả năm).
Huyện Lục Nam có Sông Lục Nam chảy qua từ đầu đến cuối huyện.
Sông Lục Nam phát nguyên từ Đình Lập (Lạng Sơn), thời cổ mang tên là
Minh Đức và đƣợc mệnh danh là một Trƣờng Giang đẹp nhất Bắc Kì. Sông
dài 178 km, chi lƣu là các sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Bò. Đối với
huyện, đây là nguồn nƣớc chính phục vụ cho nông nghiệp. Nƣớc từ sông Lục
Nam đƣợc dẫn qua các kênh mƣơng về các đầm, ao, hồ tạo ra hệ thống thủy
lợi phong phú, thuận lợi. Ven sông hình thành các làng chài đánh bắt cá và
đây cũng là nghề sống chủ yếu của các làng sống ven sông. Sông Lục, núi
Huyền còn tạo ra một cảnh tƣợng hùng vĩ, rất đẹp, là nguồn lợi cho du lịch
đang đƣợc quan tâm đầu tƣ và khai thác.

Đất đai của huyện Lục Nam rất đa dạng. Đất đồi, đƣợc hình thành chủ
yếu do sự phong hóa của các loại đá mẹ sa thạch và phiến thạch, một phần do
sự phong hoá của đất phù sa cổ, do đó đất đồi của Lục Nam nghèo dinh
dƣỡng. Đất ruộng, loại đất này cũng có nhiều loại nhƣng chủ yếu đƣợc chia
làm 3 nhóm là đất ruộng lúa nƣớc có nguồn gốc Feralit, có nguồn gốc Feralit
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 9 of 166.




Header Page 10 of 166.
10
bạc mầu và lúa nƣớc có nguồn gốc phù sa. Nhìn chung, đất ruộng của Lục
Nam diện tích không lớn, ít dinh dƣỡng.
Toàn huyện có 26.300 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên và rừng tái sinh
là 14.300 ha. Rừng nguyên sinh với hai ba tầng cây, tầng thứ nhất với các loại
hầu hết là gỗ quý nhƣ đinh, lim, sến, táu, dẻ; tầng thứ hai là những cây thấp cây bụi nhƣ tre, nứa, song, mây. Tuy nhiên, do khai thác chƣa hợp lí nên rừng
nguyên sinh diện tích còn lại không nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh, khó định
tầng, bề ngoài rậm rạp, độ che tán lớn, nhƣng bên trong rỗng, cây to gỗ lớn
còn lại ít, phần lớn là gỗ tạp hoặc rừng tre, nứa xen gỗ tạp. Nhiều nơi, chân
núi và sƣờn núi vẫn còn rừng cây che phủ nhƣng đến gần đỉnh núi chỉ có cây
bụi hoặc sim, mua, ràng ràng, cỏ gianh. Huyện Lục Nam có mỏ than bùn khá
lớn, tập trung chủ yếu ở 2 xã là Lục Sơn và Trƣờng Sơn. Ngoài ra còn có đất
sét, có hai loại là đất sét chịu lửa và đất sét làm gạch ngói.
Nhìn chung, huyện Lục Nam có điều kiện thuận lợi về đất, nƣớc, rừng
để phát triển nền nông lâm nghiệp đa dạng về cây trồng, vật nuôi đảm bảo
cuộc sống ổn định cho đồng bào các dân tộc tại địa phƣơng.
1.3. Nguồn gốc ngƣời Dao ở huyện Lục Nam

1.3.1. Tên gọi và nguồn gốc tộc người
Ngƣời Dao ở Việt Nam có khoảng 600 nghìn ngƣời cƣ trú ở 18 tỉnh
(Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái
Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu, Lạng Sơn, Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ, Bắc
Giang, Thanh Hoá, Đắc Lắc, Đồng Nai và Hà Tây). Do nhiều biến cố lịch
sử, ngƣời Dao ở Trung Quốc phân tán thành nhiều nhóm nhỏ trong đó có
một số nhóm vào Việt Nam "Không còn nghi ngờ gì nữa, họ vốn có nguồn
gốc ở Trung Quốc, quá trình thiên di của họ vào Việt Nam là một thời kỳ
dài". [8, tr. 56]. Do nhiều biến cố lịch sử nhƣ, một bộ phận ngƣời Dao đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 10 of 166.




Header Page 11 of 166.
11
phải di cƣ vào Lạng Sơn và Quảng Ninh (Việt Nam) rồi từ đây đi sang các
huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế của Bắc Giang qua
nhiều thời kì, bằng nhiều con đƣờng, với nhiều nhóm địa phƣơng khác
nhau để sinh cơ lập nghiệp. [27; tr. 299].
Mặc dù có rất nhiều nhóm Dao với những tên gọi khác nhau, nhƣng căn
cứ vào đặc điểm văn hoá mà nét chủ yếu của nó là trang phục phụ nữ, các nhà
khoa học chia ngƣời Dao ở Việt Nam thành các nhóm sau đây:
+ Dao Đỏ còn có tên Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy
+ Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng)
+ Dao Lô Gang (Thanh Phán, Dao Đội Ván, Dao Cóc Mùn)
+ Dao Tiền
+ Dao Quần Trắng

+ Dao Thanh Y (Dao Ban Y, Dao Chàm)
+ Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài, Dao Tẻn) [ 8, tr36]
Về tiếng nói ngôn ngữ dân tộc Dao đƣợc các nhà nghiên cứu xếp vào
ngữ hệ Mông - Dao. Đến nay ngƣời Dao chƣa có chữ viết riêng, từ xa xƣa,
đồng bào dựa vào chữ Hán để phiên âm ra chữ Nôm gọi là chữ Nôm Dao và
sử dụng bộ chữ này để ghi chép gia phả, sách cúng, sáng tác truyện, thơ… Về
tiếng nói, các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng, đó là tiếng Dao. Sự
khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm không nhiều, chỉ trong một số ít từ và
thanh điệu. Cũng nhƣ tiếng Dao trong cả nƣớc, tiếng Dao ở Bắc Giang cũng
gồm hai phƣơng ngữ: phƣơng ngữ thứ nhất gồm hai nhóm Dao là Lô Gang,
Thanh Phán; phƣơng ngữ thứ hai có nhóm Dao Thanh Y. Tại thời điểm hiện
tại, ngƣời Dao sinh sống tại các bản thuộc các xã của Lục Nam vẫn nói tiếng
Dao trong sinh hoạt hàng ngày. Nhƣng khi có khách là ngƣời dân tộc khác họ
cũng có thể nói đƣợc tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp thứ hai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 166.




Header Page 12 of 166.
12
Ở Bắc Giang, thế kỉ XVII, nhóm Dao Thanh Y từ Quảng Đông và Móng
Cái qua Lục Ngạn, đến Bắc Giang, sang sông Đuống rồi ngƣợc lên Tuyên
Quang. Một bộ phận khác lên Yên Bái và Lào Cai, đƣợc gọi là Dao tuyển.
Thế kỉ XVIII, một bộ phận dân tộc Dao từ Quảng Đông và Quảng Tây vào
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, đó là nhóm Dao Lô Gang [ 21, tr.10].
Nhƣ vậy, dân tộc Dao ở Bắc Giang chủ yếu thuộc các nhóm Dao Thanh
Y, Dao Thanh Phán và Dao Lô Gang. Hiện nay họ sống thành làng riêng hoặc

xen kẽ với một số dân tộc anh em nhƣ Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay…Kết quả
khảo sát ở địa phƣơng cho thấy ngƣời Dao sinh sống ở các xã của huyện Lục
Nam có nguồn gốc từ Quảng Ninh di thực sang. Ngƣời Dao ở đây thuộc các
nhóm là Dao Thanh Y và Dao Thanh Phán. Ngƣời Dao ở các bản Gốc Dẻ,
Văn Non, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam vẫn nhắc tới một địa danh là Khe Sú,
Ba Trẽ nhƣ nói tới nơi cội nguồn của mình. Một số nhân chứng kể lại, vào
khoảng những năm 20, 30 thế kỉ 20 thì ngƣời Dao mới di cƣ đến đây và sinh
sống cạnh những làng của các dân tộc nhƣ Tày, Nùng hay Kinh. Điều tra xác
minh Khe Sú, Ba Trẽ đều là những bản của ngƣời Dao sinh sống thuộc huyện
Uông Bí của tỉnh Quảng Ninh [55].
Cho đến thời điểm hiện tại, để chỉ ngƣời Dao, các dân tộc khác thƣờng
gọi là ngƣời Mán, Mán Sơn Đầu. Đồng bào Dao thì tự nhận mình là Kiềm
Miền, Dìu Miền. Các công trình nghiên cứu về ngƣời Dao đều ghi rõ tên Mán
bắt đầu từ âm Man (âm Hán - Việt), là tên gọi phiếm xƣng có ý miệt thị dân
tộc vì phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ các tộc ngƣời nhỏ bé, sinh sống
bên ngoài địa bàn cƣ trú của ngƣời Hán. Tên gọi Kiềm Miền (Kiềm nghĩa là
rừng, Miền nghĩa là ngƣời), tức là ngƣời ở rừng núi, cũng là tên gọi phiếm
xƣng, không chính xác, vì cùng với ngƣời Dao ở rừng còn có nhiều tộc ngƣời
khác sống ở miền núi. Tên Mán Sơn Đầu cũng là tên gọi của các tộc ngƣời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 12 of 166.




Header Page 13 of 166.
13
khác đặt cho ngƣời Dao ở nhóm Dao Lô Gang, do đồng bào có tục chải đầu
bằng sáp ong.

Tên tự gọi nữa của đồng bào là Dìu Miền, âm Hán Việt: Dìu là Dao,
Miền là ngƣời; có nghĩa là ngƣời Dao. Tên gọi Dao đƣợc nhắc nhiều trong
các truyện truyền miệng, truyện cổ. Theo tài liệu “Người Dao ở Việt Nam”,
tên gọi Dao còn đƣợc ghi trong các thƣ tịch cổ của Trung Quốc. Chẳng hạn
sách “Thuyết man” viết: “Man bắt đầu từ Ngũ Khê gọi là Bàn Hồ ở rải rác
khắp vùng Sở Việt gọi là Dao, lúc bấy giờ có công nên được miễn giao dịch
gọi là Mạc Dao, về sau gọi sai đi là Dao”. Sách “Quế hải ngu hành chí” viết:
“ Người Dao vốn dòng dõi Bàn Hồ ở Ngũ Khê…”. [28, tr. 8]
Nhƣ vậy, “Dao” là tên tự nhận của ngƣời Dao, nó gắn với lịch sử hình
thành tộc ngƣời và đƣợc họ thừa nhận. vào những thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ
trƣớc, các nhà khoa học đã đề xuất và đƣợc Chính phủ công nhận “Dao” là
tên gọi chính thức.
1.3.2. Địa bàn cư trú
Ngƣời Dao ở Việt Nam cƣ trú ở cả ba vùng: vùng cao, vùng giữa, và
vùng thấp. Sống ở vùng cao (trung bình từ 800 - 1000m) phần nhiều là ngƣời
Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền, Dao Làn Tẻn. Cƣ trú ở vùng giữa (trung bình
từ 400-600m) chủ yếu là ngƣời Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Thanh
Phán. Vùng thấp, chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng (độ cao khoảng
200m) là địa bàn cƣ trú của ngƣời Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao
Tiền v.v ...Ở Bắc Giang, dân tộc Dao là một trong 7 thành phần dân tộc chủ
yếu của tỉnh, sinh sống chủ yếu ở Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.
Tuy số lƣợng không đông lắm, dân số 7.337 ngƣời (số liệu năm 2003), đứng
thứ 7 về dân số trong 7 dân tộc chủ yếu sinh sống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
và quá trình cƣ trú tại Bắc Giang chƣa lâu song đồng bào đã ổn định cuộc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 13 of 166.





Header Page 14 of 166.
14
sống của mình, coi Bắc Giang là quê hƣơng và đóng góp sức mình xây dựng
quê hƣơng mới, đồng thời mang những nét văn hóa đặc trƣng của mình đóng
góp cùng các dân tộc anh em, góp phần tạo nên sắc thái văn hóa riêng của tỉnh
Bắc Giang [27]. Các công trình nghiên cứu về ngƣời Dao ở Bắc Giang cho
biết ở Bắc Giang có 4 nhóm Dao là Dao Thanh Phán, Dao Đỏ, Dao Thanh Y
và Dao Lô Gang. Qua khảo sát thực tế tại địa bàn cƣ trú, ngƣời Dao ở Bắc
Giang có 3 nhóm Dao chủ yếu là: Dao Lô Gang, Dao Thanh Phán và Dao
Thanh Y.. Ở Lục Nam có hai nhóm Dao Thanh Phán và Dao đỏ sống chủ yếu
trong 4 xã: Lục Sơn, Bình Sơn, Trƣờng Sơn và Vô Tranh.
Bảng1. Thống kê số lượng theo nhóm người Dao ở huyện Lục Nam
năm 2009
STT

Bản



1

Gốc Dẻ

Lục Sơn

70

340


Thanh Y

2

Văn Non

Lục Sơn

178

925

Thanh Y

3

Đồng Đỉnh

Bình Sơn

115

480

Thanh Phán

4

Vua Bà


Trƣờng Sơn

72

324

Thanh Y

5

Đồng Vành 1

Lục Sơn

61

219

Thanh Phán

6

Đồng Vành 2

Lục Sơn

62

221


Thanh Phán

Vô Tranh

20

90

Thanh Phán

7

Số hộ Số khẩu

Nhóm

(Phiếu khảo sát về Các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình các dân
tộc huyện Lục Nam, tháng 10 năm 2009)
Ngƣời Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y sinh sống tại các thôn bản của
huyện Lục Nam đã coi đây là quê hƣơng của mình, đang đóng góp công sức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 166.




Header Page 15 of 166.
15
xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp. Thôn bản của

ngƣời Dao thƣờng tập trung thành từng cụm gần rừng, đồi. Thƣờng mỗi hộ ở
một quả đồi, khu nào đất đẹp thì hai hay ba hộ ở cạnh nhau. Ranh giới giữa
các bản thƣờng là đƣờng mòn, khe núi, dòng suối… đƣợc dân bản công nhận
theo quy ƣớc không thành văn. Ngoài một số ruộng nƣơng đã có ngƣời sở
hữu, còn tất cả rừng, suối, núi đều thuộc quyền sử dụng chung của mọi nhà
trong bản. Đồng bào hạn chế những ngƣời ở nơi khác đến làm ruộng, nƣơng
hoặc lấy gỗ ở phạm vi thôn bản mình.
Dân cƣ trong mỗi thôn bản thƣờng chỉ có từ 2 - 3 họ, trong đó bao giờ
cũng có một họ đông ngƣời hơn và thƣờng là họ của những ngƣời đến cƣ trú
đầu tiên. Mỗi thôn, bản Dao đều có những nghi lễ chung: liên quan đến trồng
trọt, chăn nuôi, sắn bắn. Thƣờng thì trƣớc khi gieo trồng (đầu xuân), khi lúa
mọc cao (mùa hè), sau khi gặt lúa (mùa thu), lúc hạn hán kéo dài, trong bản
có dịch gia súc hoặc ngƣời ốm đau nhiều… là dân bản lại họp nhau cúng thổ
thần, bàn việc chung, tổ chức ăn uống chung.
Từ xƣa, thôn bản ngƣời Dao đã vận hành theo phƣơng thức tự quản.
Mỗi bản thƣờng có ngƣời đứng đầu, giữ vai trò trụ cột, điều hành toàn bộ mọi
hoạt động của bản. Nếu bản có một dòng họ cƣ trú thì ngƣời đứng đầu bản do
ngƣời có uy tín trong dòng họ nắm giữ. Khi thôn bản có nhiều họ cƣ trú thì
dân bản chọn ngƣời có uy tín, biết cúng thổ thần, am hiểu phong tục tập quán
dân tộc, lai lịch và mối quan hệ họ hàng của dân bản, có kinh nghiệm đoán
định thời tiết… để bầu vào chức đứng đầu bản.
Ngƣời đứng đầu thôn, bản đƣợc bà con tôn trọng và tin cậy, khi có việc
không tự phân xử đƣợc các bên đều đến hỏi ngƣời đứng đầu bản và làm theo
sự phân sử của ngƣời này. Ở các nhóm dân tộc Dao, bên cạnh vai trò chính
của ngƣời đứng đầu thôn, bản thì các cụ già làng, trƣởng họ và thầy cúng là
những ngƣời có uy tín cao, thƣờng có mặt trong các công việc chung của bản,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 15 of 166.





Header Page 16 of 166.
16
thôn, đƣợc dân bản tôn trọng. Hiện nay, ngƣời phụ trách các tổ chức đoàn thể
nhƣ Chi hội Phụ nữ, Chi hội Nông dân, Chi hội Cựu chiến binh, chi đoàn
thanh niên, ban công tác mặt trận và nhất là vai trò của chi bộ Đảng ở thôn,
bản có tiếng nói giúp trƣởng thôn, bản làm tốt hơn nhiệm vụ của mình.
Ngoài khu vực cƣ trú, mỗi thôn bản còn có đất canh tác, rừng núi, suối,
ao, đƣờng đi… hợp lại thành đất bản. Ranh giới giữa các bản có tính ƣớc lệ
nhƣng đƣợc tôn trọng. Trong địa vực đất bản, các gia đình đƣợc quyền khai
phá nƣơng rẫy nhƣng không đƣợc khai phá rừng đầu nguồn, rừng cấm, chỗ
đất đã có chủ (đƣợc đánh dấu bằng cọc gỗ nhỏ hoặc gài lá gianh). Hết thời
điểm phát nƣơng mà ngƣời đánh dấu không khai phá, coi nhƣ đất vô chủ. Nếu
tranh chấp nƣơng đã đánh dấu thì cây nêu của ai cắm trên mảnh đất đó lá héo
hơn, đất thuộc về ngƣời đó. Mảnh nƣơng đã canh tác, bỏ hoá hai, ba vụ vẫn
của chủ cũ. Đất công (đƣờng đi, suối, rừng cấm, bãi chăn thả…) do ngƣời
đứng đầu bản quản lý, các hộ dân trong bản có trách nhiệm giữ gìn, tu sửa,
bảo vệ. Nhiều bản ngƣời Dao có quy định về bảo vệ rừng và nguồn nƣớc khá
chặt chẽ. Tiêu biểu nhƣ bản Đồng Vành, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Mỗi
bản đều có một khu rừng đầu nguồn, ở đó thần rừng trú ngụ, rất thiêng, không
ai đƣợc thu hái măng, vầu, nứa, chặt củi. Nếu để trâu bò vào rừng làm đổ cây,
gẫy măng thì bị phạt khá nặng.
Đối với nguồn nƣớc duy trì sản xuất và sinh hoạt, đồng bào thƣờng
xuyên tu sửa, khơi dòng lấy nƣớc đầu nguồn. Ai thả xác súc vật chết vào
nguồn nƣớc ăn thì phải làm lại máng nƣớc và khơi nguồn nƣớc khác cho
ngƣời bị hại. Đồng bào cũng quy định không đƣợc chôn cất ngƣời chết gần
nguồn nƣớc. Sông suối chảy qua thôn bản nào thì thôn bản đó quản lý. Nguồn
thuỷ sản (cá, tôm, cua, ốc, hến…) dân bản đều đƣợc hƣởng nhƣng không

đƣợc đánh bắt bằng hình thức ruốc bằng cây lá độc. Để bảo vệ hoa màu, hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 166.




Header Page 17 of 166.
17
nay ở nhiều thôn bản đồng bào tuân thủ việc không thả rông trâu bò, lợn, gà,
vịt… Ai vi phạm phải bồi thƣờng cho ngƣời bị hại.
Gia đình chủ yếu của dân tộc Dao ở huyện Lục Nam, chủ yếu là hình
thức phụ quyền. Mỗi gia đình thƣờng có 2 thế hệ (gồm cha mẹ và các con
chƣa lập gia đình) hoặc 3 thế hệ (gồm một cặp vợ chồng, các con chƣa lập gia
đình và ông bà). Rất hiếm gặp những gia đình lớn bốn thế hệ. Xu hƣớng phát
triển của gia đình ở các nhóm Dao là: con trai sau khi lập gia đình nếu có
điều kiện thì tách ra ở riêng, thƣờng dựng nhà gần nhà bố mẹ, đƣợc bố mẹ
chia tài sản (ruộng, trâu, gia cầm) làm vốn ban đầu nhằm bảo đảm cuộc sống.
Trong gia đình, quyền lực thuộc về ngƣời đàn ông, nếu bố chết thì con trai
trƣởng thay thế. Ngƣời chồng chủ yếu lo những công việc lớn nhƣ lập kế
hoạch làm ăn, làm nhà, cúng bái, săn bắn, đối ngoại. Những việc này đều
đƣợc các con lớn tuổi bàn bạc và thống nhất. Ngƣời vợ đóng vai trò chính về
nội trợ, quản lý kinh tế gia đình, may vá thêu thùa, giáo dục con cái. Các công
việc nƣơng rẫy, ruộng vƣờn cả hai vợ chồng đều gánh vác. Trong mọi công
việc, đời sống hàng ngày, vợ nghe lời chồng, con cái vâng lời cha mẹ, em
nghe lời anh chị. Trong quan hệ giữa con dâu, em dâu với bố mẹ chồng, anh
chồng, ngƣời con rể với mẹ vợ… có quy định nghiêm ngặt: con dâu, em dâu
không đƣợc ăn cùng mâm, không đƣợc đến khu vực ngủ của bố chồng, anh
chồng; ngƣợc lại bố chồng, anh chồng không đƣợc đến gần giƣờng ngủ của

em dâu, con dâu.
Ngƣời Dao ở Lục Nam có các họ chính: Bàn, Đặng, Triệu, Trƣơng,
Trần, Lã, Lý. Trong các họ Dao, họ Bàn đƣợc coi là gốc. Mỗi dòng họ thƣờng
có một trƣởng họ do các gia đình trong dòng họ cử ra. Nhà trƣởng họ gọi là
nhà lớn, nơi đặt bàn thờ ông tổ, nơi cúng lễ, ăn tết và cấp sắc chung cho các
thành viên trong họ. Trƣởng họ có trách nhiệm chủ trì lễ cấp sắc, lễ cúng bàn
Vƣơng, là đầu mối quán xuyến việc giúp đỡ các gia đình trong tông tộc làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 17 of 166.




Header Page 18 of 166.
18
nhà, tổ chức đám cƣới, chia gia tài, làm ma, chay,.. Ngƣợc lại, các thành viên
trong dòng họ có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau tận tình khi có nhà gặp khó khăn,
hoạn nạn.
Bộ nữ phục nhóm Dao Thanh Y gồm có: quần dài (khoa), áo dài (gủi),
mũ (mâu), khăn (plảu mìn), yếm (tùng pàn), thắt lƣng (thỉn làng). Đặc điểm
của nhóm là phụ nữ thƣờng đội chiếc mũ nhỏ có gắn nhiều chiếc cúc tròn
bằng bạc ở vòng quanh mặt ngoài, trên áo thêu hoa văn trang trí hình ngƣời
đội hoa. Phụ nữ nhóm Dao Thanh Y để tóc dài, búi tóc lên đỉnh đầu, đội mũ
hình tròn. Cốt mũ bằng sơ mƣớp, ngoài lợp chỉ đen, quanh thành mũ gắn hai
hàng khuy bạc song song (đƣờng kính mỗi khuy trên 1,5cm), mỗi hàng gồm
40 khuy; đỉnh mũ phẳng, có gắn ngôi sao bạc tám cánh hoặc mƣời cánh,
đƣờng kính của sao xấp xỉ đƣờng kính mặt phẳng tròn của đỉnh mũ. Bên
ngoài mũ phủ chiếc khăn nhỏ mầu đỏ hoặc trắng thêu hoa văn, có hai dải vải,
mỗi dải rộng 4-5cm, mầu đỏ, đính từ hai góc khăn, thả buông hai bờ vai. Áo

của phụ nữ Dao Thanh Y xẻ ngực dài đến ống chân, màu chàm. Cổ áo thấp,
vẫn nối liền với nẹp ngực nhƣng có phân biệt với nẹp ngực bằng dải vải rộng
4cm, màu trắng, chạy từ ngực phải vòng qua cổ sau sang ngực trái, thêu nhiều
hoa văn. áo xẻ tà từ gấu lên đến thắt lƣng. Gấu áo và các mép xẻ tà, xẻ ngực
viền vải đỏ. ống tay áo rộng vừa phải, cổ tay áo may vải đỏ từ cổ tay lên đến
bắp tay (10cm). Hai thân áo trƣớc so le: bên phải dài trên 60cm từ vai xuống,
bên trái dài hơn 90cm, nếp trong mỗi thân là vải đỏ. Cũng nhƣ áo phụ nữ các
nhóm Dao khác, áo phụ nữ nhóm Dao Thanh Y không có khuy, khi mặc dùng
dây lƣng buộc ngoài, nút thắt phía lƣng. Các đầu dây lƣng thả dài đến khoeo
chân. Dây lƣng của phụ nữ Dao Thanh Y bằng vải trắng, dài 3,5 - 4m, rộng 4
- 5cm, trên mặt thêu kín các đƣờng chỉ xanh, đỏ xen lẫn nhau theo hình chân
rết. Yếm ngực là một vuông vải có hình ô trám, chia làm hai tam giác cân,
tam giác phía trên để trắng, ở giữa có gắn một bán cầu bằng bạc có đƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 18 of 166.




Header Page 19 of 166.
19
kính 3 - 4cm, tam giác bên dƣới là vải đỏ. Quần phụ nữ Dao Thanh Y mầu
chàm, may kiểu chân què, ống rộng vừa phải, không thêu. Đồ trang sức gồm
vòng cổ (tẳng khuỳn), vòng tay (ná sằm), nhẫn (pô đà quỳn) bằng bạc. Bộ nữ
phục nhóm Dao Thanh Phán gồm có áo (linh lùi), yếm (nom càm), quần (chu
chùn), thắt lƣng (hầu hang), khăn (nom mùa), mũ (đổng) (mũ chỉ giành cho
các bé gái). Trang phục nữ nhóm Dao Thanh Phán có đặc điểm chỉ có một
màu chàm thẫm, không có hoa văn trang trí. Trƣớc đây đồng bào mặc áo dài
có thêu trang trí trên nẹp cổ. Hiện nay một số nơi, nữ Dao Thanh Phán mặc áo

ngắn cài khuy bên sƣờn phải nhƣ áo của ngƣời Hoa.
Kể chuyện là hình thức sinh hoạt văn hóa rất độc đáo của ngƣời Dao.
Hầu hết các truyện thần thoại, truyện cổ tích của ngƣời Dao đều đƣợc viết
thành thơ. Do đó có thể vừa đọc, vừa hát khi kể. Thƣờng trong các buổi lễ cầu
mùa, lễ cấp sắc kéo dài nhiều ngày, những ngƣời già thƣờng kể chuyện cho
con cháu nghe bên bếp lửa. Cũng có khi trong cuộc hát, hai bên hát về một
câu chuyện cổ với mục đích thử sự hiểu biết của đối phƣơng. Với cách hát
này, cùng một câu chuyện song mỗi bên lần lƣợt hát từng đoạn sau đó dừng
lại để bên kia phải hát tiếp. Bên nào không tiếp tục hát đƣợc coi nhƣ kém cỏi.
Do đó những câu chuyện cổ đƣợc phổ biến rất rộng trong cộng đồng.
Hát dân ca (báo dung) là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đã
tồn tại từ lâu đời trong cộng đồng dân tộc Dao ở Lục Nam. Dân ca Dao đƣợc
cất lên trong nhiều trƣờng hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau chứ không đơn
thuần là những lời ca giải trí khi nhàn rỗi, lời hát giao duyên của nam nữ
thanh niên. Hát dân ca đặc sắc nhất là loại hình hát giao duyên. Thời gian tổ
chức hát thƣờng vào lúc nông nhàn, nhất là vào dịp lễ hội.
Cũng nhƣ các tộc ngƣời khác, vào đầu mùa xuân, ngƣời Dao Lục Nam
tổ chức nhiều lễ hội (xíp bịp xuân). Những lễ hội này thƣờng đƣợc tổ chức tại
các ngôi đình, chùa - địa điểm mà đồng bào cho là linh thiêng nhất trong bản,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 19 of 166.




Header Page 20 of 166.
20
nơi cƣ ngụ của các vị thánh thần. Tiêu biểu nhất là lễ hội đền Khe Cát, xã
Trƣờng Sơn đƣợc tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Khuôn

Liêng, xã Trƣờng Sơn ngày 10 tháng Giêng âm lịch nhằm mời các vị thần
linh về đón xuân chung vui cùng dân bản, tỏ lòng biết ơn và cầu xin sự phù hộ
che chở của thánh thần. Trƣớc khi tổ chức dân bản cùng dọn dẹp nơi cúng tế,
các thầy cúng chuẩn bị văn tế. Lễ vật cúng tế do các gia đình trong bản đóng
góp thƣờng gồm có gà, rƣợu, xôi trắng. Có hai loại văn cúng tế, một bài căn
cúng gọi Ngọc Hoàng và một bài văn cúng gọi thần đất. Nội dung của các bài
văn cúng là nhân dịp mùa xuân cây cối vạn vật tốt tƣơi mời các vị thần về
chứng giám lòng thành của dân bản, cùng dân bản đón mùa xuân mới, phù hộ
cho dân bản năm mới mùa màng thuận lợi.

TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Lục Nam là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nơi đây có điều kiện
địa lý, tự nhiên khá thuận lợi với chất đất phù hợp cho canh tác nông nghiệp,
hệ thống sông suối trải dài cung cấp đầy đủ nƣớc cho sản xuất. Điều kiện tự
nhiên cùng cảnh trí thiên nhiên tƣơi đẹp, núi non hùng vĩ đã khiến cho Lục
Nam trở thành nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, trong đó có ngƣời Dao.
Ngƣời Dao cƣ trú chủ yếu tại các xã Lục Sơn, Bình Sơn, Trƣờng Sơn, Vô
Tranh của huyện. Đồng bào di cƣ từ Quảng Ninh tới Lục Nam từ những năm
đầu thập kỷ 30 của thế kỷ 20. Ngƣời Dao ở Lục Nam thuộc hai nhóm Dao
Thanh Y và Dao Thanh Phán. Đồng bào sinh sống thành từng bản riêng và
còn bảo lƣu đƣợc nhiều phong tục tập quán độc đáo mang bản sắc văn hoá
của tộc ngƣời, trong đó có tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp. trong
sản xuất nông nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 20 of 166.





Header Page 21 of 166.
21
CHƢƠNG 2

TRI THỨC DÂN GIAN TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DAO HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG TRONG TRUYỀN THỐNG
2.1. Quan niệm về tri thức dân gian
Tri thức dân gian, kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay
kiến thức địa phƣơng (Local knowledge) là hệ thống các kiến thức của các
cộng đồng dân bản địa trên quy mô lãnh thổ khác nhau. Nó đƣợc hình thành,
tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch sử phát triển cụ thể của cộng đồng,
với sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng [44, tr.23]. Tri thức
dân gian bao hàm tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội nhƣ: nông nghiệp,
sức khỏe, giáo dục… Trong nông nghiệp, tri thức dân gian đƣợc thể hiện
trong trồng trọt và chăn nuôi. Về trồng trọt: các giống cây bản địa, kinh
nghiệm xác định giống nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, các kinh
nghiệm tƣới tiêu, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, cách thu hoạch và bảo
quản, cất trữ lƣơng thực, các kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, nƣơng rẫy.
Trong chăn nuôi: kinh nghiệm chọn giống gia súc, quản lý bãi chăn thả theo
mùa, các cây lƣơng thực cho gia súc, các cây thuốc cho gia súc…
Kiến thức dân gian đƣợc hình thành và biến đổi liên tục qua nhiều thế
hệ trong một cộng đồng địa phƣơng nhất định. Tri thức dân gian là sản phẩm
đƣợc tạo ra trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng. Theo thời
gian, các kinh nghiệm truyền thống này đƣợc biến cải để ngày càng hoàn
thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi
trƣờng tự nhiên và xã hội. Theo dòng lịch sử, nhiều kiến thức cũ đã không
còn ý nghĩa nên mất đi, các kiến thức địa phƣơng mới đang liên tục đƣợc nảy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Footer Page 21 of 166.




Header Page 22 of 166.
22
sinh và hoàn thiện. Tri thức dân gian hay kiến thức bản địa có khả năng thích
ứng cao với môi trƣờng riêng của địa phƣơng, nơi đã hình thành và phát triển
kiến thức đó. Đây là một ƣu điểm rất quan trọng mà các hệ thống kĩ thuật từ
bên ngoài không có đƣợc.
Tri thức dân gian do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua lao động trực
tiếp. Toàn thể cộng đồng đó bao gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, ngƣời già.
Tri thức dân gian đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ và truyền bá từ thế hệ này qua thế
hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau. Đây là
điểm khác biệt so với kiến thức khoa học và thƣờng gây khó khăn cho ngƣời
nghiên cứu, nhất là ngƣời ngoài cộng đồng, ngƣời không cùng ngôn ngữ và
văn hóa. Tri thức dân gian luôn gắn liền và hòa nhập với nền văn hóa, tập tục
địa phƣơng. Vì vậy khả năng tiếp thu, ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ
dàng. Trong thực tế chúng ta đã từng thấy rằng có những kĩ thuật mới đƣa lại
hiệu quả cao hơn nhƣng không đƣợc dân chúng chấp nhận vì trái với tập tục
văn hóa của địa phƣơng.
Tri thức dân gian có tính đa dạng rất cao, vì nó đƣợc hình thành trong
những điều kiện tự nhiên khác nhau và đƣợc mọi thành viên trong cộng đồng
sáng tạo ra nên sự khác nhau về giới tính, tuổi tác, kĩ năng, kinh nghiệm, tình
trạng kinh tế… đã làm cho hệ thống này hết sức phong phú.
Ngày nay, tri thức dân gian đang có nguy cơ bị mai một dần. Tri thức
dân gian có thể bị thất lạc tự nhiên do kĩ thuật, công cụ lao động đƣợc cải tiến
hoặc tri thức ấy không còn đƣợc sử dụng nữa. Nó cũng có thể bị thất truyền

do không đƣợc ghi chép thành văn bản, vì vậy mà việc nghiên cứu và bảo tồn
là rất quan trọng. Nghiên cứu tri thức dân gian sẽ nâng cao đƣợc nhận thức về
kho tàng kiến thức bản địa đối với sự phát triển. Quá trình phát triển và sự gia
tăng dân số đã thúc đẩy sự thất lạc của tri thức dân gian. Việc thực hiện các
dự án ở vùng cao là hết sức quan trọng nhƣng để đạt hiện quả cao thì các nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 22 of 166.




Header Page 23 of 166.
23
khoa học không thể bỏ qua việc kết hợp giữa kiến thức hiện đại và những tri
thức dân gian, đây cũng là yếu tố tao ra sự phát triển bền vững.
Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang vừa là những kinh nghiệm của cuộc sống xã hội
do các thế hệ trƣớc để lại, lại vừa là những kinh nghiệm của các thế hệ hôm
nay tích lũy, bổ sung nhƣng nó cũng tiếp thu những kinh nghiệm dân gian
của các thành phần dân tộc khác ở trong và ngoài tỉnh. Do đó, khi nói về
những tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là nói về một địa phƣơng nhƣng nó không thể
không có những nét chung mà các thành phần dân tộc khác, địa phƣơng
khác cũng có. Vì thế việc hiểu tƣờng tận những tri thức dân gian ở Bắc
Giang là hết sức quan trọng.
2.2. Hệ thống tri thức dân gian về sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao
Lục Nam trong truyền thống
Cũng nhƣ các dân tộc khác ở khu vực phía Bắc, hoạt động kinh tế chủ
yếu của ngƣời Dao ở Lục Nam là nông nghiệp. Trồng trọt và chăn nuôi đƣợc

ngƣời Dao lấy làm nghề sống chính từ lâu đời. Chính vì tầm quan trọng của
nó nên việc đúc rút những kinh nghiệm thành hệ thống kiến thức đã đƣợc
ngƣời Dao tiến hành. Ngày nay những nét độc đáo và khác biệt của hệ thống
tri thức trong nông nghiệp rất cần đƣợc nghiên cứu để kịp thời khắc phục mặt
tiêu cực cũng nhƣ tạo điều kiện phát huy những mặt tích cực vốn có của nó.
2.2.1. Trong trồng trọt
2.2.1.1. Nương rẫy
Thời vụ
Trải qua quá trình làm nƣơng những kinh nghiệm dần trở thành truyền
thống và đƣợc đồng bào khái quát thành nông lịch áp dụng đối với canh tác
nƣơng rẫy. Chu kì sản xuất ổn định tạo thành nông lịch của đồng bào:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 23 of 166.




Header Page 24 of 166.
24
Tháng giêng: Sau khi ăn Tết nguyên đán đồng bào tiến hành chọn rừng,
chọn đất để làm nƣơng.
Tháng hai, Tháng ba: Tiến hành phát rẫy.
Tháng tư, tháng năm: Tiến hành đốt nƣơng và bắt đầu tra lúa.
Tháng sáu, tháng bảy: Tiến hành làm cỏ đợt một.
Tháng tám: Tiến hành làm cỏ đợt hai.
Tháng chín, tháng mười: Tiếp tục chăm sóc và tiến hành thu hoạch lúa.
Qua lịch nông nghiệp đối với nƣơng rẫy của ngƣời Dao ở Lục Nam,
chúng ta thấy rằng việc sản xuất của đồng bào phụ thuộc chặt chẽ vào tự
nhiên. Đối với canh tác nƣơng rẫy, nguồn nƣớc mƣa hàng năm là quan trọng

nhất. Do là nguồn nƣớc chính phục vụ cho canh tác nƣơng rẫy nên thời gian
sinh trƣởng của cây lúa nƣơng và các giống cây trồng khác đều phải gắn với
mùa mƣa. Nƣơng chỉ làm một vụ và phải trùng vào mùa mƣa để đảm bảo đủ
nƣớc cho lúa suốt thời gian sinh trƣởng.
Chọn đất
Trƣớc kia đồng bào Dao ở Lục Nam chỉ làm nƣơng du canh với kĩ
thuật “đao canh hỏa chủng” nguyên thủy. Thời gian canh tác ở mỗi mảnh
nƣơng là hết sức hạn chế, khi đất trồng bị bạc mầu, năng suất giảm thì đồng
bào bỏ để tìm nƣơng mới. Việc chọn đất có ý nghĩa quyết định đến sự thành
bại của mỗi vụ mùa sản xuất. Theo các bậc cao niên, khi chọn đất phát nƣơng,
nên chọn các khu rừng già. Đất ở đây thƣờng có mầu vàng sậm hoặc mầu nâu
đen do lớp mùn phân hủy từ lá rừng rụng xuống, phủ lên hết lớp này đến lớp
khác. Kinh nghiệm dân gian cho thấy, đất nƣơng gốc rừng già bao giờ cũng
tơi xốp, độ phì nhiêu cao, giữ ẩm tốt hơn so với các loại đất khác và phù hợp
với nhiều loại cây trồng [56]. Khi chọn nơi để phát nƣơng đồng bào cũng tính
đến khả năng mở rộng diện tích canh tác cho những vụ sau. Vì vậy nƣơng của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 24 of 166.




Header Page 25 of 166.
25
ngƣời Dao thƣờng ở cách xa nhau, mỗi gia đình chiếm cứ một vài vạt đồi
rộng, năm nay chƣa khai thác hết, năm sau tiếp tục khai quang để mở rộng
diện tích. Nƣơng rẫy của ngƣời Dao thƣờng ở xa bản, một mặt là do tập quán
qui định nhƣng mặt khác là do những nơi ở gần thì đều đã đƣợc khai thác cạn
kiệt, không còn khả năng trồng tỉa nữa. Khi tìm đƣợc một mảnh nƣơng vừa ý,

các gia đình ngƣời Dao chọn ngày lành tháng tốt (ngày này đều đến xem tại
nhà thầy cúng trong bản, thƣờng là những ngày 6, ngày 9 trong tháng âm lịch)
để tiến hành phát nƣơng. Lễ cúng nƣơng tại nhà thì lễ vật có gà, xôi, rƣợu để
cúng thổ thần, thổ địa, thần rừng, thần cây. Để cúng lễ trên nƣơng, ngƣời chủ
gia đình chuẩn bị lễ gồm cây lúa đan từ tre, nứa, rƣợu, các thanh tre mỏng đến
làm lễ trên mảnh nƣơng. Cây lúa đƣợc cắm ở giữa, các thanh tre cắm tròn
xung quanh tƣợng trƣng cho sự bảo vệ, ngƣời chủ gia đình thắp hƣơng khấn
vái rồi rót rƣợu vòng quanh cây lúa, cầu mong cho cây lúa trên mảnh nƣơng
này trổ nhiều bông, ngƣời trồng đƣợc ăn no, mạnh khoẻ.
Chọn giống
Nƣơng sau khi đƣợc khai quang đƣợc đồng bào sử dụng để canh tác
lúa nƣơng. Giống lúa nƣơng, thƣờng là các loại lúa nếp nƣơng, lúa mộ, tẻ đỏ,
bao thai lùn, chân trâu lùn, Má tai, Tài lũ pin. Lúa nếp nƣơng là loại lúa có
thân cao, năng suất trung bình, hạt thóc màu sẫm, gạo trắng và thơm đƣợc
đồng bào dùng làm bánh dày hay nấu rƣợu. Giống lúa này ít bị sâu bệnh, do
cây cứng không đổ nên ngƣời Dao hay trồng. Với lúa tẻ, trƣớc đây, ngƣời
Dao thƣờng gieo trồng loại cây cao, hạt nhỏ, gạo đỏ, ăn dẻo và thơm. Loại lúa
này có nhƣợc điểm là hay bị đổ non và năng suất không cao nhƣng bù lại, dễ
chăm sóc và không tốn phân bón.
Khi mang thóc giống ra nƣơng, đồng bào làm lễ cúng thóc giống. Chủ
nhà lập đàn cúng trƣớc bàn thờ tổ tiên, trên bàn đặt cụm lúa giống; bát nƣớc,
đôi đũa, bát gạo, đĩa xôi và con gà luộc, một tờ giấy bản vẽ các hình theo thứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 25 of 166.





×