Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Tiểu luận Ứng dụng Công nghệ Thông tin xây dựng bài văn miêu tả con vật lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (186.9 KB, 22 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
XÂY DỰNG TƯ LIỆU DẠY HỌC KIỂU
BÀI TẬP LÀM VĂN TẢ LOÀI VẬT LỚP 4

TIỂU LUẬN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Trịnh Cam Ly
GV kí xác nhận

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

1


MỤC LỤC
Trang phụ bìa…………………………………………………………..
Lời cam đoan…………………………………………………………...
Lời cảm ơn……………………………………………………………...
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………….
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………...
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………...
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1. Cơ sở lí luận
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi…………………………………….


1.2 Cơ sở giáo dục học………………………………………………
1.3 Cơ sở ngôn ngữ học……………………………………………..
1.4 Cơ sở văn học……………………………………………………
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………….
Chương 2: Ứng dụng CNTT vào dạy Tập làm văn kiểu bài tả con vật
1. Khái quát về văn miêu tả
1.1 Văn miêu tả là gì? ……………………………………………….
1.2 Miêu tả trong đời sống và miêu tả trong văn chương
1.2.1 Miêu tả trong đời sống……………………………………….
1.2.2 Miêu tả trong văn chương……………………………………
1.3 Đặc điểm chung của văn miêu tả………………………………...
1.4 Yêu cầu chung của văn miêu tả
1.4.1 Bài văn phải có tính chân thực………………………………
1.4.2 Bài văn phải có trình tự hợp lí……………………………….
1.4.3 Bài văn miêu tả phải có trọng tâm…………………………...
1.4.4 Bài văn phải bộc lộ được cảm xúc chân thành của người viết
1.4.5 Bài văn phải diễn đạt bằng lời văn sinh động, gợi cảm .........
2. Văn miêu tả con vật trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học…….
3. Vai trò của quan sát trong dạy kiểu bài miêu tả loài vật cho HS lớp
4
4. Sản phẩm ứng dụng
4.1 Tranh, ảnh tĩnh………………………………………………….
4.2 Ảnh động………………………………………………………..
4.3 Video clip……………………………………………………….
KẾT LUẬN…………………………………………………………...
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
2

TRANG
1

4
5
6
7
7
7

8
9
10
10
11
13
13
14
15
16
17
17
18
18
18
19
20
21
21
22
23



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài tiểu luận này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ
Trịnh Cam Ly.
Các thông tin được sử dụng trong bài được trích dẫn một cách rõ ràng trong phần tài
liệu tham khảo đã được thẩm định bởi các nhà xuất bản uy tín như NXB Giáo dục, NXB
Đại học Sư phạm,… Những nhận xét, đề xuất trong bài tiểu luận này là của riêng tôi, do
tôi tự viết.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về bài nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Quốc Tuấn

3


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại mái trường Đại học Thủ đô Hà Nội, tôi đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong và ngoài khoa. Tôi xin
được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:
Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, các thầy cô là cản bộ giảng viên khoa
Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện cho tôi tham gia công tác nghiên cứu đề tài tiểu luận.
Đây thực sự là cơ hội quý báu để tôi tiếp cận cũng như ứng dụng những kiến thức, kĩ
năng đã học vào quá trình giảng dạy tại trường phổ thông sau này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô Trịnh Cam Ly – giảng viên
trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện tiểu luận. Nếu không có cô thì tôi khó có thể hoàn
thành được bài tiểu luận này.
Trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã học hỏi được không chỉ
kiến thức chuyên môn về phân môn Tập làm văn mà cả còn những kinh nghiệm, kĩ năng
giảng dạy thực tế tại các trường phổ thông.

Dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ lí luận và kinh nghiệm thực tiễn còn rất hạn
chế, bài nghiên cứu của tôi khó có thể tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉnh sửa của các thầy cô và các bạn sinh viên để bài tiểu luận
được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Quốc Tuấn
4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tập làm văn là phân môn có tính thực hành tổng hợp, sáng tạo, thực hành và
mang đậm dấu ấn cá nhân. Trong chương trình Tiểu học, các bài làm văn gắn với một
chủ điểm riêng biệt. Quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết
đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ đề đã học.
Việc tìm ý, lập dàn ý, chia đoạn của các bài kể chuyện, miêu tả,… góp phần phát triển
khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng
được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi miêu tả cảnh, tả
người, miêu tả đồ vật, con vật. Bên cạnh đó, học sinh còn huy động vốn sống, huy động
trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện.
Vốn sống và cảm xúc là hai yếu tố rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học nói
chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Nếu có một vốn kiến thức phong phú chắc
chắn học sinh đó sẽ có nhiều điều để viết, để nói trong bài tập làm văn của mình. Sự hòa
quyện với cảm xúc trong đó làm cho bài văn thêm sinh động và có hồn hơn. Tuy nhiên,
để có cả hai yếu tố này không phải chuyện dễ dàng. Hiện nay, phần lớn học sinh thành
phố rất thiếu vốn sống và cảm xúc để làm văn, đặc biệt là kiểu bài miêu tả. Do đó, trang
bị cho học sinh kiến thức và cảm xúc là điều rất cấp thiết mà người giáo viên cần làm

cho học sinh.
Chương trình tập làm văn lớp 4 có loại bài miêu tả một con vật là kiểu bài khó. Để
miêu tả chính xác và chân thực nhất một loài vật học sinh cần phải quan sát. Quan sát
trong văn miêu tả bao gồm hai hình thức là quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp. Để
quan sát trực tiếp được một loài vật đối với học sinh thành phố là rất khó khăn. Không
gian nhà ở chật hẹp cộng với cuộc sống bộn bề nên khiến ít gia đình có điều kiện nuôi
dưỡng và chăm sóc một con vật. Còn quan sát gián tiếp qua tranh ảnh, qua sách vở,…
lại không thể lột tả hết những đặc điểm và hoạt động của loài vật đó. Chính vì một số lí
5


do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài : “ Ứng dụng CNTT xây dựng tư liệu dạy học
kiểu bài tập làm văn tả loài vật lớp 4”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng một số tư liệu điện tử phục vụ cho phân môn Tập làm văn lớp 4, kiểu bài tả
loài vật.
- Thông qua quan sát các hình ảnh, video clip học sinh được rèn luyện kĩ năng viết văn
miêu tả con vật nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học
sinh Tiểu học nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Một số sản phẩm của CNTT ( tranh tĩnh, ảnh động, video
clip ).
Phạm vi nghiên cứu: Kiểu bài tả loài vật trong phân môn Tập làm văn lớp 4.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Thông qua sách báo, SGK Tiếng Việt lớp 4, giáo
3.2



trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập I, II và một vài tài liệu khác.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Khảo sát chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, sách Giáo viên Tiếng Việt



lớp 4.
Tìm hiểu thực tiễn để nắm được những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi dạy
văn miêu tả con vật trong phân môn Tập làm văn lớp 4.

NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 4
6


Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em
tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt
một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc
sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát
triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế
giới của mọi mối quan hệ. Quá trình nhận thức của các em có sự phát triển rõ ràng và cụ
thể:
Về tri giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và
mang tính không ổn định. Ở đầu tuổi Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động trực
quan. Đến cuối tuổi Tiểu học, tri giác bắt đầu mang tính cảm xúc, trẻ thích quan sát các
sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn. Do đó, khi các em được quan sát các con
vật một cách có bài bản, có hệ thống sẽ giúp các em có thể hoàn thành tốt bài viết của
mình.
Về ghi nhớ: Ở độ tuổi này, hai loại ghi nhớ đều phát triển mạnh. Lớp 1,2,3, học

sinh thiên về ghi nhớ trực quan giàu hình ảnh, ghi nhớ một cách máy móc, học thuộc
lòng các tri thức có trong sách vở. Đến lớp 4,5 ghi nhớ về từ ngữ và ghi nhớ về hình
tượng càng phát triển. Nếu các em được quan sát các hình ảnh, các video clip về hình
dáng, màu sắc, kích thước,.. cũng như các hoạt động, các tập tính của con vật cần phải
miêu tả kết hợp với vốn hiểu biết sẵn có sẽ giúp các em nhớ lâu hơn, nhớ tốt hơn và có
cái nhìn sâu sắc hơn về loài vật đó.
Về tư duy: tư duy của học sinh Tiểu học mang nhiều xúc cảm. Các phẩm chất tư
duy chuyển dần từ cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Đối với học sinh lớp 4, khi
được quan sát một cách cụ thể về một loài vật, các em sẽ được tăng cường sự hiểu biết
về loài vật đó, biết được các thói quen, những tập tính của chúng,… giúp tăng cường
vốn sống cho bản thân. Sự quan sát giúp các em bắt đầu biết khái quát hóa lí luận. Hoạt
động phân tích, tổng hợp kiến thức bắt đầu được hình thành giúp các em có thể tích lũy
dần vốn sống cho bản thân một cách hoàn thiện nhất.
7


Về tưởng tượng: tưởng tượng học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn học
sinh mầm non nhờ não bộ phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn. Ở cuối
Tiểu học, tưởng tượng sáng tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những cái cũ học sinh đã tái tạo
ra những hình ảnh mới. Thông qua các ảnh động, các video học sinh sẽ hình dung ra một
cách cơ bản nhất về loài vật mà ít khi có cơ hội tiếp xúc. Từ những thứ quan được, các
em biết so sánh với sự hiểu biết về loài vật đó trước đây, qua đó giúp các em có thể sáng
tạo trong cách viết văn, làm thơ về loài vật.
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ của học sinh tiểu học thường rất trong sáng. Ở các lớp
dưới học sinh được củng cố rất nhiều về ngôn ngữ qua các phân môn như chính tả, Tập
đọc hay Luyện từ và câu. Đối với học sinh lớp 4, để viết được một bài văn hay, sinh
động thì ngôn ngữ các em lựa chọn là vô cùng quan trọng. Để cung cấp cho học sinh
vốn từ phong phú thì hình ảnh minh họa cũng phải hấp dẫn. Do vậy, học sinh cần phải
được quan sát nhiều, quan sát có chọn lọc để có thể phát triển được ngôn ngữ của mình.
1.2 Cơ sở giáo dục học

Giáo dục học Tiểu học nhằm phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học
phát triển tư duy, sáng tạo cho học sinh. Không những vậy học sinh còn được giáo dục
tư tưởng, đạo đức, phát triển thẩm mĩ và lao động. Khi quan sát để làm một bài văn tả
loài vật, ta căn cứ trên các nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học như: nguyên tắc đảm
bảo tính khoa học và giáo dục của dạy học, nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa tư duy
cụ thể và tư duy trừ tượng hay nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa vai trò tự giác, tính
tích cực, độc lập của học sinh và vai trò chủ đạo của người dạy. Với mỗi bài dạy, tiết
dạy giáo viên lại có những phương pháp dạy học khác nhau để phù hợp với trình độ tiếp
thu của học sinh. Qua quan sát trảnh ảnh, vieo clip giáo viên đã áp dụng triệt để phương
pháp dạy học trực quan. Trực quan ở đây bên cạnh những thứ mà học sinh nhìn thấy,
người giáo viên cũng đã kết hợp “ trực quan lời nói” để hỗ trợ cho bài giảng của mình.
Chính vì vậy, có thể dễ dàng tác động đến giác quan của trẻ giúp học sinh nắm bài tốt
hơn.
8


1.3 Cơ sở văn học
Văn miêu tả con vật ở lớp 4 là kiểu bài mới trong phân môn Tập làm văn. Tuy
nhiên, các văn bản về con vật đã được SGK Tiếng Việt đưa vào khá nhiều trong các
phân môn Tập đọc, Kể chuyện hay chính tả. Ngay từ lớp 2, các em đã làm quen với cách
viết một đoạn văn nói về loài vật mà các em yêu thích. Sau đó, các em đã được học một
số các tác phẩm có liên quan đến các loài vật như: Bạn của nai nhỏ, Gọi bạn, Con sẻ,…
Qua những văn bản trên học sinh có thể nắm được cách thức thực hiện để miêu tả một
con vật sao cho phù hợp. Đó là những vốn kiến thức cơ bản giúp cho học sinh có thể biết
cách miêu tả một loài vật sao cho hợp lí và sinh động nhất.
1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
Tri thức Tiếng Việt có quan hệ mật thiết với hoạt động viết một bài văn. Các bộ
phận của ngôn ngữ học ( bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách) có vai trò
thiết yếu trong việc xác định nội dung của bài Tập làm văn. Ở các lớp dưới các em đã
được củng cố rất nhiều về ngôn ngữ, diễn đạt, cách dùng từ, viết câu, sử dụng các biện

pháp nghệ thuật qua các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu.. Mỗi bài văn lại có những
cách hành văn khác nhau, việc dạy cho học sinh có phong cách riêng là vô cùng quan
trọng. Quan sát tốt kết hợp với ngôn ngữ phong phú là hành trang không thể thiếu cho
một bài văn hay và sinh động.
2. Cơ sở thực tiễn
Thực tế dạy học cho thấy, dạy tập làm văn là việc rèn luyện cho học sinh khả năng
tổ chức giao tiếp, tổ chức lời nói ngay từ khi học sinh bắt đầu đi học, đây là một việc
làm tương đối khó khăn mà không phải giáo viên nào cũng thực hiện được. Để viết được
một bài văn hay, học sinh cần phải rèn luyện sao cho có đựơc năng lực quan sát để nhận
biết được cái đặc trưng của sự vật hiện tượng, năng lực cảm thụ, năng lực thu thập thông
tin, năng lực tưởng tượng, liên tưởng, năng lực phân tích tổng hợp, năng lực lĩnh cảm và
các khả năng biểu đạt, bố cục tạo lập phong cách…. Song việc rèn luyện cho học sinh
9


những năng lực nói trên không phải là dễ, còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả thu được
còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là thể loại văn miêu tả - Kiểu bài tả con vật (Tập làm văn
lớp 4). Và thực tế hiện nay các bài văn còn chưa hay, thậm chí chưa đạt yêu cầu.
Về phía người dạy đây quả là một phân môn khó, đòi hỏi học sinh phải tổng hợp
được kiến thức, phải thể hiện sự rung cảm cá nhân, phải biết thể hiện tiếng mẹ đẻ một
cách trong sáng. Trong quá trình giảng dạy, hai thái cực thường xảy ra:
- Hoặc hướng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò.
- Hoặc dùng “văn mẫu”, học sinh cứ việc sao chép.
Cả hai cách trên đều làm cho HS không biết làm văn, ngại học văn, mặc dù vẫn
có tình yêu đối với văn học (ví dụ rất thích đọc truyện). Nguyên nhân dẫn đến thực trạng
này, một phần là do trình độ nhận thức, năng lực sư phạm của giáo viên, cũng có thể
chính ngay trong giáo viên cũng thiếu những tri thức khoa học cũng như vốn sống thực
tế.
Về phía học sinh,kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rất nhiều lỗ
hổng. Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng được đến

công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Nhiều học sinh ở
thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng hay con
mèo bắt chuột. Một học sinh lớp 4 đã tả chú gà trống như sau: “Chú gà nhà bà em nặng
tới 6 kg. Sáng sớm chú nhảy tót lên đống rơm nhà bà gáy một hồi dài kéc…ke….ke….” .
Rõ ràng, đây là tiếng gáy của một chú trống choai chứ không phải tiếng gáy của một chú
gà trống nặng hơn 6 ki-lô-gam. Qua đó có thể thấy, khi làm bài, nhiều HS không hề nắm
được đặc điểm đối tượng mình đang tả và đã viết không chân thực. Do vậy bài văn khó
có thể truyền cảm hứng cho người đọc. Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa
có phương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định. Có HS khi đọc đề bài lên,
không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau,...
10


Như vậy có thể thấy rằng việc quan sát đối tượng miêu tả của học sinh là chưa tốt,
các em khó có cơ hội tiếp xúc với các loài vật một cách thường xuyên. Phần lớn, những
loài vật học sinh quan sát được là trên sách báo, trên Tivi hay do người thân miêu tả lại.
Trên lớp, giáo viên cũng chưa thật sự chỉnh chu trong việc soạn giáo án, bài giảng liên
quan đến kiểu bài tả con vật. Tất cả chỉ dừng lại ở việc cho học sinh quan sát tranh, ảnh
tĩnh. Như vậy học sinh khó có thể có vốn từ và cảm xúc để viết được một bài văn miêu
tả một con vật hay và hấp dẫn. Từ cơ sở lý luận và thực tế trên, để khắc phục những hạn
chế trong việc dạy và học Tập làm văn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu tiểu
luận: “ Ứng dụng CNTT xây dựng tư liệu dạy học kiểu bài tập làm văn tả loài vật lớp
4”
Tiểu kết:
Ở chương này, tôi đã tôi đã tóm lược một số nét chính về cơ sở lí luận và thực tiễn
của đề tài. Đây sẽ là cơ sở để tôi có thể xây dựng cho mình những sản phẩm có sử dụng
CNTT, giúp học sinh có cái nhìn tổng quan nhất về những con vật gần gũi, thân thiết
với cuộc cuộc sống con người nói riêng và thế giới động vật nói chung.

CHƯƠNG 2

ỨNG DỤNG CNTT VÀO DẠY TLV KIỂU BÀI TẢ CON VẬT
1. Khái quát về văn miêu tả
1.1 Văn miêu tả là gì?
Miêu tả có nghĩa là dùng lời văn có hình ảnh, có màu sắc làm hiện ra trước mắt
người đọc, người nghe về một đối tượng ( đồ vật, cây cối, con vật,… ) mà ta đã quan sát
và chú ý đến.

11


Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển, miêu tả là : “ Lấy nét vẽ hoặc câu văn
để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Trong văn miêu tả người ta không đưa ra
những nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật như cái cặp này
cũ, cái bàn này hỏng,… Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người,…
bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Văn miêu tả giúp người đọc, người nghe
nhìn thấy rõ chúng tưởng như mình đang xem tận mắt, bắt tận tay. Tuy nhiên, hình ảnh
một cánh đồng, một con vật, một con người,… do văn miêu tả tạo nên không phải là bức
ảnh chụp lại, sao chép lại một cách vụng về. Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh
tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát. [4; trang 5,6].
1.2 Miêu tả trong đời sống và miêu tả trong văn chương
1.2.1 Miêu tả trong đời sống
Trong cuộc sống thường ngày, miêu tả là hành động có tính phổ biến. Chẳng hạn
khi ra phố, thấy một vật lạ cần được giải thích, chúng ta cần phải miêu tả những đặc
điểm của nó với người hiểu biết hơn. Khi đi chơi ở xa về, chúng ta thường miêu tả lại
cảnh thiên nhiên, sinh hoạt,… ở miền đất lạ đấy với mọi người xung quanh. Có lúc, ta
phải miêu tả hình dáng, khuôn mặt, hành động,… của một người khách lạ. Và cũng có
lúc, ta còn phải miêu tả những điều đã gặp trong giấc mơ.
Trong mỗi ngành nghề khác nhau, miêu tả cũng là một công việc rất cần thiết:
người cảnh sát hình sự miêu tả đặc điểm riêng biệt của mỗi người để nhận diện trong
chứng minh thư; các bác sĩ mô tả triệu chứng căn bệnh của bệnh nhân trong bệnh án,

còn các nhà kiến trúc, các nhà thiết kế thời trang miêu tả ý tưởng của mình bằng những
hình vẽ, hình khối,…
Trong nghiên cứu khoa học, miêu tả không chỉ là một công việc phổ biến mà còn
trở nên bắt bắt buộc, bởi khoa học rất cần đến sự miêu tả khi dựng lại các đối tượng
nghiên cứu một cách cụ thể, khách quan, chân thực và chính xác trước khi khám phá bản
chất và quy luật hoạt động của chúng. Nhà sinh học miêu tả đặc điểm của các giống bò,
12


lợn, gà lai.; nhà dược học miêu tả các cây thuốc, vị thuốc; nhà ngôn ngữ học miêu tả
hoạt động của các từ ngữ trong đời sống giao tiếp; nhà tâm lí học mô tả biểu hiện của
các trạng thái tâm lí, trạn thái tinh thần,… Nói chung, miêu tả là công đoạn đầu tiên, bắt
buộc và hết sức cơ bản của quá trình nghiên cứu.[3; trang 6].
1.2.2 Miêu tả trong văn học
Miêu tả trong văn học ( văn miêu tả ) là một trong những hình thức miêu tả của
nghệ thuật. Văn miêu tả hoạt động dựa trên quy luật của cái đẹp. Nó không đặt ra nhiệm
vụ miêu tả sao cho thật chính xác, khách quan, càng tỉ mỉ càng tốt,… như cách miêu tả
trong khoa học. Trái lại người viết văn miêu tả phải lựa chọn được các chi tiết đặc sắc
sao cho với một số ít chi tiết đối tượng miêu tả phải được hiện lên một cách sinh động và
có hồn.
Khác với miêu tả trong các loại hình nghệ thuật khác, văn miêu tả sử dụng ngôn
từ làm chất liệu nên có những đặc điểm riêng biệt. Nếu như hội họa sử dụng các đường
nét, màu sắc,…; âm nhạc sử dụng âm thanh; điêu khắc sử dụng hình khối thì văn
chương lại sử dụng ngôn ngữ để miêu tả. Vì sử dụng ngôn ngữ nên “ bức tranh” miêu tả
mà người viết vẽ ra nên không thể được người đọc nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, sò
mó thấy,… một cách trực tiếp như các bức tranh, các bản nhạc hay các pho tượng. Tuy
nhiên trong văn miêu tả từ ngữ cũng có thể gợi ra tất cả các biểu hiện vật chất của đối
tượng một cách cụ thể và sinh động. Một dáng điệu “ thướt tha” của thiếu nữ, một đám
mây trôi “ lững lờ”, một động tác “ nhanh như cắt”,…
Có thể nói, chất liệu của ngôn từ nghệ thuật có khả năng tạo dựng hình tượng văn

học, tổng hợp trong đó là các phương thức biểu hiện của các ngành nghệ thuật khác. Kết
quả là hình tượng văn học tuy không sử dụng chất liệu âm thanh, đường nét màu sắc,..
song vẫn có nhiều chất họa, chất nhạc trong đó.
1.3 Đặc điểm chung của văn miêu tả
13


Đặc điểm trước tiên là văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ chứa đựng tình
cảm của người viết. [4; trang 7]. Dù là tả một cây phượng, một con chó, một con gà hay
một cảnh đẹp mà bạn từng thấy, bao giờ người viết cũng đánh giá chung theo một quan
điểm thẩm mĩ cùng gửi vào bài viết ít hay nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận
của mình. Do vậy từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ
quan.
Trong tác phẩm “ Cái Tết của Mèo Con” của nhà văn Nguyễn Đình Thi có đoạn:
“ Mèo Con nhảy một cái thật cao rồi cuộn tròn lăn lông lốc giữa sân, cho đến lúc
chạm bịch vào gốc cau. – “ Rì rào, rì rào, con mèo nào mới về thế?” Cây cau lắc lư
chỏm lá trên cao tít hỏi xuống. ”. Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng các từ ngữ “
cuộn tròn”, “lăn lông lốc” để miêu tả hoạt động của chú mèo con. Bằng những từ ngữ
đó, tác giả muốn nói lên sự nghịch ngợm nhưng cũng rất đáng yêu của mèo con. Điều
này cũng thể hiện được cá tính và cách hành văn của tác giả khi miêu tả.
Đặc điểm thứ hai của văn miêu tả là tính sinh động và tính tạo hình. Một bài văn
miêu tả được coi là sinh động và có tính tạo hình khi các đồ vật, con vật, sự vật, phong
cảnh, con người,… miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như cuộc sống
thực tưởng như có thể nhìn thấy được, cầm nắm được hoặc sờ mó được.[4, trang 9].
Trong bài tùy bút “ Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân có rất nhiều
câu văn phóng túng và bay bổng để miêu tả nét đẹp trữ tình của con sông. Nguyễn Tuân
viết : “ Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình. Đầu tóc, chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói mù
núi Mèo đốt nương xuân.” Chỉ bằng hai câu văn nhưng Nguyễn Tuân đã mang đến một
hình ảnh vô cùng hùng vĩ và huyền ảo của con sông Đà. Hình ảnh sông Đà hiện lên một

cách chân thực và sinh động như đang ở ngay trước mắt người đọc, người nghe.
Đặc điểm thứ ba của văn miêu tả là ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh.
Chỉ có như vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn đạt cảm xúc của người viết, vẽ
14


được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả. Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu động từ,
tính từ thường hay sử dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. Do sự phối hợp của
các tính từ, động từ và các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả gợi lên trong lòng người
đọc, người nghe những tình cảm, cảm xúc, ấn tượng về sự vật được miêu tả. [4; trang
11].
Để miêu tả một chú mèo, chúng ta có thể sử dụng biện pháp nghệ thuật như so
sánh, nhân hóa để câu văn thêm mượt mà và hấp dẫn. Chúng ta có thể miêu tả hình dáng
của một con mèo như sau: “Mi Mi có bộ lông mới đẹp làm sao! Đó là một màu trắng
tinh khiết như bông tuyết đầu mùa. Đầu nó tròn như quả bóng sờ vào rất thích, trên đỉnh
đầu mọc ngay ngắn hai cái tai hình tam giác xinh xinh. Hai con mắt to tròn, xanh biếc,
trong trẻo như nước biển. cái mũi hồng xinh xắn, ướt nhẹp. Bốn chân của cô dài và thon
thả. Mỗi bước đi đều nhẹ nhàng, lanh lẹ như lướt trên mặt đất. Cái đuôi dài trông thật
thướt tha, duyên dáng”.
1.4 Yêu cầu chung của văn miêu tả
1.4.1 Bài văn miêu tả phải có tính chân thực
Miêu tả là sự tái hiện lại một cách có chủ đích của người viết về đối tượng được
tả. do vậy bài văn miêu tả trước tiên cần có tính chân thực ( đúng thực tế, đúng với bản
chất đối tượng).[2; trang 4]. Dạy cho học sinh Tiểu học miêu tả chân thực một đối
tượng, phải đi từ yêu cầu tả đúng thực tế nghĩa là thông qua việc quan sát trực tiếp, bằng
nhiều giác quan, chọn từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng đối tượng, không làm cho người
đọc hiểu sai hoặc không hình dung được nó.
1.4.2 Bài văn miêu tả phải có trình tự hợp lí
Để giúp người đọc, người nghe tái hiện được đối tượng miêu tả một cách chân
thực, sinh động, bài văn miêu tả phải được tuân theo một trình tự hợp lí. Trình tự hợp lí

thường là trình tự phải đảm bảo tính logic. Tuy nhiên, điều quan trọng là loại văn miêu
15


tả phải diễn tả liền mạch, trong sáng, tình cảm; không miêu tả lộn xộn, trùng lặp hay tản
mạn, rối rắm, rườm rà,…[2;trang 5].
Do vậy, trong văn miêu tả, học sinh thường được hướng dẫn quan sát, miêu tả
theo những trình tự hợp lí, cụ thể như sau:
- Tả theo trình tự thời gian
- Tả theo trình tự không gian
- Tả theo trình tự tâm lí
1.4.3 Bài văn miêu tả phải có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu
Thông thường, trọng tâm miêu tả còn phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài cho trước,
ví dụ tả vườn hoa thì trọng tâm phải là các luống hoa, các cây hoa với những nét nổi bật,
tiêu biểu của nó; các cảnh vật xung quanh có liên quan ( cây cối, chim choc, con người,
…) chỉ là phụ, không cẩn tả kĩ.[2; trang 5]
Tuy nhiên, trọng tâm miêu tả còn phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể và những
nét đặc biệt của đối tượng đó. Tả có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu sẽ làm
cho đối tượng được miêu tả hiện ra sinh động, có những nét độc đáo, gây ấn tượng sâu
sắc cho người đọc, người nghe.
1.4.4 Bài văn miêu tả phải bộc lộ được cảm xúc chân thành của người viết
Miêu tả không phải là tái hiện lại đối tượng một cách khách quan theo kiểu chụp
ảnh, mà chính là bộc lộ tình cảm và ý nghĩ của mình về đối tượng định tả. Những bài
văn miêu tả thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn thường khô khan không truyền được cảm hứng
cho người đọc.[2;trang 6]. Do vậy, ngoài việc quan sát kĩ đối tượng. học sinh cần phải
suy nghĩ, phát hiện ra những nét đẹp, những nét đáng yêu của đối tượng ; cần có sự liên
tưởng, tưởng tượng để bộc lộ cảm xúc của mình, thể hiện mối quan hệ giữa người tả và
đối tượng được miêu tả.
16



1.4.5 Bài văn miêu tả phải diễn đạt bằng lời văn sinh động, gợi tả - gợi cảm
Để làm cho đối tượng miêu tả hiện lên rõ nét và sinh động, lời văn miêu tả phải cụ
thể, từ ngữ miêu tả phải gợi cảm, giàu hình ảnh. so với câu kể, câu văn tả thường được
sử dụng nhiều từ tượng hình, từ tượng thanh hay từ láy nói chung đê tăng sức gợi hình,
gợi cảm. Đó là những câu văn cấu tạo không chỉ có những thành phần chính ( chủ ngữ vị ngữ ) mà còn có nhiều thành phần phụ ( trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ,… ) nhằm diễn
tả sinh động đối tượng được nói đến.[2; trang 7].
2. Văn miêu tả con vật trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Kiểu bài tả loài vật ở lớp 4 có đối tượng là những con vật mà học sinh có dịp tiếp
xúc gần gũi như con lợn, con trâu, con mèo, con gà,… So với tả đồ vật, tả cây cối có
điểm khó hơn là: ngoài việc làm rõ những nét tiêu biểu về hình dáng còn phải nêu bật
được những đặc điểm về sinh hoạt của con vật, bộc lộ được mối quan hệ tình cảm của
người tả với con vật đó. Khi miêu tả loài vật cần chú ý các điểm sau đây:
- Tả loài vật không nhất thiết phải nêu đầy đủ các bộ phận, không cần theo một công
thức máy móc ( đầu, mình, chân,… ). Cần chú ý đến các bộ phận nổi bật của con vật để
tả trước, tả kĩ. Khi tả các bộ phận, có thể xen lẫn tả hình dáng, tính nết và sự hoạt động
làm cho bài văn hấp dẫn linh hoạt, không bị gò bó.
- Khi tả loài vật nên tả các hoạt động chính gắn liền với loài vật đó như: con mèo rình
bắt chuột, con chó trông nhà, con bò kéo cày hay kéo xe, con gà trống đang gáy,…
- Khi tả nhiều con vật cùng loại ( đàn bò, đàn trâu, đàn gà,… ) cần tả bao quát những nét
nổi bật chung của cả đàn: màu sắc, hình dáng, hoạt động,… Sau đó tả hình dáng hoạt
động của từng giống, từng lứa. Tả xong cả bầy có thể dừng lại tả vài con có hình thù,
màu sắc, tính nết khác hẳn so với các con còn lại.
- Trình tự cơ bản của một bài văn tả loài vật:
17


Mở bài : Giới thiệu con vật định tả
Thân bài: Tả chi tiết về con vật
+ Đặc điểm hình dáng bên ngoài.

+ Tính nết và một vài hoạt động
Kết bài: Cảm nghĩ chung về con vật đã tả
Văn tả loài vật thường sử dụng nhiều tính từ chỉ màu sắc, đặc điểm tính chất nhằm
khắc họa hình dáng. Đặc biệt có dùng các từ tượng thanh tả tiếng kêu của các con vật
một cách phong phú như tiếng chim kêu “ lích rich”, tiếng gà kêu “ chip chip”, “ chiếp
chiếp”, tiếng chó sủa “ gâu gâu”,… Sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh,
liên tưởng làm cho con vật được gần gũi, thân thiết với người đọc. Đó là những yếu tố
quan trọng làm cho bài văn tả loài vật trở nên chân thực, hấp dẫn.
3. Vai trò của quan sát trong dạy kiểu bài miêu tả loài vật cho học sinh lớp 4
Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật. Mắt cho ta cảm giác về màu
sắc (xanh, đỏ, vàng, da cam, …) hình dạng (cây cao hay cây thấp, cái bàn hình vuông
hay hình chữ nhật, …) hoạt động (con gà khi đi cổ thường nghển cao, con vịt bước đi
chậm chạp, lạch bạch, …). Dạy học sinh quan sát chính là dạy cách sử dụng các giác
quan để tìm cho ra các đặc điểm của sự vật.
Trong văn miêu tả, quan sát đóng vai trò rất quan trọng. Khi quan sát không chỉ
sử dụng mắt nhìn mà còn phải sử dụng tất cả các giác quan: xúc giác, vị giác, thính giác.
Nếu không có quan sát thì vốn hiểu biết và trí tưởng tượng của học sinh rất khó phát
triển. Văn miêu tả gắn chặt với tâm hồn, cũng như với óc tinh tế của con người. Chính
những kết quả quan sát đã đem lại cho học sinh những cảm nhận về sự vật hiện tượng
cần miêu tả. Chẳng hạn, nếu học sinh chưa bao giờ nhìn thấy con trâu thì học sinh sẽ

18


không thể miêu tả về loài vật đó được và cũng không thể có nhận thức hay ấn tượng gì
về con trâu.
Trong kiểu bài văn miêu tả nói chung và kiểu bài tả loài vật nói riêng thì việc quan
sát đối tượng miêu tả tốt sẽ cho ra một bài văn hay. Quan sát giúp cho học sinh có cái
nhìn khái quát nhất về thứ mà mình cần phải miêu tả lại. Thông qua quan sát học sinh sẽ
nắm được hình dáng, màu sắc, hoạt động, tập tính, thói quen,... của loài vật đó. Khi đã

có những kiến thức ban đầu về loài vật cần miêu tả, học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc
tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và viết bài văn miêu tả. Những câu văn, bài văn miêu tả hay,
có hồn và sinh động là câu văn, bài văn của người biết quan sát, chịu khó quan sát và có
tài quan sát. Chỉ cần các em chịu khó quan sát thì loài vật của các em miêu tả sẽ trở nên
rất chân thực và gần gũi với cuộc sống của mình.
4. Một số sản phẩm ứng dụng
4.1 Tranh, ảnh tĩnh
- Tranh ảnh về các loài mèo.
- Tranh ảnh về các loài chó.
- Tranh, ảnh về con gà.
- Tranh ảnh về con trâu, bò.
4.2 Ảnh động
- Ảnh động về mèo, chó, gà, thỏ, …
Video clip
- Video về các loài vật xung quanh em.
- Video về các hoạt động của con mèo ( ngủ, chơi đùa, phơi nắng, bắt chuột,…)
- Video về hoạt động của con gà ( gà gáy, gà ăn, gà mẹ và con,…)
- Video về hoạt động của con chó ( ngủ, ăn, trông nhà,…)
4.3

19


- Video về hoạt động của con trâu ( ăn, cày ruộng,…)

20


KẾT LUẬN
Có thể nói, phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài miêu tả loài vật ở

lớp 4 nói riêng có vị trí quan trọng trong việc dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Nó
không những giúp học sinh có được kiến thức, hiểu biết về các loài vật ở thế giới
thực mà nó còn giúp các em phát triển tư duy một cách có tổ chức, có hệ thống.
Nhờ vào việc ứng dụng CNTT, mà các em có thể quan sát các loài vật một cách rõ
ràng hơn, sinh động hơn các thói quen, tập tính của nó mà bình thường các em ít có
cơ hội tiếp xúc.
Trong đề tài này, tôi đã đưa ra được một số khó khăn và biện pháp hỗ trợ
trong quá trình dạy Tập làm văn kiểu bài tả loài vật cho học sinh lớp 4. Để có thể
trang bị vốn sống cũng như bồi đắp tình cảm, cảm xúc cho học sinh thì việc hướng
dẫn học sinh quan sát đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhờ sự bùng nổ của khoa
học kĩ thuật, đặc biệt là sự thăng tiến vượt bậc của CNTT thì việc áp dụng CNTT
vào dạy học là một trong những phương pháp dạy học tối ưu hiện nay. Thông qua
các sản phẩm ứng dụng của CNTT, giáo viên và học sinh sẽ có những cái nhìn trực
quan nhất, sinh động nhất về các loài vật xung quanh mà trong sách vở không thế
đáp ứng hết được. Qua đó, học sinh sẽ tự tin hơn trong việc quan sát, tìm ý xây
dựng và hoàn thiện được một bài văn miêu tả con vật.
Nói tóm lại, để viết được một bài văn miêu tả con vật một cách chân thực và
tinh tế nhất, người giáo viên cần tổ chức dạy học và có phương pháp dạy học phù
hợp; biết sử dụng các sản phẩm ứng dụng của CNTT vào giảng dạy để học sinh có
thể tiếp thu kiến thức một cách chủ động hơn. Bên cạnh đó, các em học sinh cũng
phải tập trung học tập , trau dồi vốn sống và bồi dưỡng tình cảm để làm tốt các bài
viết của mình.

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Phương Nga ( Chủ biên), Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, Phương
pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, II, NXB Đại học Sư phạm.
[2] Trần Đình Sử (Chủ biên), Nguyễn Thanh Tú, Văn tường thuật, kể chuyện, miêu

tả, NXB Đại học Quốc gia Việt Nam.
[3] Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm Minh Diệu, Văn miêu tả trong nhà trường
phổ thông, NXB Giáo dục.
[4] Nguyễn Trí, Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả, NXB Giáo dục.
[5] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Hoàng Cao Cường, Đỗ Việt Hùng, Trần Thị
Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh, Tiếng Việt lớp 4 – tập 2, NXB Giáo dục.

22



×