Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.37 KB, 24 trang )

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở
TRƯỜNG MẦM NON
MỤC LỤC
Contents

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I. Mục đích của sáng kiến
1. Tính mới của sáng kiến
- Sáng kiến đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường nâng cao nhận thức và
bồi chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên về chăm sóc giáo dục các kĩ năng cho
trẻ trong trường mầm non .


Giúp phụ giáo viên nghiên cứu biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi ở trường mầm non đồng thời tìm ra một số biện pháp nhằm
hình thành kỹ năng sống cho trẻ, giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản trong
cuộc sống và áp dụng trong thực tế hàng ngày ở trường mầm non


2. Ưu điểm nổi bật của sáng kiến
Qua sáng kiến một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ nhằm tìm ra một số
biện pháp nhằm hình thành kĩ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi trong trường mầm
non.
Giúp giáo viên xác định những kĩ năng sống cơ bản cần thiết cần dạy trẻ ở lứa
tuổi mầm non, cụ thể hóa những kĩ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy trẻ, nhận
thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ đồng thời có
những biện pháp tích cực hơn nữa trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi
ở trường mầm non.
Giúp trẻ phát triển kĩ năng sống, giúp trẻ biết được những điều nên và không
nên làm, biết và thực hiện được một số kỹ năng sống đơn giản, phù hợp thông
qua việc tham gia vào các hoạt động trong trường mầm non nhằm giúp trẻ phát


triển toàn diện về mọi mặt đức - trí - thể - mỹ.

PHẦN 2: NỘI DUNG.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận :
Đối với trẻ mầm non, mà đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo nhỡ “ điểm khởi đầu”
của quá trình hình thành nhân cách con người thì việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ là quan trọng và rất cần thiết. Nếu các kỹ năng sớm được hình thành thì
trẻ sẽ có nhân cách phát triển toàn diện và bền vững. Có nhiều công trình khoa
học đã chứng minh rằng: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ lúc đầu đời là chìa
khoá thành công cho tương lai của mỗi đứa trẻ


Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kĩ năng
cuộc sống và biết sử dụng linh hoạt những kĩ năng này thì không đảm bảo cá
nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có mối
quan hệ tốt với mọi người. Kĩ năng sống chính là năng lực tâm lí xã hội để đáp
ứng và đối phó những yêu cầu, thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao
tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các giác quan của mình, biết cách ứng
xử phù hợp và biết cách tự giải quyết vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan
trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kĩ năng sống cho trẻ
phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi mầm non rất cần thiết đối với sự phát triển
của trẻ.
Kĩ năng sống của trẻ mầm non bao gồm những kỹ năng cơ bản sau: Kỹ năng
giải quyết tình huống có vấn đề; kỹ năng thích nghi; kỹ năng khám phá thế giới
xung quanh; kỹ năng trong giao tiếp; kỹ năng tự chăm sóc bản thân; kỹ năng tạo
niềm vui; kỹ năng tự bảo vệ; kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng nhận thức…
Mục tiêu của việc rèn kỹ năng sống nhằm phát triển, nuôi dưỡng những giá trị
sống nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân

bằng cuộc sống trên các lĩnh vực nền tảng: thể trạng, tâm hồn, trí tuệ và tinh
thần.
2. Cơ sở thực tiễn.
Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc
sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Nội dung giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ phải hết sức đơn giản và gần gũi với trẻ. Chúng ta dạy kỹ
năng sống cho trẻ chính là chúng ta dạy trẻ biết sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự
tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Trẻ học cách có được những
mối liên hệ mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng
nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. Và điều quan
trọng mà chúng ta mong muốn sẽ là giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận


các thử thách mới qua việc phát triển các kĩ năng cho trẻ. Nếu chỉ suy ngẫm và
trò chuyện thôi thì chưa đủ, cần có các kĩ năng ứng dụng vào thực tế. Trẻ cần
được trải nghiệm, hiểu kết quả của hành vi ứng xử và muốn chủ động đưa ra
những quyết định có sức ảnh hưởng lớn.
Trong thực tế ở trường mầm non trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi còn nhỏ, trẻ thích làm
theo ý muốn nhưng kinh nghiệm và kỹ năng sống của trẻ còn quá ít để trẻ thực
hiện những mong muốn đó. Hơn thế nữa trong độ tuổi 4 tuổi trẻ được cha mẹ
thường bao bọc, nuông chiều trẻ một cách thái quá, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích
kỉ, không quan tâm đến người khác và các kĩ năng trong cuộc sống rất hạn chế,
gây khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Vì vậy, một số trẻ
vẫn rất hạn chế trong các kỹ năng sống cơ bản hàng ngày. Một số trẻ rất thụ
động khi có những tình huống sảy ra. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng sống cho
trẻ là một việc làm hết sức cần thiết giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản trong
cuộc sống. Hơn ai hết, người giáo viên có tầm quan trọng rất lớn trong việc rèn
kỹ năng sống cho trẻ, cùng với gia đình giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản trong
cuộc sống
Vì vậy dạy kĩ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của

người lớn nhằm giúp cho trẻ có những kĩ năng đương đầu với những khó khăn
trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết
những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp. Muốn như vậy, người lớn phải
tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành. Chính vì vậy tôi đã chọn
đề tài: “ Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm
non”
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO
TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
Hiện nay, trong các nhà trường đã chú trọng việc đưa nội dung giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ vào các hoạt động hàng ngày dưới nhiều hình thức, đưa lồng ghép
vào các hoạt động là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm trí


tuệ, thẩm mỹ, hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ. Tuy nhiên, ở
một số giáo viên chưa thực sự quan tâm tới việc giáo dục rèn kĩ năng sống cho
trẻ, chưa hiểu nhiều về nội dung phải dạy trẻ lứa tuổi mầm non những kỹ năng
sống cơ bản nào, chưa biết vận dụng từ những kế hoạch định hướng chung để
rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non.
Đối với trẻ, vào đầu năm học nề nếp, kĩ năng sống còn hạn chế. Vì vậy giáo viên
thường tập trung lo lắng cho những trẻ có vấn đề về hành vi và khả năng tập
trung. Đơn giản là vì những trẻ này thường không có khả năng chờ đến lượt,
không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều này làm cho trẻ không
thể tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy! Vì vậy, giáo viên phải mất rất
nhiều thời gian vào đầu năm học để giúp trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản
ở trường mầm non. Đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát một số kỹ năng sống
đối với 37 trẻ trong lớp. Kết quả cụ thể cho thấy:
BẢNG THỐNG KÊ KHẢO SÁT TRÊN TRẺ.
Mức độ % trên trẻ
Tổng số
Lĩnh vực khảo sát


trẻ

Đạt

Chưa đạt

trong
Số

Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

lượng

%

lượng

%

37

10

27


27

73

37

10

27

27

73

3. Kỹ năng tuân thủ quy tắc xã hội.

37

12

33

25

67

4. Kỹ năng hợp tác.

37


8

22

29

78

lớp

1. Kỹ năng giao tiếp lịch sự lễ phép.
2. Kỹ năng phục vụ chăm sóc bản
thân.


5. Kỹ năng ứng xử phù hợp với
người xung quanh.

37

13

35

24

65

Nhìn vào kết quả khảo sát đầu năm học cho thấy, nhiều trẻ chưa có những kỹ
năng sống cần thiết, khả năng vận dụng những kỹ năng đó vào cuộc sống hàng

ngày còn rất hạn chế.

CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH KHẢ THI
1. Giải pháp 1: Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ.
Là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp 4-5 tuổi nhằm thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao, tôi không ngừng tự học tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của mình. Đặc
biệt tôi đi sâu vào nghiên cứu những kỹ năng sống cơ bản dạy trẻ 4 -5 tuổi ở
trường mầm non, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5 tuổi bằng nhiều
hình thức như tự học qua sách báo, chuyên san, tạp chí, học hỏi bạn bè đồng
nghiệp, khai thác qua mạng…Thực tế cho thấy, việc xác định các kỹ năng cơ
bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng nội dung trọng tâm để
dạy trẻ.
2. Giải pháp 2: Tạo môi trường nhằm giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ
dạy trẻ kỹ năng sống.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy trẻ kỹ năng sống thì tạo dựng môi trường trong
lớp giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy trẻ kỹ năng sống là rất cần thiết. Giáo


viên cần xây dựng kế hoạch đánh giá trẻ bằng việc trang bị cho lớp những góc
mở, góc lưu sản phẩm của trẻ với hình thức trang trí đẹp mắt, mỗi trẻ có một túi
maket riêng có ký hiệu rõ ràng nhằm giúp giáo viên quan sát, ghi chép, lưu sản
phẩm hàng ngày từng chi tiết về sự tiến bộ của trẻ, giáo viên có thể ghi chép
những kỹ năng trẻ đạt được trong mỗi ngày làm căn cứ để đánh giá trẻ cuối độ
tuổi. Cũng tự biện pháp này, giáo viên có điều kiện lưu trữ sản phẩm đánh giá
trẻ đồng thời có cơ sở để thay đổi , bổ sung các biện pháp giáo dục từng trẻ giúp
trẻ hình thành các kỹ năng sống.
Nhằm tạo môi trường giúp cô và trẻ hoạt động trong góc sách truyện, tôi đã
trang bị cho góc sách truyện của lớp nhiều loại sách truyện với những thể loại

tranh truyện phù hợp với trẻ khuyến khích trẻ hoạt động, chơi trong góc sách
truyện nhằm giúp trẻ bổ sung những kỹ năng cần thiết khi xem sách truyện.
Trang trí trong lớp với khẩu hiệu: “ Cô giáo như mẹ hiền” bằng chính hình ảnh
giáo viên và học sinh trong lớp với hình ảnh đẹp, sinh động nhằm giúp trẻ tự
điều chỉnh hành vi của mình, giúp trẻ điều chỉnh bản thân và luôn biết giữ gìn,
luôn khen ngợi sự cố gắng của trẻ.
Tạo môi trường trong ngoài lớp với hình thức trang trí đẹp, thay đổi theo từng
chủ đề, khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động văn nghệ, chơi trò chơi dân
gian tạo cảnh quan trong ngoài lớp luôn sạch đẹp, an toàn, thân thiện.
3. Giải pháp 3: Cụ thể hóa nội dung của những kỹ năng cơ bản mà giáo
viên cần dạy trẻ:
Giáo viên cần cụ thể hóa nội dung của những kỹ năng cơ bản cần dạy trẻ phù
hợp với lứa tuổi để có biện pháp giáo dục phù hợp.
- Kỹ năng sống tự tin : Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú
tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được
mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ
năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.


- Kỹ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp
trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ
lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với
các bạn.
- Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong
những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát khao
được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi
tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện
hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não
nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được.
- Kỹ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý

tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của
mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan
trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác. Nếu
trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở
nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu
tố cần thiết để giúp trẻ sẳn sàng học mọi thứ.
Ngoài ra, ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn
uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa
tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật
dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai
nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi
ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa. hoặc biết giúp
người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người
xung quanh


4. Giải pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên.
Đổi mới phương pháp giảng dạy ở giáo viên mầm non đóng vai trò then chốt
nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giáo viên cần phải biết khai
thác phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ, biết ứng dụng phương
pháp đổi mới trong dạy trẻ, luôn lấy trẻ làm trung tâm trong mọi hoạt động. Vì
mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm
thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.
Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục
trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều
các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm - xã hội và thẩm mỹ. Phát
huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết vận
dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau.
Khi giáo viên có phương pháp dạy học đổi mới, sáng tạo giúp trẻ hứng thú tham
gia các hoạt động một cách tích cực không gò bó, áp lực từ đó giúp trẻ lĩnh hội

các kĩ năng sống tốt nhất.
5. Giải pháp 5 : Lập kế hoạch cho trẻ luyện tập thường xuyên để phát
triển các kỹ năng sống.
Tổ chức các hoạt động cho trẻ luyện tập thường xuyên đóng vai trò chủ
đạo trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, Trẻ
nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên. Nếu các kỹ năng chúng ta dạy trẻ không
được cũng cố bằng cách luyện tập thường xuyên thì chúng sẽ dần mất đi. Ngược
lại nếu ta có kế hoạch cho trẻ luyện tập thường xuyên thì các kỹ năng đó sẽ
thành kỹ xảo, phát triển bền vững và không bị lãng quên. Việc tổ chức cho trẻ
luyện tập phải có kế hoạch cụ thể, được tiến hành thường xuyên và không ngừng
sáng tạo, có như vậy mới gây được hứng thú cho trẻ.
Ví dụ :


Hàng tuần vào sáng thứ 2, tôi thường tổ chức hoạt động trò chuyện cùng trẻ
khoàng 10 phút với tên mục là “Chuyện của bé” nhằm phát triển kỹ năng giao
tiếp cho trẻ. Qua hoạt động này trẻ biết tự giới thiệu mình, biết lắng nghe, biết
dùng ngôn ngữ của mình để kể về những chuyện trong 2 ngày nghỉ ở nhà của bé
hay trao đổi cùng cô về chủ đề đang học. Cuối chương trình cho trẻ nhận xét
câu chuyện nào hay nhất sẽ đựơc nhận phần thưởng của cô. Kết quả, trẻ lớp tôi
rất hứng thú khi tham ra buổi trò chuyện đầu tuần. Trẻ đã có thói quen trước khi
nói biết thưa cô, chào bạn và đặc biệt rất mạnh dạn tự tin khi kể “chuyện của
mình” cho bạn nghe.
Trong giờ hoạt động chiều của mỗi ngày, sau khi cho trẻ ôn bài , tôi luôn
dành thời gian khoảng 15 phút để tổ chức cho trẻ luyện tập thực hành các kỹ
năng dưới dạng trò chơi. Cụ thể:
Chiều thứ 2, tôi thường tổ chức cho trẻ thực hành các kỹ năng chăm sóc
bản thân như rửa tay, lấy nước uống, mặc quần áo, cho đồ vào ba lô. Mỗi hoạt
động tôi chọn một trò chơi khác nhau.
Ví dụ:

Khi dạy trẻ cách mặc áo, tôi cho trẻ chơi trò chơi “Ai nhanh ơn, khéo hơn”,
cách chơi như sau: Cho 2 trẻ lên thi mặc áo, đầu tiên tôi gợi mở, giới thiệu với
trẻ các thao tác mặc áo sau đó tổ chức cho trẻ chơi. Cả lớp đếm cùng cô từ 1
đến 10, khi nghe hết giờ phải dừng tay, cô và các bé kiểm tra kết quả và tặng
quà. Việc xác định nội dung cho trẻ thực hành, tôi dựa trên nguyên tắc cho trẻ
làm quen từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Chẳng hạn, cũng dạy trẻ cách
mặc áo nhưng tuần đầu tôi dạy trẻ cách mặc áo có khuy bấm, tuần tiếp theo tôi
dạy trẻ cách mặc áo có khuy cài và những tuần sau là áo có khoá kéo. Lúc đầu
trẻ thực hiện rất vụng về lúng túng nhưng do luyện tập thường xuyên và có kế
hoạch nên các thao tác của trẻ dần chính xác hơn. với cách tổ chức có hệ thống
và linh hoạt như vậy trẻ lớp tôi đã có kỹ năng chăm sóc bản thân tương đối tốt.


Chiều thứ 3, tôi tổ chức cho trẻ xem băng đĩa hoặc tranh ảnh có kèm
những câu chuyện về các hành vi ứng xử đúng sai giữa con người với con
người, giữa con người với môi trường xung quanh trong chủ đề. Qua đó giáo
dục trẻ kỹ năng ứng xử phù hợp với xung quanh.
Ví dụ :
Xem đoạn phim “Thỏ Ngoan”. Tôi tṛ chuyện cùng trẻ: Thỏ Ngoan ṿng tay để
làm gì ? ( Chào cô).
- Thỏ Ngoan chia gì cho bạn? ( Chia đồ chơi)
- Thấy bạn khóc Thỏ Ngoan làm gì? ( Hỏi thăm bạn)
- Chiều đi học về Thỏ Ngoan chào ai? ( Chào ông, chào bà)
- Con thấy bạn Thỏ Ngoan như thế nào? ( Rất ngoan và lễ phép).
- Nào cùng làm Thỏ Ngoan đi học, gặp cô giáo Thỏ làm gì? ( Chào cô). Vòng
tay chào cô nào ? ( Vòng tay chào cô: cháu chào cô ạ!).
- Đi học về gặp ông ( Vòng tay chào ông. Cháu chào ông ạ!)
- Gặp bà ( Vòng tay chào bà. Cháu chào bà ạ!)
- Gặp bác hàng xóm ( Cháu chào bác ạ!).
Mỗi một tình huống, mỗi một câu chuyện tôi dựa vào nội dung để giáo dục trẻ

cách ứng xử phù hợp. Qua việc thảo luận các tình huống như vậy trẻ luôn có ý
thức ứng xử phù hợp với con người và môi trường xung quanh..
Với biện pháp này, các kỹ năng cần có luôn được củng cố và hoàn thiện một
cách chính xác. Kết quả đạt được rất khả quan nhưng chưa phải là đủ. Để cho
các kỹ năng sống của trẻ được hình thành và phát triển một cách liên hoàn tôi
tiến hành thực hiện biện pháp thứ 5.


6. Giải pháp 6 : Hình thành kĩ năng sống cho trẻ mọi lúc, mọi nơi
thông qua các hoạt động trong ngày ở trường mầm non.
Đối với trẻ mầm non, rèn kỹ năng sống cho trẻ là rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp
lý các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc sinh hoạt theo
nhóm .Một trong những kỹ năng cần đó là kỹ năng phòng chống tai nạn, biết tự
bảo vệ mình vô cùng cần thiết. Ngay từ nhỏ, trẻ cần được giáo dục kỹ năng ứng
biến khi gặp các tình huống khó khăn. Đó chính là những kỹ năng mà trẻ cần
được trang bị để đề phòng bất trắc xảy ra.
Đối với trẻ 4-5 tuổi ở lớp, tôi tiến hành dạy trẻ, rèn cho trẻ có những kỹ năng
cần thiết ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động và thời điểm trong ngày, lồng ghép
vào các hoạt động để dạy trẻ vì đặc điểm của trẻ mầm non là nhanh nhớ nhưng
cũng rất dễ quên. Chính vì vậy, việc dạy trẻ trong mọi hoạt động hàng ngày ở
mọi lục mọi nơi là hết sức cần thiết.
Để việc làm có hiệu quả, trước tiên tôi thực hiện nghiêm túc chế độ giờ
giấc trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Đây là một trong những nhân tố giáo dục
có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phẩm chất cá nhân, khả năng tuân thủ yêu cầu
của người lớn và khả năng định hướng về thời gian cho trẻ. Tôi đã căn cứ vào
nội dung cụ thể của từng hoạt động để lựa chọn nội dung lồng ghép cho phù
hợp.
Thông qua giờ đón trẻ, tôi lồng ghép giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ
( Biết lễ phép chào cô, chào bố mẹ, hỏi han bạn. Hoặc tôi lồng ghép kỹ năng tự
phục vụ bản thân và chấp hành quy định của lớp.

Ví dụ :
-Tôi dạy trẻ biết cất ba lô vào tủ, biết xếp dép lên giá, đi vệ sinh đúng nơi quy
định.


+Thông qua hoạt động ngoài trời tôi đã lồng ghép dạy trẻ nhiều kỹ năng
khác nhau.
* Ví dụ :
Qua việc trò chuyện quan sát Đu quay. Trẻ nhận biết được một số nguyên nhân
gây ngã, gây tai nạn và biết cách phòng tránh nguy cơ gây ngã. Các kỹ năng tôi
dạy trẻ đó là:
- Kỹ năng giao tiếp: Trẻ biết lắng nghe cô, bạn, nêu ý kiến, chia sẻ thông tin.
- Kỹ năng xử lý tình huống: Khi ngồi trên đu quay chẳng may bị ngã bé cần làm
gì?( Nằm yên, chờ Đu quay dừng hẳn mới ngồi dậy để tránh Đu quay đập vào
đầu, bạn khác chạy đi báo với cô.)
- Kỹ năng ra quyết định: Làm gì hay không làm gì để phòng tránh ngã? ( Không
quay chạy quá nhanh, không xô đẩy bạn khi ngồi trên Đu quay, nắm chắc tay
cầm.)
Đối với trẻ mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động
của trẻ ở trường. Thông qua giờ chơi, trẻ được đóng các vai khác nhau trong xã
hội, trẻ đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả
những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có sẽ được trẻ thể hiện qua
họat động vui chơi. Chính vì vậy, hoạt động vui chơi là một trong những hoạt
động được tôi chú trọng để lồng ghép việc giáo dục rèn kỹ năng sống cho trẻ, tôi
rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải
quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà trẻ
đã có. Muốn đạt hiệu quả cao, người giáo viên cần coi trọng việc tổ chức hoạt
động vui chơi, đặc biệt là hoạt động trong các góc cũng như trong hoạt động
ngoài trời, giáo viên cần tổ chức hoạt động vui chơi một cách có kế hoạch, có sự
chuẩn bị chu đáo bởi trong quá trình trẻ chơi, các tình huống có thể sảy ra, nếu

giáo viên tổ chức tốt hoạt động vui chơi trẻ sẽ có thêm nhiều kỹ năng để áp dụng


trong cuộc sống hàng ngày ở trường mầm non cũng như trong gia đình bé. Đó là
hành trang để trẻ vững bước, trẻ tự tin hơn trong cuộc sống hàng ngày.
Ví dụ : Ở góc “Gia đình”, khi tôi đóng giả một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở
nhà một mình, thì trẻ biết nhắc nhau “Đừng mở cửa, phải đợi bố mẹ về đã”..
Với nhóm “ Nấu ăn” , tôi cũng lưu ý đến những thao tác mà trẻ thể hiện vai của
mình: bắc nồi lên bêp ga đặt đã đúng giữa bếp chưa nếu không sẽ dễ đổ và xảy
ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để không bị
bỏng.
Giáo viên cần tạo các tình huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ.
Vì đối với trẻ chơi trò chơi có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn kỹ năng
sống cho trẻ. Trẻ lớn lên, học hành và khám phá thông qua trò chơi, thông qua
các hành động chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các tình huống có vấn
đề, thực hành các ý tưởng.
Giáo viên cần tổ chức các buổi văn nghệ, nêu gương một cách thiết thực, khuyến
khích sự tham gia chủ động, tự giác của trẻ. Tổ chức tốt các trò chơi dân gian và
các hoạt động vui chơi giải trí tích cực phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Tăng cường
tổ chức các trò chơi, ca dao, đồng dao, tổ chức các trò chơi rèn luyện kỹ năng tự
tin, mạnh dạn giúp trẻ phát triển nhận thức, thẩm mỹ.
Ngoài ra tôi còn lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động
khác trong ngày như ăn phụ chiều, hoạt động chiều, vệ sinh, trả trẻ....Bằng việc
tạo tình huống có vấn đề để trẻ suy nghĩ và giải quyết qua đó trẻ được cũng cố
các kỹ năng của mình.


7. Giải pháp 7: Sử dụng tình huống có vấn đề, sử dụng truyện, ca dao,
đồng dao nhằm hình thành cho trẻ một số kĩ năng sống cần thiết.
Để việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hiệu quả, giáo viên lựa chọn những

tình huống cụ thể để dạy trẻ có kỹ năng giải quyết khi gặp tình huống khó khăn,
biết cách giải quyết phù hợp.
Ví dụ: với chủ điểm “Bản thân”. Trước đây, thông qua câu chuyện “ Chú vịt
xám” hoặc bài hát” Đàn vịt con” chúng tôi chỉ dùng lời giáo dục trẻ “ Khi đi
công viên hoặc đến những nơi công cộng phải đi với bố mẹ , không được chạy
lung tung để khỏi bị lạc , chứ chưa dạy trẻ chẳng may bị lạc con sẽ làm gì?
Với cách giáo dục trên hiệu quả chưa cao trẻ ghi nhớ 1 cách thụ động, và thường
xuyên uên vì trẻ chưa hiểu cốt lõi của sự việc. Chính vì vậy tôi đưa cho trẻ tình
huống: Khi bị lạc mẹ tại nơi công cộng con sẽ làm gì? Tôi cho trẻ suy nghĩ ,
mỗi trẻ đưa ra một cách giải quyết riêng.
Lắng nghe ý kiến của trẻ, cho trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý kiến của mình, gợi
mở cho trẻ bằng các câu hỏi mang tính mở.
Từ những tình huống cụ thể mà rất dễ xảy ra đối với trẻ, bằng cách cho trẻ thảo
luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của mình đã có để tìm cách
giải quyết vấn đề. Thông qua đó cô giúp trẻ tìm ra phương án tối ưu nhất, đó
cũng chính là kinh nghiệm mà ta cần dạy trẻ. Thông qua hoạt động đó cũng giúp
trẻ có sự tư duy lôgích, biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình và giúp trẻ có thêm
kinh nghiệm trong cuộc sống.
Với cách dạy trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau, thông qua nội dung các bài
thơ, bài hát, câu chuyện để lồng vào giáo dục trẻ kỹ năng sống giúp trẻ ghi nhớ
một cách thoải mái, nhớ lâu và không gò bó áp đặt trẻ.
Chính hình thức này giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, phát triển ngôn ngữ và giao tiếp
cho trẻ. Với cách thảo luận, mỗi cá nhân đưa ra cách giải quyết cho phù hợp


giúp trẻ biết vận dụng vốn hiểu biết, kiến thức của mình đã có để giải quyết vấn
đề. Đó cũng chính là kỹ năng sống rất cần thiết cho trẻ trong cuộc sống hiện tại
cũng như sau này.
8. Giải pháp 8: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh học sinh cùng thực
hiện dạy trẻ các kỹ năng sống cơ bản.

Trước hết, giáo viên, phụ huynh phải là tấm gương cho trẻ noi theo, luôn gương
mẫu, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ, tạo điều kiện tốt nhất để
trẻ được vui chơi, học tập với môi trường an toàn, thân thiện
Cô giáo và cha mẹ cần thống nhất phương pháp để giáo dục trẻ như vậy trẻ mới
học và áp dụng được các kỹ năng trong cuộc sống hàng ngày.
Việc dạy trẻ những kỹ năng đó phải là một quá trình. Nhiều phụ huynh cho rằng
con mình còn quá bé để hiểu được những điều đó cũng như nghĩ rằng trẻ mẫu
giáo vẫn được sống trong sự bao bọc, bảo vệ tuyệt đối của bố mẹ. Những trên
thực tế, không phải lúc nào cha mẹ cũng ở bên con khi có tình huống xấu. Cô
giáo phối hợp cùng phụ huynh khéo léo dạy trẻ cách giữ gìn và bảo vệ các cơ
quan, bộ phận trên cơ thể, giúp trẻ chủ động, cảnh giác với tình huống khi có
người quan tâm thái quá đến cơ thể của trẻ. Dạy trẻ một số cách phản kháng và
bảo vệ bản thân.
Song song với việc thực hiện biện pháp giáo dục trên, là giáo viên chủ nhiệm
lớp, tôi luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phối kết hợp giữa gia đình và
nhà trường. Việc dạy kỹ năng sống cho trẻ không phải là chuyện một sớm một
chiều mà là cả một quá trình. Các kỹ năng sống phải được giáo dục, rèn luyện
đồng nhất thì mới bền vững và thành kỹ xảo. Nếu chỉ dạy kỹ năng sống cho trẻ
ở trường thôi thì chưa đủ. Bên cạnh đó, môi trường gia đình rất thích hợp để
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ được tiếp thu các kỹ năng thông qua gia đình
một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà lại hiệu quả cao. Mặt khác, nuôi dạy con luôn
là mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh nhất là trong thời buổi hiện
nay, ai cũng muốn con mình đạt thành tích cao trong học tập cũng như trưởng


thành hơn về mặt nhân cách. Tuy nhiên việc làm thế nào để có thể giúp trẻ phát
huy được khả năng tiềm ẩn? Làm thế nào để trẻ có những kỹ năng sống tốt nhất
thì nhiều phụ huynh còn lúng túng trong vấn đề này. Trên thực tế nhiều phụ
huynh chưa có kiến thức về kỹ năng sống, không biết kỹ năng sống bao gồm
những kỹ năng nào? Cần giáo dục trẻ từ đâu, dạy trẻ những gì? Chính vì vậy mà

tôi phải tuyên truyền đến các bậc phụ huynh để họ hiểu tầm quan trọng của kỹ
năng sống, những kiến thức cần dạy trẻ, phương pháp dạy trẻ như thế nào để trẻ
tiếp thu một cách thoải mái, tự nhiên. Việc tuyên truyền đến các bậc phụ huynh
được tiến hành trong giờ đón, trả trẻ, thông qua bảng tuyên truyền, thông qua
việc mời phụ huynh tham quan hoặc tham ra trực tiếp vào các hoạt động của lớp
hay thông qua buổi họp phụ huynh. Cụ thể:
Thông qua giờ đón trẻ, tôi đã trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khoẻ, vệ
sinh cá nhân, những phản ứng kém linh hoạt cũng như những kỹ năng của trẻ để
cùng phụ huynh giáo dục trẻ, giúp trẻ chủ động trong các hoạt động..
Thông qua bảng tuyên truyền với phụ huynh: Bảng được thiết kế đẹp, kích
thước to rõ, các phụ huynh có thể đọc, quan sát theo dõi dễ dàng. Đây là nơi trao
đổi thông tin với phụ huynh rất hiệu quả. Theo từng chủ đề tôi có đánh máy nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mà cô đang dạy trẻ ở trên lớp. .
Thông qua các buổi hợp phụ huynh, tôi cũng đã chủ động lồng ghép nội dung
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đến các bậc phụ huynh.
Cha mẹ cần phối hợp với giáo viên một cách chặt chẽ và hợp lý bằng việc
tham gia vào quá trình giáo dục trong nhà trường. Giáo viên mời cha mẹ tham
gia vào các buổi trao đổi, tọa đàm, tham gia đầy đủ các buổi họp phụ huynh học
sinh và dự một số hoạt động học của trẻ ở lớp.
9. Biện pháp 9 : Đánh giá kỹ năng sống của trẻ thường xuyên.
Việc nhìn nhận, xem xét lại các công việc đã làm trong một thời gian nhất
định sẽ rút ra được những bài học bổ ích, có những điều chỉnh hoặc cải tiến các


hoạt động tiếp theo đạt hiệu quả hơn. Việc đánh giá các kỹ năng sống của trẻ
thường xuyên lại có vai trò đặc biệt hơn.
Sau mỗi hoạt động trong ngày, tôi luôn dành thời gian để nhận xét đánh
giá hoạt động đó nhằm cũng cố các kỹ năng cho trẻ và tìm ra biện pháp để hoạt
động sau cô cùng trẻ thực hiện tốt hơn.
Việc đánh giá kỹ năng cho trẻ ở mỗi chủ đề tôi dựa vào mục tiệu đạt được

trên trẻ ở chủ đề đó, sử dụng phiếu đánh giá chủ đề ghi các thông tin về các kỹ
năng trẻ đã làm và chưa làm được trong chủ đề..
Bằng việc nhận xét đánh giá thường xuyên như vậy, tôi đã rút ra được
nhiều kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và cũng đã có nhiều kỹ năng
sống được hình thành và cũng cố trên trẻ. Trẻ giao tiếp tốt hơn, tự tin vào bản
thân hơn, nhận thức đúng vị trí của mình, biết nhận xét bạn, khéo léo hơn trong
các hoạt động lần sau. Thông qua việc nhận xét đánh giá khéo léo cuả cô, trẻ
biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho tốt, sao cho được cô khen. Biện
pháp đánh giá đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ ở lứa tuổi mầm non .

CHƯƠNG 4: KIỂM CHỨNG CÁC GIẢI PHÁP
Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng thuận
hợp tác của tập thể sư phạm nhà trường, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ
đã giúp tôi đạt được một số kết quả trong việc dạy trẻ mầm non các kỹ năng
sống cơ bản. Kết quả cụ thể đến cuối năm học, qua áp dụng những biện pháp
trên tôi thấy có được kết quả sau:


Bảng thống kê kết quả khảo sát cuối năm ở trẻ. Tổng số trẻ được khảo sát.
Mức độ % trên trẻ

Tổng
Lĩnh vực khảo sát

Đạt

số trẻ
trong


Chưa đạt

Số

Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

lượng

%

lượng

%

37

35

95

2

5

37


35

95

2

5

3. Kỹ năng tuân thủ quy tắc xã hội.

37

32

85

5

15

4. Kỹ năng hợp tác.

37

34

92

4


8

37

35

95

2

5

lớp

1. Kỹ năng giao tiếp lịch sự lễ phép.
2. Kỹ năng phục vụ chăm sóc bản
thân.

5. Kỹ năng ứng xử phù hợp với người
xung quanh.

* Kết quả cụ thể trên trẻ
- 100% trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi dậy
tình tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin,
- Trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập; kỹ năng
nhận thức; kỹ năng vận động thô, vận động tinh thông qua các hoạt động hàng


ngày trong cuộc sống của trẻ; ngoài ra trẻ được rèn luyện kỹ năng vận động tinh,
kỹ năng tự kiểm soát bản thân, phát triển óc sáng tạo, tính tự tin thông qua các

hoạt động năng khiếu vẽ, thể dục nhịp điệu, Aerobic.
- Trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội; kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp; chung sống
hòa bình, và không xảy ra bạo hành trẻ em ở trường cũng như ở gia đình.
- 100 % trẻ được giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, được bảo vệ sức khỏe,
được bảo đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo bằng biểu đồ phát
triển.
* Kết quả từ phía các bậc cha mẹ:
- Cha mẹ luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ
ở nhà trường.
- Các bậc cha mẹ đã có thói quen liên kết phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong
việc dạy trẻ các kỹ năng sống, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức thông
qua bảng thông tin dành cho cha mẹ, bảng đánh giá trẻ ở lớp; số lượng phụ
huynh trẻ tham gia đông hơn kết quả lượng phụ huynh dự họp trong cả hai kỳ
họp vừa qua ở các lớp đều đạt 90%,
- Cha mẹ cảm thấy mản nguyện với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết quả
giáo dục của nhà trường, không chê bai chỉ trích cô giáo ngược lại cha mẹ thông
cảm, chia sẻ những khó khăn của cô giáo, cung cấp vật liệu, phụ giúp giáo viên
trang trí lớp, làm đồ chơi.
* Về phía giáo viên
Cô giáo chịu khó trò chuyện với trẻ, trả lời những câu hỏi vụn vặt của trẻ, không
la mắng, giải quyết hợp lý, công bằng với mọi tình huống xảy ra giữa các trẻ
trong lớp.
Trong giảng dạy, chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm nhiều hơn.


Mạnh dạn, tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh học sinh, biết tự chuẩn bị,
phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với cha mẹ trẻ.
Bản thân chủ động trong việc xây dựng và thực hiện đúng kế hoạch, thực hiện
nghiêm túc, có hiệu qủa công việc được giao.
PHẦN 3: KẾT LUẬN

1. Những vấn đề quan trọng nhất mà sáng kiến đề cập tới.
Kĩ năng sống thực sự gần gũi với trẻ thơ, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ nhằm
giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết những điều nên làm và không nên
làm, góp phần giáo dục toàn diện nhân cách của trẻ.
Để làm tốt nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ, đòi hỏi giáo viên phải có
lòng yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đặc biệt
phải có vốn kiến thức, có kinh nghiệm, biết xây dựng và sử dụng linh hoạt
những phương pháp, biện pháp, thủ thuật đề ra
Để hình thành kỹ năng sống cho trẻ tốt phải có một quá tŕnh sư phạm dài bởi vì
cho dù ở đâu nữa, từ thành phố đến nông thôn, miền núi hay hải đảo xa xôi. Trẻ
em khi sinh ra đều như tờ giấy trắng, nó chỉ có thể trở thành con người hoàn
thiện khi người lớn hướng tác động vào nó một cách toàn diện. Người lớn phải
tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh, tắm mình trong thế giới
đó để rồi từ đó trẻ có những hiểu biết nhất định về kĩ năng sống
Qua công trình nghiên cứu “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non” chúng tôi nhận thấy rằng trẻ mẫu giáo 4
-5tuổi rất thích, hứng thú, và có khả năng giao tiếp, tự tin rất tốt. Từ đó có thể đề
ra và vận dụng những biện pháp phù hợp với khả năng hình thành kỹ sống của
trẻ.
Xuất phát từ quan điểm đổi mới giáo dục : Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực, cô giáo khuyến khích trẻ tò mò, sáng tạo trong mọi hoạt động.


Mỗi giờ hoạt động tổ chức sao cho nhiều trẻ được tham gia. Cô giáo là người
khơi gợi, truyền đạt kĩ năng sống đến cho trẻ.
Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, yêu thương,
tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ.
Việc học của trẻ nếu luôn đựơc người lớn khuyến khích, chia sẻ thì trẻ sẽ tự
tin vào năng lực của bản thân và chúng thường hy vọng vào tương lai nhiều hơn.
Nhân cách ý chí tình cảm của trẻ được hình thành thông qua chơi, chơi để

lớn lên. Vì thế, ngừơi lớn cần tạo cơ hội để trẻ chơi, từ đó giúp trẻ tìm ra nhiều
cách học khác nhau, những kinh nghiệm trẻ nhận được trong các trò chơi là nền
tảng tạo nên sự hăng hái học tập lâu dài ở trẻ, bởi trẻ nhận ra rằng, học vừa vui
mà vừa có ý nghĩa.

Đồng thời, khi trẻ tham gia vào trò chơi, trẻ cần biết

lập kế hoạch chơi, sáng tạo với các cách chơi và cố gắng đạt mục đích đây chính
là những kỹ năng cơ bản để sống và làm việc sau này.
2. Hiệu quả thiết thực của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
-Qua việc áp dụng những biện pháp giáo dục rèn kỹ năng sống cho trẻ tôi thấy
rằng
- Giúp trẻ rèn luyện kĩ năng sống
3. Kiến nghị với các cấp quản lý.
- Tiếp tục tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên hiểu hơn về giáo dục rèn kĩ
năng sống và tầm quan trọng khi hình thành kĩ năng sống cho trẻ
- Mở những cuộc hội thảo để phụ huynh và giáo viên được thảo luận có nhiều cơ
hội học tập và rút kinh nghiệm cho bản thân.


MỤC LỤC

STT

NỘI DUNG

1

PHẦN I: MỞ ĐẦU


Số trang

I: Mục đích của sáng kiến.

1

II: Đóng góp của sáng kiến để nâng cao chất lượng

2

quản lý dạy và học
2

PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở khoa học của sáng kiến
I: Cơ sở lí luận
II: Cơ sở thực tiễn

2-3


3

Chương II: Thực trạng

4-6

Chương III: Những giải pháp mang tính khả thi

7-13


Chương IV: Kiểm chứng các giải pháp đã triển khai.

14-15

PHẦN III: KẾT LUẬN

15-16

1.Những vấn đề quan trọng của đề tài.
2. Hiệu quả thiết thực của đề tài.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tài liệu tâm lí học trẻ em.
- Chương trình giáo dục trẻ mầm non.
- Tài liệu sử dụng tiết kiệm năng lượng có hiệu quả.
- Tạp chí giáo dục mầm non
- Các trang Web



×