Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (188.77 KB, 22 trang )

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm Non”

A/ Đặt vấn đề:
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ…hình thành những yếu tố của nhân cách chuẩn bị cho trẻ
vào lớp 1. Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non thì việc kết
hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục là điều tất yếu, nhằm
giúp cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối đồng thời tư duy của trẻ cũng phát
triển. Muốn cho cơ thể khỏe mạnh thì điều trước tiên chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ
các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất. Bản thân tôi là một nhân viên trực tiếp
nấu ăn qua thực tế tôi nhận thấy nếu các bữa ăn của trẻ được chế biến với các món
ăn phù hợp với khẩu vị của trẻ, các món ăn đa dạng của mùi vị sẽ kích thích trẻ ăn
ngon miệng thì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ sẽ giảm được nhiều. Chính vì vậy tôi luôn
trăn trở suy nghĩ tìm tòi học hỏi để nâng cao sự hiểu biết về các món ăn cho hợp lý
và khoa học nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng.
Ngày nay cùng với sự phát triển chung của đất nước, xã hội mỗi gia đình đều
có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn, vì vậy trẻ em cũng được hưởng sự chăm sóc đầy
đủ đặc biệt của gia đình, thế nhưng nhiều ông bố bà mẹ vẫn phàn nàn rằng “Không
hiểu sao con mình vẫn ăn đầy đủ của ngon, vật lạ mà bé vẫn gầy yếu hoặc biếng
ăn...”. Vậy chế độ dinh dưỡng cho trẻ như thế nào là hợp lý và khoa học. Tôi chắc
rằng nhiều bậc phụ huynh vẫn còn băn khoăn và chưa hiểu hết. Với những kinh
-----------------------------------------------------------
1
---------------------------------------------------


nghiệm thực tế cùng những kiến thức đã học, để giúp trẻ của trường tôi có sức khỏe
tốt và phát triển cân đối hài hòa thì điều trước tiên tôi cần phải tìm tòi, suy nghĩ để
tìm ra cách chế biến món ăn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nhằm
giúp trẻ của trường tôi ăn ngon miệng, ăn hết xuất, để cơ thể phát triển một cách


toàn diện về các mặt.
I. Cơ sở lý luận.
Như chúng ta đã biết mỗi gia đình con cái ngày nay là mối quan tâm hàng đầu
của các bậc cha mẹ vì các bé chính là sự kết tinh tình yêu của cha và mẹ là niềm tự
hào của gia đình chỉ khi bé lớn lên khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn thì gia đình
mới có tiếng cười, niềm vui và hạnh phúc tràn ngập. Tuy nhiên việc chăm sóc cho
trẻ là một việc không hề đơn giản, đòi hỏi thời gian và công sức của các bậc cha mẹ,
đặc biệt trong cuộc sống hiện đại khi công việc và mối quan hệ xã hội đã chiếm phần
lớn thời gian và sức lực của các gia đình thì việc chăm lo bữa ăn hàng ngày của trẻ
càng trở lên khó khăn, bằng kinh nghiệm thực tế và kiến thức đã học của một nhân
viên nuôi dưỡng trong trường Mầm Non tôi đã tìm hiểu trên một số thông tin như
sách báo, vô tuyến và đã phát hiện được một số món ăn có nhiều chất dinh dưỡng
cho trẻ ăn để phát triển cho trẻ khỏe mạnh và thông minh. Với những món ăn đó khi
tôi chế biến vừa đơn giản vừa dễ tìm ở tại địa phương lại phù hợp với điều kiện kinh
tế của phụ huynh và thông qua các món ăn đó sẽ giúp các bé cảm nhận được tình
cảm tình yêu thương của các cô giáo đã giành cho bé.
III. Khảo sát thực trạng.
-----------------------------------------------------------
2
---------------------------------------------------


Năm học 2011 – 2012 được sự tín nhiệm của BGH nhà trường tôi được phân
công làm tổ trưởng khu bếp chính thôn Thiên Đông. Khi được BGH nhà trường giao
nhiệm vụ bản thân tôi tự nhận thấy mình sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1. Thuận lợi.
Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Phòng GD & ĐT huyện Thanh Oai
cùng BGH nhà trường đã mua sắm và trang bị đủ đồ dùng phục vụ cho việc chế biến
món ăn cho trẻ: Như bếp ga công nghiệp, tủ cơm ga, tủ lạnh, xoong, chảo, bát....
Nhà trường đã thực hiện nghiêm túc việc hợp đồng các loại thực phẩm với các

nhà cung ứng tại địa phương.
Đa số phụ huynh học sinh đều quan tâm đến công tác nuôi dưỡng của nhà
trường nên đã nhiệt tình ủng hộ với nhà trường và phối kết hợp tốt với nhà trường
trong công tác nuôi dạy trẻ.
100% chị em nhân viên trong tổ bếp có trình độ chuyên môn chuẩn trung cấp
nấu ăn, trong khu chị em đoàn kết, nhiệt tình, yêu nghề có tinh thần trách nhiệm
nhiệt tình trong công tác không ngại khó, ngại khổ.
Được sự quan tâm đặc biệt của BGH đã thường xuyên chăm lo đến đời sống
tinh thần cho chị em, đó là niềm động viên về tinh thần đã giúp tôi khắc phục những
khó khăn để hoàn thành tốt công việc.
Tỷ lệ trẻ đăng ký ăn bán trú ở trường rất cao trẻ nhà trẻ ăn ngủ ở trường đạt
100% trẻ mẫu giáo đăng ký ăn ngủ ở trường đạt 90%.
Bản thân tôi luôn có tinh thần học hỏi chị em trường bạn về những kinh
nghiệm chế biến món ăn phù hợp với độ tuổi của trẻ.
-----------------------------------------------------------
3
---------------------------------------------------


2. Khó khăn.
- Phần đông các cháu được gửi đến trường hầu hết là con em của những người
dân lao động mức thu nhập kinh tế trong gia đình thấp (chủ yếu sống bằng nghề
nông nghiệp) mức đóng góp cho trẻ còn thấp.
- Do đặc thù của trường có nhiều khu nằm rải rác ở 5 thôn, do vậy đã phải
chia làm 2 bếp nên đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc chế biến thực phẩm và cân
đối thực phẩm sống, chín cho các cháu việc vận chuyển thực phẩm cho các cháu đến
các khu cũng gặp rất nhiều khó khăn.
- Diện tích bếp chật hẹp chưa đảm bảo đúng yêu cầu theo quy định bếp 1
chiều do đó ảnh hưởng nhiều đến cường độ lao động của chị em trong bếp.
- Có một số nhân viên nuôi dưỡng mới chưa có kinh nghiệm nên sự phối hợp

dây truyền chưa được nhịp nhàng, ăn ý.
- Giá cả thực phẩm lên xuống thất thường nên cũng ảnh hưởng rất nhiều việc
xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ.
C. Quá trình thực hiện đề tài.
I. Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện.
- Đội ngũ nhân viên của khu tổng số: 5 người được chia làm 3 thôn.
- Tổng số trẻ đăng ký ăn bán trú ở trường: 210 cháu.
- Đội ngũ nhân viên của khu nhiệt tình nhưng còn chưa có nhiều kinh nghiệm
trong việc chế biến các món ăn cho trẻ ở trường.
- Việc sắp xếp đồ dùng phục vụ cho công tác nấu ăn còn chưa khoa học.
-----------------------------------------------------------
4
---------------------------------------------------


- Việc cân đối thực phẩm và xây dựng thực đơn theo mùa cho trẻ còn chưa
đảm bảo và chưa hợp lý.
- Phương tiện phục vụ cho công tác nấu ăn còn chưa đủ theo yêu cầu.
- Kỹ thuật sơ chế và chế biến món ăn của nhân viên chúng tôi còn chưa tốt,
chưa thực hiện được theo đúng yêu cầu của cấp trên đã chỉ đạo.
- Công tác quản lý bếp ăn còn chưa đảm bảo đúng theo yêu cầu HSSS về công
tác nuôi dưỡng thực hiện còn lúng túng và chưa khoa học.
- Bản thân tôi còn chưa có nhiêu kinh nghiệm trong việc xây dựng thực đơn,
tính khẩu phần ăn và chế biến các món ăn cho trẻ.
Từ những thực trạng trên, tôi nhận thấy muốn giúp trẻ mầm non của khu tôi
ăn ngon miệng, ăn hết xuất và không kén món ăn, thì điều trước tiên tôi cần phải tiến
hành khảo sát thực tế trên tổng số trẻ mà tôi được giao phụ trách theo các nội dung
sau:
STT


Nội dung khảo sát

1

Kết quả
Số lượng
Trẻ SDD về cân 30/210

Tỉ lệ %
14,3

2

nặng
Trẻ SDD về chiều 37/210

17,6

3

cao (thấp còi)
Trẻ không thích ăn 110/210

52,4

4

bán trú ở trường
Trẻ kén món ăn và 94/210


45

ăn không hết xuất.

-----------------------------------------------------------
5
---------------------------------------------------


Từ kết quả khảo sát trên, tôi thấy rất băn khoăn suy nghĩ mình cần phải làm
như thế nào để giúp trẻ thích ăn ở trường, ăn ngon miệng, ăn hết xuất và không kén
món ăn nhằm giúp cho cơ thể trẻ phát triển một cách toàn diện về các mặt. Và tôi đã
đề ra một số biện pháp thực hiện cụ thể sau:
II. Các biện pháp thực hiện.
1. Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn theo mùa, tính khẩu phần ăn để có một
khẩu phần ăn cân đối cho trẻ, tôi đã nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh
dưỡng của trẻ cùng với tinh thần trách nhiệm cao ngay từ đầu năm học tôi thường
xuyên kiểm tra giờ ăn các lớp để kịp thời điều chỉnh chế biến thức ăn cho các cháu
được ngon hơn.
Để làm tốt được điều này tôi đã tham mưu với đ/c hiệu phó phụ trách công tác
nuôi dưỡng của trường và phối hợp cùng với đ/c kế toán để xây dựng thực đơn, cho
trẻ sao cho hợp lý, thay đổi theo ngày, tuần phù hợp theo mùa và cân đối về các chất
dinh dưỡng nghĩa là phải đủ chất, đủ lượng, cân đối giữa thức ăn thực vật và động
vật và tôi đã xây dựng thực đơn theo mùa với đầy đủ 4 nhóm thực phẩm sau:
Nhóm cung cấp chất đạm (Protein) thịt, cá, tôm, cua các loại, đỗ hạt, đậu
tương giúp xây dựng cơ bắp tạo khoáng thể đặc biệt là sự phát triển của các tế bào.
Nhóm cung cấp chất béo (lipit) như dầu, mỡ, lạc, vừng, nhóm cung cấp năng
lượng cao vừa làm tăng cảm giác ngon miệng, giúp trẻ hấp thu sử dụng tốt các
vitaminh trong chất béo như vitamin A, D, E, K.
Nhóm chất bột đường (Gluxit) như: bột cháo, cơm, mỳ, bún....nhóm cung cấp

năng lượng chủ yếu cho cơ thể và cơ bắp.
-----------------------------------------------------------
6
---------------------------------------------------


Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất như: Rau quả đặc biệt, các loại rau có
màu xanh thẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, rau mùng tơi,...và các loại
quả có màu đỏ hoặc vàng như chuối, đu đủ, xoài, cam, cà chua, gấc nhóm này cung
cấp các loại vi dưỡng chất đóng vai trò là chất xúc tác giữa các thành phần hóa học
trong cơ thể nguyên tắc xây dựng thực đơn. Tôi luôn chú trọng nguyên tắc xây dựng
thực đơn của các cháu trong một ngày là tránh các món ăn hay đối lập nhau để tránh
tình hình trạng ngộ độc thức ăn xảy ra.
Ví dụ:
- Thịt gà với rau cải.
- Gan xào giá đỗ.
- Trứng tráng với tỏi.
Dưới đây là bảng thực đơn mà tôi đã cùng kết hợp với tổ nuôi dưỡng phối hợp
xây dựng và hiện đang được thực hiện tại trường Mỹ Hưng.

THỰC ĐƠN MÙA ĐÔNG
Thứ

Bữa ăn

Món ăn

-----------------------------------------------------------
7
---------------------------------------------------


Calo

Tỷ lệ

Tỷ lệ cân đối

Calo

các chất


Cháo thịt, bí đỏ, cơm thịt đúc 456.5
Bữa sáng

Hai

Ba



Năm

Sáu

%
74.9
14:23:62

Bữa chiều


trứng, canh bí ngô nấu thịt.
Xôi vừng lạc, cháo, lạc, rau.
243.4
Cháo thịt gà, xu hào, giá, cơm
390

Bữa sáng

thịt, gà xào giá, canh xu hào,

Bữa chiều

cà rốt nấu xương.
Cháo thập cẩm
2382
Cháo thịt lợn, thịt bò, khoai 450.1

Bữa sáng

tây, cơm thịt bò hầm khoai tay,

Bữa chiều

canh bí xanh nấu thịt.
Bánh bao, chè đường
240
Cháo thịt tôm, rau cải, cơm 380.2

Bữa sáng


thịt sốt cà chua, canh rau cải

Bữa chiều

nấu xương.
Chè đậu xanh dừa
265.3
Cháo thịt đậu, bắp cải, cơm 365.4

Bữa sáng

đậu phụ, đúc thịt, canh rau bắp

Bữa chiều
Trung bình
một tuần

cải nấu thịt.
Cháo thịt rau.
Sáng
Chiều
Cả ngày

30.4
49.1
14:24:62
30.1
72.2
14:23:64

34.8
48.1
16:22:62
36.8
46.2
14:24:62

230.4
425.3
245.4
6797

32.3
63
33.4

THỰC ĐƠN MÙA HÈ
Thứ

Bữa ăn

Món ăn

-----------------------------------------------------------
8
---------------------------------------------------

Calo

Tỷ lệ


Tỷ lệ cân đối


Ca lo
các chất
Cháo thịt bò, cơm thịt bò xào
Hai

Ba

Bữa sáng

giá, canh rau ngót, mùng tơi

Bữa chiều

nấu chua.
Bánh bao, cháo thập cẩm
310.5
Cháo thịt tôm, canh bầu đất 395.2

Năm

Sáu

14:24:62
39.6
50.1


Bữa sáng
Bữa chiều



520

%
590

16:22:62
nấu tôm, cơm tôm sốt cà chua
Cháo thập cẩm
Cháo thịt gà bí xanh, cơm thịt

240
390

34.8
47.3

Bữa sáng

14:24:62

Bữa chiều

gà,canh xương nấu bí.
Phở thịt gà
240.5

Cháo đậu phụ, rau củ, cơm đậu 467.7

Bữa sáng

phụ đúc thịt, canh rau củ nấu

Bữa chiều

thịt.
Chè đậu xanh
243.4
Cháo thịt rau, cơm thịt kho
428

Bữa sáng

36.4
75.7
14:23:63
30.4
75.7
15:25:60

trứng, canh trai nấu rau cải.
Bữa chiều Bún thịt lợn nấu chua
220.8
33.4
Trung bình
Sáng
420.3

63.0
Chiều
258.6
34.5
một tuần
Cả ngày
6789
Tóm lại: Với biện pháp xây dựng thực đơn theo từng mùa và tính khẩu phần
ăn để đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng nhằm giúp cho trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất
và không kén món ăn nhằm phát triển toàn diện về các mặt cho các cháu MN mà tôi
đã đề ra và thực hiện đã đem lại kết quả khá tốt. Cụ thể là phụ huynh đã tuyệt đối tin
tưởng vào cách xây dựng thực đơn và chế biến món ăn cho các cháu ở trường của tôi

-----------------------------------------------------------
9
---------------------------------------------------


nên đã đăng ký cho trẻ ăn ngủ tại trường đạt tỷ lệ tương đối cao. Đa số trẻ thích ăn ở
trường, ăn ngon miệng, ăn hết xuất và không kén món ăn.
2. Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm sạch an toàn.
Trong thực tế hiện nay trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều thông tin về
nguồn thực phẩm không an toàn như dịch cúm gia cầm, nguồn rau không đảm bảo
vệ sinh do tưới nước ở các sông bị ô nhiễm, nhiều loại rau phun thuốc kích thích và
thuốc trừ sâu. Các nhà chăn nuôi thì vì lợi ích của riêng mình đã dùng cám tăng
trọng để được hưởng lợi nhuận cao, nhưng họ lại không nghĩ đến sự nguy hại tới sức
khỏe của người tiêu dùng. Chính vì vậy công việc lựa chọn thực phẩm sạch an toàn
là một điều rất cần thiết.
Khi lựa chọn các thực phẩm sạch không có vi khuẩn gây bệnh, thực phẩm
phải tươi ngon không ôi thiu dập nát. Trong việc thay đổi các món ăn theo từng bữa

cho đủ chất lượng và số lượng, tôi đã lưu ý các thực phẩm được thay thế phải tương
đương về chất lượng, để đảm bảo cho khẩu phần ăn của trẻ không bị thay đổi về
thành phần các chất dinh dưỡng. Giảm gluxit tinh chế đến mức tối thiểu vì thừa
gluxit dẫn đến béo phì, béo phì là nguyên nhân dẫn đến mắc các bệnh về tim mạch,
nhưng vẫn phải cung cấp đầy đủ gluxit theo thức ăn để làm giảm sự phân hủy của
protit đến mức tối thiểu.
Khi chọn thực phẩm phải tươi ngon không có thuốc trừ sâu hay chất kích
thích, chất xúc tác. Thức ăn chế biến sẵn phải chọn thương hiệu có uy tín về chất
lượng và đảm bảo vệ sinh ATTP.
-----------------------------------------------------------
10
---------------------------------------------------


Cụ thể bằng việc làm hàng ngày, tôi cùng chị em thực hiện nghiêm ngặt việc
giao nhận thực phẩm giữa bên cung ứng với người nhận thực phẩm và người cung
ứng thực phẩm phải ký vào sổ giao nhận thực phẩm. Tôi đã tham mưu với Ban giám
hiệu nhà trường trước khi hợp đồng thực phẩm bên cung ứng cũng phải chọn những
cửa hàng có uy tín về nguồn thực phẩm và thực hiện nghiêm túc việc ký kết hợp
đồng giữa 2 bên, nếu có bị ngộ độc thì cửa hàng cung cấp thực phẩm phải chịu trách
nhiệm.
Dưới đây là ảnh giữa bên cung ứng thực phẩm với nhà trường trong việc giao
nhận cân và kiểm tra chất lượng thực phẩm.
Ảnh 1: Các bên có lien quan đang thực hiện việc cân và kiểm tra chất lượng
thực phẩm.

-----------------------------------------------------------
11
---------------------------------------------------



Tóm lại: Với biện pháp lựa chọn thực phẩm sạch an toàn trước khi vào chế
biến cho trẻ mà tôi đã đề ra và thực hiện trong năm học 2011 – 2012 đã mang lại
hiệu quả rất tốt cụ thể là: Trong năm học 2011 – 2012 toàn trường chúng tôi không
bị xảy ra tình trạng ngộ độc thực phẩm, việc theo dõi số lượng và chất lượng thực
phẩm đã được thực hiện nghiêm túc. Do vậy chúng tôi đã lấy được long tin trong địa
phương và phụ huynh, vì thế đến cuối năm tỷ lệ trẻ ăn bán trú ở trường đã tăng lên
rất nhiều so với đầu năm học.
3. Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm.
Như chúng ta đã biết kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo VSATTP. Chính là
khâu quyết định một bữa ăn ngon đạt được độ cảm quan cao nhằm giúp trẻ ăn ngon
miệng, ăn hết xuất và không kén thức ăn việc đầu tiên tôi phải nghĩ ngay đến kỹ
thuật chế biến thức ăn, thì thức ăn phải có mùi vị thơm ngon, hấp dẫn, trẻ nhận thức
rõ được điều này tôi đã bàn bạc với chị em trong tổ nuôi thường xuyên thay đổi
cách chế biến các món ăn trong quá trình nấu nướng phải biết cách phối hợp với
từng món ăn để tạo nên mùi vị đặc trưng của từng món ăn.
VD: Khi chế biến tôi thường phối hợp các loại rau quả có màu sắc đẹp để trẻ
dễ bị thu hút, lôi cuốn tạo cảm giác hứng thú thích ăn, tẩm ướp thức ăn trước 10 – 15
phút phi hành thơm sau đó đem xào nấu.
Để tăng cường bổ sung chất sắt cho trẻ, đề phòng chống thiếu máu cụ thể. Khi
chế biến thức ăn cho trẻ tôi giảm bớt sử dụng muối nê tăng cường lượng nước mắm
rất giàu chất dinh dưỡng (Vì nước mắm có bổ sung chất sắt) phối hợp thêm một số
-----------------------------------------------------------
12
---------------------------------------------------


loại rau quả có chứa nhiều Vitamin C để có tác dụng tốt cho việc hấp thụ chất sắt,
phòng chống được các bệnh tật khi chuyển mùa.

VD: Như rau đay hàm lượng vitamin C là 77, rau mùng tơi 72, bắp cải 30, cà
chua 40, bí ngô 40...
Tăng lượng thức ăn giàu can xi giúp cho sự phát triển chiều cao của trẻ. Khi
chế biến thức ăn cho trẻ phải chú ý cắt thái nhỏ đối với các loại rau củ quả, đối với
thịt thì phải xay nhỏ để trẻ ăn được, khi chế biến phải nấu mềm, nhừ để trẻ dễ tiêu
hóa.
Bếp được chế biến theo quy tắc bếp một chiều không để dụng cụ sống chín
lẫn lộn. Rau quả được rửa sạch dưới vòi nước, không nên cắt nhỏ cho vào nước sẽ
mất hết chất, thịt được trần qua nước sôi rửa sạch sau đó mới đem sơ chế, chế biến
để giảm bớt các độc tố.
Trong khi chế biến các cô nuôi đep tạp dề, khẩu trang. Bếp được chế biến theo
quy tắc bếp một chiều trong khi chế biến luôn nhớ khẩu hiệu “Làm đâu sạch đấy,
đứng dậy sạch ngay”.
Ngoài ra tôi cũng thường xuyên có mặt ở bếp để kiểm tra thực phẩm vì thực
phẩm là khâu quan trọng có tính quyết định đến chất lượng và sự ngon miệng của
bữa ăn. Hàm lượng vitamin trong rau xanh và trái cây càng tươi, càng tốt. Mặc dù có
hợp đồng thực phẩm nhưng người trực tiếp nhận thực phẩm tại trường phải có trách
nhiệm và có kinh nghiệm để có thể nhận biết được các thực phẩm tươi sạch hoặc
không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tôi xin trình bày cách chế biến một số món ăn đang được thực hiện tại trường.
-----------------------------------------------------------
13
---------------------------------------------------


VD1: Canh su hào, cà rốt súp lơ nấu xương.
- Nguyên liệu : 10 xuất.
- Xương lợn: 200 g.
- Cà chua: 100 g.
- Súp lơ: 100 g.

- Su hào: 300 g.
- Cà rốt: 50 g.
- Mắm, muối, hạt nêm, dầu ăn.
* Cách làm:
- Tất cả các nguyên liệu trên sơ chế, rửa sạch.
- Xương cho vào đun sôi, hớt bỏ bọt linh nhừ.
- Su hào, cà rốt, súp lơ thái hạt lụa nhỏ, hành hoa thái nhỏ.
- Đun sôi dầu cho hành vào phi thơm, cho cà chua vào đảo vàng, cho mắm muối,
hạt nêm, chắt nước xương đã linh nhừ vào, xương nhừ gỡ thịt rồi băm nhỏ cho vào
xoong canh đun sôi nêm gia vị vừa vặn cho hành vào rồi tắt bếp.
* Yêu cầu thành phẩm:
- Trạng thái: Củ quả chín mềm không nát.
- Màu sắc: Tự nhiên của củ quả, màu hồng nhạt của cà chua chông hấp dẫn.
- Mùi vị: thơm ngon.
Ảnh: Canh su hào, cà rốt, súp lơ + Thịt kho trứng + Chè đậu xanh vừng.

-----------------------------------------------------------
14
---------------------------------------------------


VD2: Thịt kho trứng.
* Nguyên liệu: 10 xuất.
- Thịt nạc vai: 400 g.
- Trứng chim cút: 300 g.
- Nấm hương.
- Nước hàng.
- Hành hoa.
- Rau mùi.
- Mắm, muối, hạt nêm, dầu ăn.

* Cách làm:
- Nấm hương ngâm rửa sạch thái nhỏ, hành hoa rửa sạch thái nhỏ.
- Trứng chim cút luộc chín bóc vỏ, đun sôi dầu cho trứng vào rán qua.
- Thịt băm nhỏ, hành, nấm hương trộn đều cho vào xoong đun cho gia vị nước
hàng, cho săm sắp nước, đun nhừ cho trứng chim vào đun sôi 1 lúc bắc ra.
* Yêu cầu thành phẩm:
- Trạng thái: Thịt chín mềm.
- Màu sắc: Màu vàng của trứng, màu thịt màu vàng cánh dán.
-----------------------------------------------------------
15
---------------------------------------------------


- Mùi vị: Thơm ngon đặc trưng, vị vừa ngon ngọt của thịt và trứng.
VD3: Chè đậu xanh vừng dừa.
* Nguyên liệu: 10 xuất.
- Gạo nếp: 150 g.
- Đậu xanh: 300 g.
- Đường: 250 g.
- Dừa: 50 g
- Vừng: 10 g.
- Vani.
* Cách làm:
- Gạo nếp, đậu xanh nhặt sạch, đãi sạch.
- Đổ 8 bát con nước đặt lên bếp khi nước sôi, cho gạo nếp vào trước đun sôi
một lúc cho đậu xanh vào ninh khi thấy đậu chín còn nguyên hình hạt cho đường
vào đun sôi cho tan, cho nước va ni múc ra bát nhỏ chè ăn nguội.
* Yêu cầu thành phẩm:
- Trạng thái: Chè sánh vừa đồng nhất.
- Màu sắc: Vàng trong của đậu xanh.

- Mùi vị: Thơm ngon ngọt dịu của đường.
VD4: Thịt tôm xốt cà chua.
- Nguyên liệu: 10 xuất.
- Tôm: 300 g.
- Thịt nạc vai: 200 g.
-----------------------------------------------------------
16
---------------------------------------------------


- Cà chua: 100 g.
- Dầu, mắm muối, hành, thì là.
* Chuẩn bị:
- Tôm chọn con tôm to rửa sạch, trần qua nước sôi bóc bỏ vỏ, băm nhỏ, ướp
gia vị, thịt rửa sạch băm nhỏ ướp hành, muối.
- Cà chua rửa sạch, bỏ hạt, thái nhỏ.
- Hành thì là rửa sạch, thái nhỏ.
* Cách làm:
- Cho mỡ vào xoong phi hành.
- Cho cà chua vào xào mềm, dầm nát, múc ra bát.
- Cho thịt nạc vai và tôm vào đảo đều tới khi thịt săn cho cà chua, đã xào mềm
và ít nước để sôi âm ỉ 5 – 10 phút.
- Cho mắm muối, vừa ăn, cho hành hoa, thì là đảo đều.
Tóm lại: Với biện pháp sử dụng kỹ thuật chế biến thức ăn và đảm bảo
VSATTP mà tôi đã đề ra và thực hiện, kết quả là các cháu của tôi đã rất thích thú với
các món ăn mà tôi đã chế biến trong khi ăn các cháu đã không kén thức ăn, ăn hết
xuất,…từ đó tôi cũng đã gây được uy tín và long tin trong phụ huynh và phụ huynh
cũng rất ủng hộ với phương pháp thực hiện của tôi.
4. Biện pháp 4: Phối hợp với giáo viên các nhóm lớp và các bậc phụ huynh
trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.


-----------------------------------------------------------
17
---------------------------------------------------


Để thực hiện tốt việc nâng cao việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ thì
công tác phối hợp giáo viên các nhóm lớp và phụ huynh cùng thực hiện là khâu cũng
rất quan trọng
;’
Cùng phối hợp với các cô trên lớp động viên các cháu ăn hết xuất và cùng
tham gia tổ chức giờ ăn cho các cháu tham khảo ý kiến đòi hỏi các cháu “Hôm nay
các cháu ăn món này có ngon không, chúng mình có thích không” để cùng điều
chỉnh thực đơn cho phù hợp.
VD: Đối với các cháu không tăng cân, ăn ít, ăn chậm thì ngồi riêng một bàn,
cô động viên khuyến khích các cháu ăn hết xuất.
Còn đối với các cháu béo phì thì giảm chất bột đường như cơm và tăng cường
vận động.
Kết hợp với gia đình tôi tuyên truyền, phổ biến cho phụ huynh biết cách chăm
sóc chế biến thức ăn cho con mình hợp lý, khoa học, biết sử dụng các loại thức ăn bổ
sung chất vi lượng phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau và các loại thực phẩm
nhằm giúp trẻ phát triển chiều cao.
V. Kết quả đạt được.
Nhờ sự nỗ lực của bản thân, lòng yêu nghề hay tìm tòi các cách chế biến món
ăn kết hợp với các biện pháp khoa học như trình bày ở trên, tôi cùng các chị em
trong tổ bếp làm việc với tinh thần trách nhiệm cao đã hoàn thành tốt công việc nuôi
dưỡng của mình cũng như tiêu trí của trường đã đề ra đó là: Thực hiện “Bếp ăn 5
tốt”.
-----------------------------------------------------------
18

---------------------------------------------------


- Quản lý nuôi dưỡng tốt.
- Vệ sinh đảm bảo khoa học.
- Kỹ thuật vệ sinh chế biến món ăn tốt.
- Cải tiến thực đơn theo mùa.
- Tăng gia tiết kiệm tốt.
Ngoài thực hiện “Bếp ăn 5 tốt” tổ bếp chúng tôi còn nắm vững được “10
nguyên tắc vàng” để chế biến thực phẩm an toàn đó là:
- Chọn thực phảm an toàn.
- Nấu kỹ thức ăn chín.
- Ăn ngay sau khi thức ăn vừa được nấu chín.
- Đun kỹ lại thực phẩm trước khi ăn.
- Không để lẫn thực phẩm sống và chín.
- Luôn giữ tay chế biến sạch sẽ.
- Giữ bề mặt chế biến bếp luôn khô ráo sạch sẽ.
- Bảo quản thực phẩm cẩn thận đã nấu chín.
- Bảo vệ thực phẩm khỏi các loại côn trùng, loại gậm nhấm và các loại động
vật khác.
- Sử dụng nguồn nước sạch.
Hàng năm tôi cùng các chị em trong tổ nuôi được đi tập huấn khám sức khỏe
tại Trung tâm Y tế huyện để đảm bảo sức khỏe cho cô nuôi và công việc chăm sóc
nuôi dưỡng cho các cháu.
-----------------------------------------------------------
19
---------------------------------------------------


BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRƯỚC VÀ SAU KHI THỰC

HIỆN ĐỀ TÀI NÀY
Stt
1
2

Thử nghiệm
Số trẻ tại lớp
Số trẻ phát triển
bình thường về

3
4
5
6
7
8

KQ trước thử

Tỷ lệ

KQ thử

Tỷ lệ

nghiệm
190

%
95.5


nghiệm
208

%
96.7

164

88.5

200

94.8

20

10.5

8

4.2

0
35
252
174

0
17.6

86.2
95.6

0
30
280
184

0
15.7
90
98

182

97.8

188

98.7

cân nặng
Số trẻ SDD về
cân nặng
Số trẻ béo phì
Số trẻ thấp còi
Tỷ lệ calo đạt
Trẻ ăn hết xuất
Ăn các loại thức
ăn

V. Bài học kinh nghiệm.
Qua quá trình thực hiện đề tài và kết quả đạt được bản thân tôi đã rút ra được

một số bài học kinh nghiệm sau:
- Là một nhân viên nuôi dưỡng qua quá trình học tập và làm việc tại trường
được 3 năm, tôi đã có được chuyên môn và nghiệp vụ vững chắc, tôi luôn luôn
không ngừng học hỏi, tự rèn luyện mình, năng động, sáng tạo, đúc rút kinh nghiệm,
cải tiến công việc của mình để nâng cao chất lượng.

-----------------------------------------------------------
20
---------------------------------------------------


- Khi tiến hành nội dung biện pháp thực hiện đối chiếu với trường của mình
có hiệu quả rất cao trong việc chăm sóc nuôi dưỡng và nhất là những kinh nghiệm
để chế biến ra những món ăn ngon, hợp khẩu vị cho các cháu ở trường Mầm non.
- Cùng phối hợp các chị em trong tổ nuôi để cùng tiến bộ đi lên và được sự tín
nhiệm của toàn trường cũng như theo kế hoạch nhiệm vụ năm học.
- Với sự tâm huyết và sự yêu thích công việc của mình, tôi luôn suy nghĩ lắng
nghe ý kiến của các cấp lãnh đạo, các chị em đồng nghiệp và các sách nấu ăn xem
trên báo chí truyền thông khoa học về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Luôn tham khảo
thực đơn của các trường bạn để điều chỉnh thực đơn cho hợp lý, cân đối phù hợp với
giá cả thị trường để trẻ được ăn ngon miệng, hết xuất.
- Được sự tín nhiệm của các chị em trong tổ nuôi và Ban giám hiệu nhà
trường, tôi rất vinh dự và tự hào đã được đi dự thi cô nuôi giỏi cấp huyện. Qua đợt
thi này tôi cũng học hỏi được ở các trường bạn một số thực đơn cho các cháu và
cách chế biến món ăn ngon, từ đó cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân.
- Để nâng cao chất lượng chế biến món ăn ngon cho trẻ,tôi đã sử dụng 4 biện
pháp nói trên và đã được áp dụng tại trường Mầm non Mỹ Hưng.

+ Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa.
+ Biện pháp 2: Cách lựa chọn thực phẩm sạch và an toàn.
+ Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo VSATTP.
+ Biện pháp 4: Phối hợp tốt trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.
Trên đây là những kinh nghiệm và một số biện pháp để chế biến món ăn cho
trẻ Mầm non mà bản thân tôi đã thực hiện và đạt được kết quả mà tôi mong muốn.
-----------------------------------------------------------
21
---------------------------------------------------


Mong các cấp trên và các chị em đồng nghiệp cùng đóng góp ý kiến để tôi được
hoàn thành bản sáng kiến kinh nghiệm này.
VII. Khuyến nghị đề xuất.
Tôi rất mong trường Mầm non Mỹ Hưng tạo điều kiện cho tôi được đi kiến
tập tại các trường điểm và các cuộc thi cô nuôi giỏi tại các trường điểm trong huyện,
thành phố để tôi có điều kiện được học hỏi tìm hiểu thêm một số kinh nghiệm chế
biến món ăn cho trẻ để trẻ trường tôi ngày càng được chăm sóc hơn, khỏe mạnh hơn.
Mỹ Hưng, ngày 08 tháng 04 năm 2012
Nhận xét đánh giá xếp loại

Người viết

của hội đồng cơ sở

Nguyễn Thị Thủy

-----------------------------------------------------------
22
---------------------------------------------------




×