Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên Tiểu học đạt “Tiết dạy GIỎI ”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (748.11 KB, 30 trang )

I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lý do chọn đề tài.
Hạnh phúc của người trồng cây là được thấy cây lớn lên từng ngày. Hạnh
phúc của người giáo viên khi đứng trên bục giảng là truyền thụ kiến thức bài
dạy, thấm dần vào mỗi học sinh những điều mình mong muốn một cách tự
nhiên, không gượng ép, không hình thức... Điều đó, chính là yếu tố giúp người
giáo viên đạt được kết quả tốt sau mỗi tiết dạy.
Để đạt được những mong muốn trên, mang lại tiết dạy Giỏi, hay và thành
công, đòi hỏi người giáo viên phải xác định được mục tiêu bài học đảm bảo
chuẩn kiến thức cơ bản, có hệ thống và phù hợp đối tượng học sinh của lớp
mình. Người giáo viên cần có kỹ năng, phương pháp giảng dạy thích hợp với nội
dung bài học. Trước tiên cần thiết kế Giáo án, tổ chức các hoạt động dạy học
trên lớp, xử lý các tình huống bất ngờ xảy ra từ phía giáo viên và học sinh. Bên
cạnh đó là tác phong sư phạm, sự thân thiện, giúp các em hứng thú với môn học,
sự hợp tác tích cực của học sinh v.v… là điều mà mỗi khi lên lớp giáo viên cần
quan tâm.
Trong thực tế hiện nay, một số giáo viên chưa chú trọng đến kiến thức,
chủ quan, không chịu khó nghiên cứu tài liệu. Bên cạnh có những giáo viên nghĩ
rằng chỉ nói cho hay, dạy đúng thời gian và truyền thụ hết kiến thức là được. Có
giáo viên suy nghĩ dạy thế nào cũng được, trong 35 phút dạy đủ bài thì thôi... Vì
thế mà không lôi cuốn sự chú ý của người học, làm cho các em chán nản, chất
lượng học tập khó đạt như mong muốn. Sau tiết học nhiều học sinh không hiểu
bài... dẫn đến tiết dạy ít thành công.
Từ những lí do trên, với tâm huyết nghề nghiệp, tôi luôn đặt chỉ tiêu phấn
đấu cho mình và các bạn đồng nghiệp làm sao đạt được nhiều tiết dạy Giỏi.
Chính vì vậy tôi đã chọn nghiên cứu: “Một số biện pháp giúp giáo viên Tiểu
học đạt “Tiết dạy GIỎI ” Hơn mười năm qua, từ các tiết dạy học hàng ngày bản
thân tôi đã tích lũy được một số biện pháp nhằm giúp giáo viên nâng cao chất
lượng giờ dạy của mình. Đó là động lực giúp tôi và giáo viên tự tin khẳng định
được bản thân mỗi khi lên lớp.
1




I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
- Tìm hiểu được một số biện pháp, một số hình thức tổ chức dạy học tạo
hứng thú học tập cho học sinh mang lại kết quả cao cho tiết dạy.
- Nêu ra các biện pháp cụ thể trong thực tế đã áp dụng và tích lũy thành
kinh nghiệm để giúp giáo viên Tiểu học đạt được tiết dạy Giỏi.
- Sau khi nghiên cứu, phân tích những ưu điểm và những mặt hạn chế, sai
sót thường gặp của giáo viên trong tiết dạy. Chọn ra được một số biện pháp, giải
pháp giúp bản thân giáo viên và các bạn đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường
khắc phục được những hạn chế, sai sót đó và có được kinh nghiệm khi dạy học
để vận dụng thường xuyên vào bài giảng hàng ngày của mình.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số biện pháp giúp giáo viên tiểu học đạt “Tiết dạy Giỏi”
ở Tiểu học.
- Nghiên cứu một số hình thức tổ chức dạy học tạo hứng thú học tập cho
học sinh mang lại kết quả cao cho tiết dạy.
- Nghiên cứu các bước lên lớp, quy trình dạy học các môn học ở Tiểu học.
- Nghiên cứu nội dung các bài dạy trước khi lên lớp, sách giáo khoa, sách
thiết kế...
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu nội các môn học trong sách thiết kế và sách giáo viên các
lớp mình dạy và dự giờ.
- Nghiên cứu tham khảo nội dung, hình thức dạy học của từng bài dạy.
- Dự giờ rút kinh nghiệm một số tiết dạy học ở các khối lớp trong trường
mình và trường bạn.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu: Tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu, tìm
hiểu các kinh nghiệm dạy học ở các khối lớp trong trường mình và trường bạn,
thông tin trên các trang giáo án mạng...

- Phương pháp thiết kế : Thiết kế các hoạt động dạy học khác nhau
của các môn học theo hướng đổi mới, khoa học, hiệu quả, phù hợp nhất đưa
2


vào thực hành trong các tiết dạ y cụ thể.
- Phương pháp thực hành: Sau khi thiết kế các hoạt động dạy học, người
giáo viên thực hành ngay trong tiết dạy của mình và tự đánh giá kết quả đạt
được sau tiết dạy thực hành đó để vận dụng điều chỉnh vào các tiết học sau.
- Phương pháp trình bày thử: Thử áp dụng các hoạt động dạy học của
đồng nghiệp trong trường cũng như trường bạn…vào bài dạy hằng ngày. Từ đó
rút kinh nghiệm và áp dụng vào bài dạy của bản thân.
I. 6. Thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến tháng 3 năm 2015

II. PHẦN NỘI DUNG:
II.1. Cơ sở lý luận.
Nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu ở các trường Tiểu học hiện nay.
Để đảm bảo được các tiêu chí thi đua, xếp loại, đánh giá trong trường Tiểu học
ngoài các tiêu chí như cơ sở vật chất nhà trường, chất lượng học sinh,… Thì có
một tiêu chí không kém phần quan trọng đó là chất lượng giáo viên đạt tốt theo
chuẩn nghề nghiệp sau mỗi năm học. Việc phấn đấu để được xếp loại tốt vào
cuối năm học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó giáo viên phải đạt “Tiết dạy
Giỏi”.
Để có được giờ dạy Giỏi tạo nên cái “hấp dẫn” của người thầy với học
sinh khi đứng trên bục giảng. Đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức vững
vàng vì đây chính là cái nền tạo nên một tiết dạy thành công. Bên cạnh đó cần
chú ý đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp
với nội dung bài học…. Cần tăng cường hơn nữa việc ứng dụng Công nghệ
thông tin, đồ dùng trực quan trong dạy học. Yếu tố sáng tạo trong mỗi tiết dạy

rất quan trọng đối với giáo viên. Khả năng truyền đạt lưu loát của người thầy thể
hiện sự tự tin khi đứng trước học sinh. Để tạo sự lôi cuốn trong giờ dạy, những
tình huống vui nhộn của thầy giúp các em giảm bớt được sự căng thẳng trong
quá trình lĩnh hội kiến thức. Tạo không khí gần gũi, vui tươi nhưng không ồn ào,
3


mất trật tự,… Cách ăn nói, đi đứng, điệu bộ, cử chỉ, hành động, trang phục…
cần đúng chuẩn mực. Chủ động nắm bắt tâm tư, tình cảm của học sinh, biết cách
nhắc nhở hoặc động viên các em kịp thời, có biện pháp giáo dục phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Tạo điều kiện cho các em phát huy tính sáng tạo để
phát triển trí tuệ. Làm tốt công tác chuẩn bị cho mỗi tiết lên lớp như: Lên kế
hoạch giảng dạy, soạn giáo án, tìm hiểu những tài liệu liên quan đến bài dạy…
Tất cả yếu tố trên giúp học sinh học tốt, hiểu bài và nắm vững kiến thức. Đây
chính là hiệu quả của giờ dạy giúp giáo viên đạt được tiết dạy Giỏi .
II.2. Thực trạng.
a. Thuận lợi - khó khăn.
Trường Tiểu học Lý Tự Trọng là một ngôi trường có bề dày thành tích về
chuyên môn. Là đơn vị dẫn đầu phong trào học sinh giỏi, giáo viên giỏi. Trường
có đội ngũ giáo viên nhiều kinh nghiệm trong nghề. Số giáo viên giỏi cấp
trường, cấp huyện, cấp tỉnh ngày một tăng. Học sinh qua từng năm học đạt chất
lượng học tập tốt, nhiều học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh. Ban giám hiệu nhà
trường luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho tất cả giáo
viên trong nhà trường. Bản thân tôi thường xuyên được cử đi tập huấn các
chuyên đề như: Nâng cao chất lượng dạy học, phương pháp dạy học tích cực, …
Được dự giờ thăm lớp thường xuyên các giáo viên trong và ngoài nhà trường.
Đặc biệt trong đổi mới sinh hoạt cụm chuyên môn thường xuyên tham gia dự
giờ và dạy một số tiết để cùng giáo viên trong cụm nhận xét rút kinh nghiệm.
Ngoài ra, sự quan tâm của các cơ quan ban ngành trên địa bàn đầu tư đầy đủ về
cơ sở vật chất: như loa đài, máy chiếu, tranh ảnh, ….phục vụ cho tiết học. Bên

cạnh đó nhà trường thường xuyên tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp trường và
hàng năm đón đoàn dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Bản thân vinh dự được
Phòng Giáo dục lựa chọn làm giám khảo.
Với những thuận lợi nói trên, bản thân tôi cũng gặp không ít những khó
khăn như việc sử dụng máy chiếu trong giờ dạy mất thời gian lắp đặt vì chưa có
máy chiếu riêng cho mỗi phòng học. Đồ dùng dạy học chưa đủ trang bị cho tất
cả các lớp học. Về phía học sinh còn tồn tại một số em còn hơi yếu nên việc
4


tham gia vào các hoạt động học tập chưa tốt. Trình độ hay nghiệp vụ của giáo
viên chưa đồng đều về chất lượng.
b. Thành công - hạn chế.
Từ thuận lợi nói trên, cùng với những nỗ lực khắc phục khó khăn, Tôi đã
đạt được những thành công nhất định: Bản thân thường xuyên được nhà trường
và các bạn đồng nghiệp đánh giá giờ dạy giỏi sau mỗi tiết dạy. Đã đạt giáo viên
dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, giáo viên viết chữ đẹp cấp tỉnh và có nhiều sáng
kiến về công tác dạy học cấp trường, cấp huyện, tham gia dự thi cấp tỉnh. Tích
cực trong tập huấn và làm báo cáo viên các chuyên đề dạy học. Đặc biệt là nhiều
năm liền đạt Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh.
Bên cạnh những thành công nói trên thì bản thân tôi vẫn còn những mặt
hạn chế nhất định đó là đôi khi còn nóng vội trong quá trình làm thử, thực hành
nên khi vận dụng vào bài ở một số tiết dạy chưa đạt kết quả như thiết kế, thỏa
mãn mong muốn của bản thân.
c. Mặt mạnh - mặt yếu.
Là giáo viên có năng khiếu sư phạm, viết và trình bày bảng đẹp, làm được
các đồ dùng dạy học phù hợp (công nhận cấp huyện, tỉnh). Không những được
ban giám hiệu, hội đồng sư phạm nhà trường đánh giá là có khả năng tốt mà còn
được giáo viên các trường bạn đánh giá cao. Bản thân có nhiều kinh nghiệm,
luôn sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học, các hoạt động dạy học mà không

bị trùng lặp nhau và có thể hướng dẫn cho học sinh làm thành công một cách
nhẹ nhàng các hoạt động mình mong muốn đạt được. Vì thế đã tạo được không
khí thoải mái cho học sinh suốt cả tiết học.
Ngoài những mặt mạnh nói trên, bản thân vẫn còn hạn chế là đôi khi trong
tiết dạy giáo viên chưa quan sát và giám sát học sinh trong lớp được toàn diện.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Các nguyên nhân, yếu tố tác động đến thực trạng đó là: Đội ngũ giáo viên
không đồng đều có giáo viên đã lớn tuổi, có giáo viên thì còn quá trẻ nên việc
nắm bắt và tích lũy các kinh nghiệm chưa nhiều. Việc nghiên cứu tài liệu, sách,
các tạp chí giáo dục… còn ít. Đa số giáo viên còn lên lớp chỉ đảm bảo thời gian
5


còn xem nhẹ việc dạy học “Chuyên sâu” về kiến thức, chưa tạo được điểm nhấn
trong bài dạy. Khi nhận xét giờ dạy chưa mạnh dạn nhận xét góp ý để rút kinh
nghiệm. Mặc dù nhà trường đã tổ chức rất nhiều chuyên đề cho hoạt động này.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
* Mô tả thực trạng giảng dạy hiện tại :
Thực tế, khi nói đến việc dạy học của giáo viên vẫn còn rất nhiều bất cập
và hạn chế. Trong quá trình dự giờ ở trường mình và một số trường trong huyện
vẫn còn một số giáo viên mắc phải những sai sót và hạn chế như sau:
- Khi thiết kế giáo án việc xác định mục tiêu bài dạy còn chưa rõ, có khi
còn lẫn lộn giữa kiến thức và kĩ năng làm cho giáo viên khó xác định nội dung
trọng tâm của bài dạy, mục tiêu cần đạt cho cho các đối tượng học sinh, số học
sinh cần được hỗ trợ…
- Chưa nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, các kiến thức nào là trọng tâm,
kiến thức nào cần liên hệ và mở rộng thêm. Bài dạy chưa tạo ra được điểm nhấn
khiến người học nhớ lâu, người dự cảm thấy tâm đắc.
- Chưa phân hóa được đối tượng học sinh nên đôi khi còn bỏ qua một số
học sinh yếu, học sinh dân tộc hay học sinh khuyết tật…

- Thiết bị, phương tiện dạy học chưa khoa học, chưa phù hợp và cần thiết
cho tiết dạy. Các trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học chưa được giáo
viên chuẩn bị trước khi lên lớp
- Chưa tổ chức được các hoạt động dạy học phát huy tính tích cực, chủ
động, trong việc học tập mang lại kết quả tốt.
- Chưa tạo ra được không khí vui tươi, thoải mái trong lớp học, tạo sự
hứng thú cho học sinh phấn khởi để tiếp thu bài.
- Giáo viên chưa bao quát lớp, quản lý lớp trong giờ dạy của mình. Phân
phối thời gian chưa hợp lý cho mỗi nội dung, cho từng hoạt động. Ôm đồm quá
nhiều kiến thức, trình bày bảng chưa hợp lý, khoa học, chữ viết bảng chưa cần
thận…
- Một số giáo viên chưa làm chủ được tiết dạy, giảng bài khó hiểu, dài
dòng, chưa thực sự là người hướng dẫn các em trong các hoạt động dạy học.
6


Kết quả khảo nghiệm thực tế các tiết dạy ở trường tổng số 23 Giáo viên như sau:
Giáo án,

Nội dung khảo nghiệm với 23 giáo viên

Giờ dạy

kế giáo

Bước 1
Bước 2
Bước 3
Bước 4


án

Bước 5

Thiết

Xác định mục tiêu bài học
Lựa chọn phương pháp
Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Thiết kế các hoạt động dạy học
Thiết kế nội dung củng cố bài, liên hệ
thực tế, đánh giá nhận xét, dặn dò
Xác định đúng mục tiêu, giảng dạy kiến

Các lĩnh
vực cần
đạt

Kiến thức

trong
tiết dạy

Kĩ năng sư
phạm

Số lượng
Đạt 15/23
Đạt 18/23
Đạt 20/23

Đạt 15/23
Đạt 15/23

thức cơ bản có hệ thống. Khai thác nội

Đạt 15/23

dung dạy học nhằm phát triển năng lực

GV

học tập của HS.
Dạy học đúng đặc trưng bộ môn, đúng
loại bài. Kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của HS theo hướng đổi mới. …..
Tác phong sư phạm chuẩn mực. Tôn

Thái độ sư trọng và đối xử công bằng với HS.
phạm

Chủ động giúp đỡ HS có khó khăn trong

Hiệu quả

học tập.
Tiến trình tiết dạy hợp lí, nhẹ nhàng. HS
tích cực chủ động tiếp thu bài học. HS
nắm được kiến thức, kĩ năng cơ bản….

Đạt 18/23

GV

Đạt 20/23
GV

Đạt 15/23
GV

Kết quả khảo nghiệm thực tế qua xếp loại giờ dạy 1 tiết/ tháng như sau:
Tổng số
23 Giáo viên

Giỏi
15

Xếp loại giờ dạy
Khá
Trung bình
8
-

Yếu
-

* Nguyên nhân của thực trạng là:
- Một số giáo viên chưa chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, còn dạy
theo kiểu một chiều đọc, chép, cung cấp kiến thức áp đặt cho học sinh, chưa

7



phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực của học sinh, không để các em suy nghĩ, tự
tìm ra kiến thức mới.
- Chưa có sự đầu tư khi thiết kế giáo án nên dẫn đến chưa xác định được
mục tiêu bài dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng, còn lúng túng trong việc lựa
chọn, phối hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức chưa phù hợp với
môn học, dạng bài,... hoặc nếu có chỉ mang tính hình thức chứ hiệu quả chưa cao.
- Một số giáo viên bằng lòng với chuyên môn của mình hiện có, chưa tích
cực đến công tác bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên.
- Các tổ chuyên môn thực hiện hoạt động sinh hoạt thường xuyên nhưng
việc trao đổi đề xuất, đóng góp ý kiến còn ít.
- Việc dự giờ, kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học chưa mạnh dạn nhận
xét, phê bình những tồn tại của đồng nghiệp. Có giáo viên dự giờ cho đủ số tiết
quy định chứ không tham gia nhận xét, góp ý, xếp loại.
- Việc vận dụng lồng ghép và tích hợp các chuyên đề vào bài dạy như:
Giáo dục kĩ năng sống, GDTNMT Biển và Hải đảo, ứng phó với biến đỏi khí
hậu, phương pháp dạy học bàn tay nặn bột, dạy học cho trẻ khuyết tật, cho học
sinh dân tộc … còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào nội dung.
- Một số giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc tự làm đồ dùng dạy học
phục vụ trong tiết dạy.
Sau khi phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng của đề tài, thấy được
ưu điểm, khuyết điểm trong các tiết dạy, tôi đã tìm ra một số biện pháp nhằm
khắc phục những nhược điểm đó.
II.3. Giải pháp, biện pháp.
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Giúp giáo viên biết một số giải pháp, biện pháp khắc phục những sai sót
trong bài dạy. Nghiên cứu, tìm ra các giải pháp, biện pháp hiệu quả nhất giúp
giáo viên đạt được tiết dạy tốt cụ thể như:
- Trước tiên người giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ, tôn trọng và
cảm thông với học sinh, nắm được tâm sinh lý lứa tuổi học sinh để có sự ứng xử

cho phù hợp, chủ động trước những tình huống nảy sinh trong tiết dạy.
8


- Giáo viên rèn cho mình có ngôn ngữ, tác phong chuẩn mực của một nhà giáo.
- Giảng dạy đúng, phù hợp chuẩn kiến thức, kỹ năng, làm rõ được kiến
thức trọng tâm của bài học. Đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Không ngừng học hỏi ở đồng nghiệp trong và ngoài trường những kiến
thức mới về giáo dục trên các phương tiện công nghệ thông tin.
- Nghiên cứu soạn, các bài tập, câu hỏi kiến thức đã học, bài học mới.
Vận dụng vào bài, khắc sâu kiến thức trọng tâm. Bài tập và hệ thống câu hỏi phải
phù hợp với đối tượng học sinh khác nhau.
- Giáo viên hòa mình vào từng bài giảng, từng tiết dạy, giảng dạy bằng tất
cả niềm say mê, hứng khởi của mình.
- Kịp thời phát hiện và điều chỉnh, uốn nắn các lỗi mà học sinh mắc phải
trong tiết học.
-Thay đổi các hình thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh để tạo sự
phong phú, đa dạng và hiệu quả. Học sinh tích cực, chủ động tham gia vào quá
trình học tập.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Muốn có một tiết dạy học hay người giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều
khâu trước khi thực hiện bài giảng trên lớp. Sự chuẩn bị kĩ lưỡng giúp giáo viên
tự tin bước vào tiết dạy một cách thỏa mái và đạt được kết quả như mong muốn.
1b/ Đối với việc thiết kế giáo án
Một tiết học thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế
giáo án trước khi lên lớp. Giáo án có một vai trò đặc biệt quan trọng giúp giáo
viên quản lí được thời gian dành cho mỗi hoạt động của bài học được tốt hơn,
vạch ra cụ thể nội dung nào cần được chú trọng, phần trọng tâm nào mà học sinh
bắt buộc phải biết, đâu là điểm nhấn của bài. Từ đó giúp giáo viên dễ dàng hơn
trong việc điều chỉnh thời gian, tăng giảm hoạt động dạy đề phòng các trường

hợp cháy giáo án, thừa thời gian… Vậy để có một giáo án hay người giáo viên cần:
1b1. Biện pháp thứ nhất:

Vạch ra nội dung nên đưa vào giáo án đó là:

9


- Chi tiết về lớp học và trình độ của từng học sinh hoặc trình độ chung của
cả lớp. Mục tiêu bài giảng và những kĩ năng mà học sinh phải có được sau buổi
học. Lồng ghép và tích hợp các chuyên đề vào bài dạy.
- Tài liệu, sách giáo khoa, các tài liệu bổ sung và tham khảo khác.
- Phương pháp và kĩ năng giảng dạy. Các bước và các bài tập dành cho
học sinh. Tiến trình dạy học, thời gian dành cho từng bài tập.
- Sắp xếp công việc, các hoạt động tương tác trong lớp học: Làm theo
nhóm đôi hay theo nhóm ba, cá nhân, cả lớp, trò chơi… phải được dựa trên mục
tiêu của bài học.
- Trong quá trình soạn giáo án, cần trả lời được những câu hỏi: Mục tiêu
của bài học là gì? Làm thế nào để đạt được mục tiêu đó? Cần sử dụng những
phương tiện gì để hỗ trợ …
1b2. Biện pháp thứ hai:

Khi thiết kế giáo án cần thiết kế theo các bước sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu bài học:
- Phải đọc kĩ nội dung sách giáo khoa, câu hỏi trong bài.
- Dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng của các môn học để xác định kiến thức
trọng tâm, kiến thức cốt lõi mà học sinh phải nắm được sau khi học.
Bước 2: Lựa chọn phương pháp:
- Dựa vào điều kiện cơ sở vật chất: Lớp học, phòng máy, trang thiết bị

dạy học. Đặc điểm nội dung bài học, tiết học. Trình độ tiếp thu của học sinh
- Vận dụng linh hoạt từng nội dung cụ thể của bài, phải thể hiện: Lấy học
sinh làm trung tâm, rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu.
Bước 3: Chuẩn bị đồ dùng dạy học:
- Phải xác định được đồ dùng nào giáo viên phải chuẩn bị, nó được đưa
vào lúc nào. Đồ dùng học sinh phải chuẩn bị, dùng vào việc gì.
- Hệ thống được các loại đồ dùng: đã có sẵn, phải tự làm...
Bước 4: Thiết kế các hoạt động dạy học:
- Không nên tạo ra nhiều hoạt động trong một tiết học, cần có định hướng
mục tiêu cho từng hoạt động.

10


- Phân biệt được hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh một
cách chi tiết cụ thể. Định hướng phân bổ thời lượng cho mỗi hoạt động hợp lý.
Bước 5: Thiết kế nội dung củng cố bài, liên hệ thực tế, đánh giá nhận xét, dặn dò:
- Tóm tắt, nhấn mạnh các điểm chính của bài học. Có thể dùng phiếu đánh
giá cuối bài hay trò chơi thay cho tổng kết.
- Phần liên hệ thực tế có thể cho HS liên hệ hoặc giáo viên dẫn dắt học
sinh bằng các câu hỏi để giúp các em liên hệ thực tế một các dễ dàng hơn.
1b3. Biện pháp thứ ba:

Cần lưu ý khi thiết kế giáo án

* Với định hướng dạy học mới thì mục tiêu của bài học được thể hiện
bằng các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh sẽ phải đạt được ở mức độ
nhất định sau tiết học chứ không phải là hoạt động của giáo viên trên lớp:
- Đối với mục tiêu kiến thức: Mức độ nhận biết được thể hiện qua việc:
Phát biểu, liệt kê, mô tả, trình bày, nhận dạng,… Mức độ thông hiểu được thể

hiện qua việc : Phân tích, so sánh, phân biệt, tóm tắt, liên hệ, xác định,…
- Đối với mục tiêu kĩ năng: Xác định học sinh làm được hay làm thành
thạo một công việc được thể hiện qua: Nhận dạng, liệt kê, thu thập, đo đạc, vẽ,
phân loại, tính toán, làm thí nghiệm, sử dụng…
- Đối với mục tiêu thái độ: Thể hiện các mức độ như: Tuân thủ, tán thành,
phản đối, hưởng ứng, chấp nhận, bảo vệ,…
* Đọc tài liệu tham khảo về các nội dung liên quan đến bài giảng giúp
chúng ta hiểu sâu các kiến thức, điều đó làm cho việc trình bày các kiến thức
của bài giảng được thực hiện một cách tự tin, chính xác, sâu sắc. Giúp cho bài
giảng sâu thể hiện được bản chất của kiến thức và vận dụng được các kiến thức
của bài học để trả lời các tình huống lý thuyết, bài tập và thực tiễn đặt ra.
* Trong quá trình soạn giáo án nên cố gắng tìm cách chuyển đổi nội dung
bài dạy thành các tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh tự khám phá kiến
thức. Thực tế cho thấy, có những bài, những nội dung kiến thức khó chuyển
thành các tình huống có vấn đề. Tuy nhiên trong trường hợp đó đòi hỏi người
thầy giáo phải dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi, cân nhắc sẽ giúp chúng
ta thu được nhiều thành công.
11


Ví dụ: Tôi đã đặt tiết “Toán Luyện tập – Lớp 2 - Tuần 16” vào một tình
huống có vấn đề, một câu chuyện giáo dục tính nhân văn qua bài học như sau:
“Muốn cứu được mẹ đang ốm nặng thì Thỏ con phải vượt qua ba quả đồi để lấy
bông hoa màu vàng về sắc thuốc cho mẹ uống”. Ba quả đồi ấy là nội dung của
ba bài tập ( Bài 1: Tính nhẩm, Bài 2: Tính. Bài 3:Tìm X). Vừa kể giáo viên vừa
kết hợp tổ chức các hoạt động giúp cho học sinh hoàn thành các bài toán đó. Khi
các em hoàn thành được một bài toán có nghĩa là đã giúp Thỏ con vượt qua một
quả đồi. Và cuối cùng hoàn thành hết ba bài tập cũng là lúc Thỏ lấy được bông
hoa. Có nghĩa là Thỏ đã cứu được mẹ - Đồng nghĩa với việc giáo viên đã cho
học sinh luyện tập hết nội dung của bài toán luyện tập lúc nào không biết.

* Khi soạn giáo án không quá lệ thuộc vào cách trình bày trong sách giáo
khoa. Có thể được trình bày theo cấu trúc khác tuỳ vào phương án giảng dạy của
giáo viên, thể hiện ở các điểm như: Sắp xếp lại trình tự các phần, thêm hoặc bớt
một số mục, một số kiến thức cần thiết.
Ví dụ: Khi soạn bài có thể thiết kế các hoạt động không theo thứ tự các
bài tập trong sách giáo khoa. Có thể dạy bài tập 2, 4 rồi đến bài 3, bài 1 dành
cho trò chơi củng cố bài......Các hoạt động do giáo viên sắp xếp khi triển khai
bài dạy đảm bảo giảng dạy đầy đủ kiến thức cơ bản , có hệ thống.
1b4. Biện pháp thứ tư:

Chọn khung soạn bài phù hợp

Khung soạn bài là thể hiện việc thiết kế giáo án, nó giúp cho người thiết
kế dễ thể hiện được nội dung, tiến trình dạy học của bài học một cách khoa học,
khi nhìn vào không chỉ bản thân người thiết kế mà người xem thiết kế cũng có
thể hiểu được ý đồ và sử dụng thiết kế đó để triển khai tiết dạy một cách dễ
dàng.
Dưới đây là khung thiết kế giáo án mà nhiều năm qua trường tôi đã sử
dụng và đạt hiệu quả rất cao. Đây cũng chính là khung giáo án được thiết kế
trong sáng kiến kinh nghiệm của đồng chí Phó Hiệu trưởng trường tôi thể hiện
trong sáng kiến kinh nghiệm: "Các giải pháp nâng cao chất lượng soạn giáo án
cho giáo viên” đạt giải A cấp trường, giải B cấp huyện và dự thi cấp tỉnh.

12


TUẦN .....

Thứ ..... ngày ......tháng ....... năm ........


Ngày soạn ............

Tên bài .............................................................
I.Mục tiêu: 1. Kiến thức:.....................................................................................
2. Kỹ năng:........................................................................................
3. Thái độ:..........................................................................................
II/ Đồ dùng dạy học: 1. Chuẩn bị của GV:.............................................
2. Chuẩn bị của HS:......................................................
II/ Các HĐ dạy học
HOẠT ĐỘNG DẠY
1.Ổn định.

TG
HOẠT ĐỘNG HỌC
2’ ...............................

2. Kiểm tra bài cũ:

3’

Ghi nội dung câu hỏi kiểm tra, có thể

..............................

lồng ghép phần kiểm tra khi dạy bài
mới hoặc bỏ qua
3. Bài mới:
Hoạt động 1: Tên hoạt động 1 hoặc ...
tiêu đề nội dung 1
- Giúp học sinh thực hiện những hoạt


- Thực hiện các hoạt động và trả lời

động nào?

câu hỏi theo yêu cầu của giáo viên.

- Cách giải quyết vấn đề bằng hệ

- Học sinh có thể đặt ra những câu

thống câu hỏi, trò chơi.....

hỏi mới mà giáo viên và học sinh
cần giải quyết...

GV: Nhận xét – Chốt kiến thức

..............

Hoạt động 2: Tương tự
Hoạt động 3: Tương tự
4. Củng cố, dặn dò

...

- Củng cố nội dung gì? Liên hệ như ...
thế nào?...

...


- Dặn dò cần ghi rõ những công việc
cụ thể mà học sinh cần phải làm.
2b/ Đối với việc thực hiện tiến trình bài giảng trên lớp:
13


Để có được tiết dạy thành công, được đánh giá là tiết dạy “Giỏi” người giáo
viên phải biết vận dụng linh hoạt các lĩnh vực về kiến thức, kĩ năng sư phạm,
thái độ sư phạm, hiệu quả tiết dạy vào các bước lên lớp một cách nhuần nhuyễn.
2b1. Biện pháp về ổn định tổ chức
Công việc đầu tiên trước khi vào tiết học là ổn định tổ chức. Có rất nhiều
cách như: Quan sát chỗ ngồi của học sinh, theo dõi sự chuyên cần. Em nào có
mặt, em nào vắng mặt để có hướng giúp đỡ và khích lệ.
Xây dựng thành nếp ngay thời gian đầu. Thời gian sau có thể lướt qua
khoảng 1 phút. Lớp trưởng giúp giáo viên ghi sĩ số, vắng mặt, có mặt ở góc
bảng trái để giáo viên đỡ mất thời giờ kiểm tra…
2b2. Biện pháp về kiểm tra bài cũ
- Kiểm tra việc nắm vững bài học cũ và những kiến thức kĩ năng đã học có
liên quan đến bài mới với nhiều hình thức kiểm tra bài cũ như:
+ Kiểm tra bài cũ vào đầu giờ học
+ Kiểm tra bài cũ ngay trong giờ học
+ Kiểm tra bài cũ vào cuối giờ học
- Giáo viên lựa chọn hình thức kiểm tra bài cũ phù hợp với loại bài hình
thành kiến thức mới hay luyện tập sao cho gây được hứng thú, bất ngờ, hấp dẫn
cho học sinh.
- Có rất nhiều phương pháp kiểm tra bài cũ vì thế việc lựa chọn phương pháp
phù hợp với loại bài là rất cần thiết:
+ Phương pháp kiểm tra bài cũ bằng hình thức hỏi miệng:
Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, vừa sức. Nội dung câu hỏi không chỉ

giới hạn ở việc ghi nhớ, mà còn giúp học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản
của bài học, biết phân tích, khái quát nội dung kiến thức đã học cụ thể để rút ra
kết luận.
Ví dụ: Bài mới là bài bảng chia 5 thì giáo viên nên kiểm tra bài bảng nhân
5 vì dựa vào bảng nhân 5 để lập bảng chia 5.
? Em có nhận xét gì về các tích của bảng nhân 5?
kém nhau 5 đơn vị) .
14

( Là các số liền kề từ 5 đến 50 hơn


? Trong bảng nhân 5 có phép nhân nào đã học ở bảng nhân 2, 3, 4? ( Có phép
nhân 5 x 2 = 10, 5 x 3 = 15...)
Tránh đặt ra những câu hỏi cồng kềnh, dài dòng, ít chú ý đến nội dung của
câu hỏi, hoặc những câu hỏi quá chi tiết, thừa thông tin. Đối với câu hỏi quá sức
học sinh không thể trả lời, giáo viên có thể gợi ý, phân tích thêm để học sinh trả
lời trọn vẹn câu hỏi.
+ Phương pháp kiểm tra bài cũ bằng câu hỏi trắc nghiệm:
Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu. Mỗi phương án
nhiễu phải hợp lí. Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, tránh tạo phương án
đúng quá khác biệt với các phương án nhiễu.
Sắp xếp các phương án theo thứ tự ngẫu nhiên, tuyệt đối không đưa ra
phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng”, hoặc “không có phương án nào
đúng cả”
Ví dụ: Để kiểm tra cách tính giá trị biểu thức và tìm thừa số giáo viên
cho học sinh tinh rồi chọn kết quả đúng ghi vào bảng con.
Chọn chữ cái A, B, C đặt trước kết quả đúng:
a/ 4 x 7 + 23 = ?
A. 34


B. 51

C. 44

b/ Tìm y, biết y x 2 = 18
A. 9

B. 16

C. 20

+ Phương pháp kiểm tra bài cũ bằng câu hỏi tư duy trong quá trình truyền tải
kiến thức mới.
Khi đưa ra câu hỏi, giáo viên cũng nên có sẵn đáp án và những dự đoán
mà học sinh có thể trả lời để điều chỉnh cách đánh giá học sinh sao cho phù hợp.
Khi học sinh trả lời chưa chính xác hoặc đi quá xa nội dung câu hỏi giáo
viên cần có sự gợi ý từ từ để học sinh có thể suy nghĩ và trả lời hoàn chỉnh câu
hỏi.
+ Phương pháp Kiểm tra bài cũ bằng tổ chức trò chơi:
Chọn nội dung kiểm tra, chọn trò chơi phù hợp với nội dung đó.
Trò chơi được lựa chọn phải đơn giản, dễ chơi, nhiều em được chơi càng tốt.
15


2b3. Biện pháp tổ chức dạy và học bài mới
a/ Về giới thiệu bài mới: Có nhiều cách gây sự hứng thú, tập trung nghe giảng như:
- Sử dụng tranh minh họa để dẫn vào bài học.
- Nhắc lại vấn đề đặt ra trong bài cũ rồi dẫn vào bài mới.
- Thông qua mẩu chuyện ngắn, bài hát, con rối để giới thiệu bài mới.

- Giới thiệu bài mới nhằm để ổn định lớp, tạo môi trường thuận lợi gây
hứng thú cho bài học.
- Dùng trò chơi học tập để giới thiệu bài.
- Liên hệ những điều đã học với bài học mới.
* Ví dụ: Dùng trò chơi học tập để giới thiệu bài .
Trò chơi “ Ai nhanh – Ai đúng” khi dạy bài “ Bảng nhân 5 ” Giáo viên cử
hai đội chơi, mỗi đội 3 em lên bảng nối tiếp nhau viết. Đội 1 viết bảng nhân 4,
đội 2 viết bảng nhân 3. Trong thời gian 2 phút đội nào viết xong và đúng đội đó
thắng cuộc. Sau khi học sinh chơi xong giáo viên dùng hai bảng nhân đó để giới
thiệu bài: Các em đã được học và biết cách dùng bảng nhân 3, 4 vào bài học,
ngoài ra các em còn học rất thuộc bảng nhân. Để giúp các em lập được bảng
nhân 5 cô và các em cùng tìm hiểu bài “ Bảng nhân 5 ”
* Ví dụ: Giới thiệu bài bằng liên kết kiến thức đã học
Đối với tiết dạy “ Cuộc họp của chữ viết – Tiếng việt 3 tập 1, trang 44”.
Tiết dạy chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học. Tôi đã giới thiệu bài bằng
cách dùng giấy bìa cứng cắt 2 nhân vật anh Dấu Chấm và bác Chữ A sử dụng để
giới thiệu bài thông qua cuộc nói chuyện giữa hai nhân vật này:
Bác Chữ a: Anh dấu chấm ơi, trong tuần vừa qua anh làm việc ra sao?
Anh Dấu Chấm: Tôi ấy à. Trong tuần vừa qua, tôi làm việc mệt lắm bác ạ.
Bác Chữ a: Anh làm những việc gì mà mệt như vậy?
Anh Dấu Chấm: Tôi làm việc suốt ngày không nghỉ vì các cậu học trò cứ
thích đặt tôi ở đâu thì đặt ấy mà.
Bác Chữ a: Nói đến việc các cậu học trò tôi mới nhớ ra, hôm nay chúng ta
có cuộc họp rất quan trọng về các cậu học trò đấy. Anh nhớ đến đấy nhé!
Anh Dấu Chấm: May mà có anh nhắc không thì tôi quên mất. Cảm ơn anh nhé.
16


Để biết được bác Chữ A và anh Dấu Chấm họp bàn về việc gì? Họp như
thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài tập đọc “ Cuộc họp của chữ viết ”.

b/Các hoạt động dạy và học:
Đây là hoạt động trọng tâm, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học phù
hợp giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhưng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Về kiến thức:
+ Xác định được vị trí, mục tiêu, chuẩn kiến thức và kĩ năng, nội dung cơ bản,
trọng tâm của bài dạy giúp học sinh nắm được kiến thức đó một cách chắc chắn,
hiểu sâu và biết vận dụng vào bài học thành thạo.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Các số có ba chữ số” Mục tiêu của bài là Nhận biết
được các số có ba chữ số, biết cách đọc, viết chúng. Nhận biết số có ba chữ số
gồm số trăm, số chục, số đơn vị. Bám vào mục tiêu đã xác định giáo viên triển
khai các hoạt động giúp cho học sinh nắm được nội dung kiến thức đó.
+ Giảng dạy kiến thức cơ bản chính xác, có hệ thống: Biết tích hợp nội dung
kiến thức, đồng bộ hóa kiến thức sao cho đảm bảo đi từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phúc tạp, kiến thức bài trước làm tiền đề cho bài sau. Tránh việc đang dạy
nội dung này lại quay lại dạy nội dung đã học vì trước đó triển khai còn thiếu…
+ Nội dung dạy học đảm bảo giáo dục toàn diện (thái độ, tình cảm,..). Giáo viên
phải biết chủ động nắm bắt tâm tư, tình cảm của học sinh biết cách nhắc nhở
hoặc động viên các em kịp thời, có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối
tượng học sinh. Tạo điều kiện cho các em phát huy tính sáng tạo để phát triển trí tuệ.
+ Khai thác nội dung dạy học nhằm phát triển năng lực học tập của Học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Quả ” Tự nhiên xã hội lớp 3
Để phát triển năng lực học tập của học sinh giáo viên cho học sinh tự sưu
tầm loại quả mà em thích. Sau đó tổ chức hoạt động 6 nhóm. Các em trong
nhóm nhận xét về cấu tạo quả của mình cho các bạn nghe. Hết thời gian giáo
viên cho học sinh báo cáo cấu tạo quả của mình cho cả lớp nghe. Làm như vậy
thì các em kể cả những em nhút nhát cũng tự tin khi trình bày vì đó là quả của
mình.

17



+ Nội dung dạy học cập nhật những vấn đề xã hội, nhân văn gắn với thực tế,
đời sống xung quanh của Học sinh.
Ví dụ như khi dạy bài “Em hãy viết đoạn văn nói về mùa hè” trong khi
đang ở mùa đông thì giáo viên nên cho các em viết đoạn văn nói về mùa đông
thì chắc chắn các em sẽ viết hay hơn vì thực tế bây giờ đang là mùa đông. Hoặc
khi dạy bài “ Quả ” giáo viên cho học sinh chuẩn bị các loại quả khác nhau phục
vụ cho việc tìm hiểu bài… Thì bài học sẽ hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn.

- Về kĩ năng sư phạm
+ Dạy học đúng đặc trưng bộ môn, đúng loại bài
Ví dụ: Khi dạy bài toán “Luyện tập” giáo viên phải xác định được đây là
loại bài luyện tập, thực hành. Khi dạy bài “Bảng chia 4” phải xác định được đây
là loại bài hình thành kiến thức
+ Vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với các đối
tượng theo hướng phát huy tính năng động sáng tạo của Học sinh:
Ví dụ : Đối tượng học sinh là khá giỏi nhiều thì lựa chọn phương pháp
truyền thống hay hiện đại hoặc có thể kết hợp hai phương pháp đó. Hình thức tổ
chức dạy học như nhóm đôi, nhóm ba, nhóm 6, cá nhân, đồng loạt... Ngoài ra
còn tổ chức trò chơi.

18


+ Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của Học sinh đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ
năng môn học và theo hướng đổi mới.
Ví dụ: Dạy bài Tập đọc “ Cây dừa” Lớp 3 Có thể kiểm tra kết quả đọc cá
nhân ở hoạt động đọc nối tiếp câu lần hai tiến bộ hơn lần một thế nào.
+ Xử lí các tình huống sư phạm phù hợp đối tượng và có tác dụng giáo dục.
Ví dụ: Khi giáo viên đang nhận xét bài của học sinh làm đúng và khen

học sinh đó. Một em đứng lên không đồng ý vì cô viết rồi bạn mới nói. Giáo
viên phải nhẹ nhàng nói cho học sinh ấy hiểu là bạn trả lời rồi cô mới viết. Giáo
dục em cần chú ý nghe giảng và nói phải chính xác hơn.
+ Sử dụng thiết bị, ĐDDH, kể cả ĐDDH tự làm thiết thực, có hiệu quả:

19


+ Lời giảng mạch lạc, truyền cảm; chữ viết đúng, đẹp; trình bày bảng hợp lí:
Lời giảng mạch lạc, nhẹ nhàng, vui tươi giúp các em giảm bớt căng thẳng
tạo không khí gần gũi. Viết đúng mẫu chữ trên bảng, không viết to quá sẽ chiếm
hết bảng hay viết nhỏ quá học sinh lại không nhìn thấy. Cần viết chữ thật đều,
viết thẳng hàng không lên dốc, xuống dốc. Viết cỡ chữ đủ lớn, đủ đậm để mọi
học sinh đều nhìn thấy rõ.
Nên lựa chọn các nội dung ngắn gọn, cụ thể để viết vào các phần được
chia, biết treo tranh ảnh phù hợp. Khi treo cần treo thẳng tránh xộc xệch sẽ làm
xấu bảng. Dùng thước kẻ cho thẳng các vạch chia bảng hay các gạch chân đầu
đề, đầu bài, khi vẽ các sơ đồ bài toán, vẽ các hình học… Không viết hay vẽ dày
đặc, chi chít trên bảng, trình bày cả những thông tin vụn vặt.

+ Phân bố thời gian đảm bảo tiến trình tiết dạy, đạt mục tiêu của bài dạy và
phù hợp với thực tế lớp học:
Cần xác định được đâu là nội dung trọng tâm của bài, phần nào của bài
cần nhiều thời gian, phần nào cần ít thời gian... để dành thời gian thích đáng cho
từng hoạt động. Tránh lãng phí thời gian vào những việc không cần thiết.
- Về thái độ sư phạm
+ Tác phong sư phạm chuẩn mực, gần gũi, ân cần với Học sinh.
Giáo viên luôn nở nụ cười thân thiện với học sinh, gần gũi các em, ân cần
chỉ bảo tận tình cho các em những điều các em chưa hiểu.
+Tôn trọng và đối xử công bằng với Học sinh.

Giáo viên phải đối xử bình đẳng đối với tất cả Học sinh. Học sinh xuất sắc
nhất trong lớp cũng có khả năng phạm lỗi, và học trò đó cũng đáng bị phạt về lỗi
của mình.
20


+ Chủ động giúp đỡ Học sinh có khó khăn trong học tập, động viên để mỗi Học
sinh đều được phát triển năng lực học tập.
Phải chủ động quan tâm đến đối tượng Học sinh vì trong lớp có trình độ
phổ thông như nhau, nhưng lại khác biệt về mặt tâm sinh lý. Có em hay lơ đãng,
thiếu tập trung, có em tiếp thu chậm… Vì vậy người giáo viên phải chủ động có
trách nhiệm quan tâm đến tất cả các em, dù chỉ dạy một tiết, dù không phải Giáo
viên chủ nhiệm.

- Về hiệu quả tiết dạy
+ Tiến trình tiết dạy hợp lí, nhẹ nhàng; các hoạt động học tập diễn ra tự nhiên,
hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của Học sinh tiểu học
Ví dụ: Trong tiết dạy “ Cây Đa quê hương” phân môn Tập đọc lớp 2 tôi
đã được dự giờ trong hội thi Giáo Viên dạy giỏi cấp huyện dành cho Giáo viên
Tiểu học năm 2014 – 2015 vừa qua. Trong tiết dạy cô giáo đã áp dụng linh hoạt
phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đối tượng học sinh. Với cách vào bài
nhẹ nhàng hấp dẫn Giáo viên đã dẫn dắt Học sinh tiếp cận bài đọc một cách tự
nhiên. Mục tiêu chính của tiết học là giúp Học sinh biết cách đọc lưu loát từng
đoạn văn trong sách giáo khoa, Giáo viên còn hướng dẫn cho các em có giọng
đọc phù hợp theo mạch cảm xúc. Ngoài việc đọc diễn cảm Giáo viên hướng dẫn
cho Học sinh tìm hiểu về vẻ đẹp của cây đa, cây đa đã sống lâu đời qua những từ
chỉ đặc điểm về thân, cành, ngọn lá kết hợp với những hình ảnh so sánh, nhân
hóa… Không chỉ thấy được vẻ đẹp của cây đa mà còn cho học sinh cảm nhận
được tình cảm của tác giả đối với quê hương khi ngồi hóng mát dưới gốc đa. Kết
thúc phần nội dung nào giáo viên liên hệ thực tế cho học sinh ngay ở nội dung

đó. Điều ghi nhận ở giờ dạy là bên cạnh việc sử dụng thành thạo phương tiện
dạy học hiện đại dùng máy chiếu, tạo hình ảnh sinh động lôi cuốn Học sinh,
21


Giáo viên đã làm chủ kiến thức bám sát vào các đối tượng cụ thể để truyền thụ.
Giờ dạy đã đáp ứng được các đối tượng Học sinh giỏi, khá, trung bình thông qua
những câu hỏi phát hiện, tái hiện và nêu vấn đề của Giáo viên. Chính vì vậy mà
tiết dạy của cô giáo đã đạt loại “Giỏi”
+ Học sinh tích cực chủ động tiếp thu bài học, có thái độ, tình cảm đúng.
Dạy học sao cho tất cả Học sinh đều được hoạt động, đều được làm việc,
các em tích cực chủ động tham gia vào các hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức là
hết sức quan trọng.
+ Học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng cơ bản của bài học và biết vận dụng
vào các bài luyện tập thực hành sau tiết dạy.
Sau bài học các em biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vừa học vào các bài
luyện tập thực hành sau tiết học, giúp các em tiếp thu bài, hiểu bài một cách tự
nhiên, hiểu sâu, nhớ lâu.

Giáo viên chuẩn bị kỹ để xác định phần nào là trọng tâm, là khó hiểu, khó
nhớ để giảng giải kỹ càng; phần nào dễ, hướng dẫn các em tự học, không nhất
thiết phần nào cũng giảng giải như nhau. Chuẩn bị kỹ nội dung lẫn phương pháp
nên để có sự chủ động tránh việc dễ “cháy giáo án” và cuối cùng không đọng lại
kiến thức cho học sinh.
c/ Biện pháp củng cố - dặn dò:
Phần củng cố bài học là một phần nhỏ trong tiết học. Thời gian dành củng
cố bài khoảng 5 phút. Thực tế, nhiều giáo viên đã bỏ qua công việc này, vì tiết
học chủ yếu là truyền thụ đầy đủ các kiến thức cơ bản, trọng tâm cho học sinh.
Có bài học rất nhiều nội dung, giáo viên không đủ thời gian để củng cố bài. Có
bài nội dung ngắn gọn, giáo viên không có tư liệu để minh hoạ, dẫn chứng, còn


22


nhiều thời gian, giáo viên cứ hỏi đi hói lại những câu hỏi trong sách giáo khoa
làm cho tiết học trở nên nhàm chán.
Để khắc phục tình trạng trên, nhằm khắc sâu các kiến thức và gây hứng
thú học tập cho học sinh đến cuối tiết học, giúp các em nhớ lâu giáo viên có thế
củng cố bài như sau:
- Củng cố bài học qua việc sử dụng các bài tập trắc nghiệm bài tập điền khuyết...
Ví dụ khi dạy bài: Tả về cây cối. Để củng cố bài giáo viên chia lớp thành
6 nhóm. Phát cho mỗi nhóm 1 phiếu điền khuyết như sau:
PHIẾU HỌC TẬP - NHÓM.....
Hình dáng bên ngoài quả măng cụt .
+ Quả măng cụt có hình ...............................................................
+ Quả to bằng ..............................................................................
+ Quả măng cụt có màu ..............................................................
+ Cuống to như ..........................................................................
- Củng cố bài qua việc hỏi đáp miệng.
- Củng cố bài bằng tổ chức trò chơi
Ví dụ dạy bài: Toán bảng chia 5 – lớp 2. Để củng cố bảng chia giáo viên
cho học sinh chơi trò chơi “ Cùng leo dốc” Chia lớp làm 2 đội chơi mỗi đội 4
em nối tiếp nhau lên điền kết quả. Đội nào điền xong trước là đội đó leo lên dốc
trước và là đội thắng cuộc.
30 : 5 =
15: 5 =
20: 5 =
10 : 5 =
40 : 5=


45 : 5 =
50 : 5 =
25 : 5 =

- Bước dặn dò: Đây là bước tiếp tục chuẩn bị cho bài sau. Không nên làm
lấy lệ mà phải có yêu cầu, nội dung cụ thể rõ ràng. Cần thiết phải hướng dẫn tỉ
mỉ để các em thực hiện được.
Các giải pháp đúc rút sau khi áp dụng đề tài SKKN:
23


Sau khi áp dụng các biện pháp đưa ra ở trên, để tiết dạy học đạt hiệu quả
và được xếp loại “Giỏi”, người giáo viên cần lưu ý:
- Giáo viên nhiệt tình trong tiết dạy thể hiện ở cử chỉ, điệu bộ để thu hút
sự chú ý và hứng thú của học sinh. Lời nói có hồn, nhẹ nhàng và diễn cảm và đủ
nghe, không nói nhiều, to quá hoặc nhỏ quá. Không đi lại quá nhiều trong khi
giảng bài. Có điệu bộ thích hợp, tránh những điệu bộ làm giảm đi sự tập trung
của học sinh. Duy trì sự giao tiếp bằng mắt với học sinh. Mỉm cười trong khi giảng bài.
- Về phương pháp giảng dạy trên lớp phải phù hợp với nội dung bài dạy,
phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau trong từng lớp học. Mỗi lớp học
có đối tượng học sinh khác nhau: Ví dụ như lớp có đối tượng học sinh giỏi sẽ
chọn phương pháp phát huy tính tích cực bằng các hoạt động nhóm, trò
chơi, ....ở mức độ cao hơn, khó hơn lớp có nhiều đối tượng học sinh yếu.
- Khi tương tác với học sinh giáo viên cần cổ vũ sự tham gia của học sinh
trong lớp. Khuyến khích các em đưa ra các câu hỏi, nhận xét các bạn sau mỗi
hoạt động học. Tránh phê phán trực tiếp học sinh khi các em có lỗi. Khen ngợi
những ý tưởng hay của học sinh và kết hợp ý tưởng của học sinh vào bài giảng.
Đưa ra những thách thức để khuyến khích ý tưởng mới. Đặt câu hỏi mang tính
chất gợi ý, định hướng. Lắng nghe và trả lời các ý kiến đóng góp của học sinh.
- Giáo viên phải rõ ràng trong công việc như: Xác định mục tiêu, nội dung

bài dạy. Cung cấp nội dung câu hỏi, giao việc trong các hoạt động nhóm, trò
chơi, hoạt động cá nhân cần có thời gian làm việc, cách làm việc....
- Đối với quan hệ cá nhân giữa giáo viên và học sinh cần thể hiện tình
cảm nhẹ nhàng thâm mật như: Gọi tên học sinh khi hỏi, trao đổi, tránh gọi anh
hay chị như thế sẽ cảm thấy xa lạ. Luôn sẵn sàng giúp đỡ học sinh khi có vướng
mắc. Dành thời gian giúp đỡ học sinh yếu nhiều hơn, theo dõi sự tiến bộ của các
em để nhận xét sự tiến bộ hàng ngày ( Thông tư 30)......
- Cần hướng vào người học đó là sự tập trung cao độ vào việc học và sự
thành thạo của học sinh. Tập trung vào kết quả hoạt động học và sự phát triển,
chứ không phải nội dung dạy học. Có gợi ý cho học sinh khám phá và xây dựng
kiến thức. Khuyến khích lối học tập tích cực, học tập cộng tác. Giáo viên chủ
24


yếu là người thiết kế và huấn luyện. Người học được chủ động thực hiện việc
học tập của bản thân. Khuyến khích người học bằng cách hỗ trợ họ phát triển
năng lực bản thân
- Sự linh hoạt trong tiết dạy khiến tiết dạy nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn.
Nhanh nhẹn trong xử lý tình huống sư phạm. Tạo hứng thú học tập bằng
việc đổi mới quan niệm và cách thức kiểm tra, đánh giá.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
Để có được một tiết dạy hay, hấp dẫn không phải là dễ. Muốn đạt được
điều đó cần phải có các biện pháp, giải pháp cần thiết. Để có được các biện
pháp, giải pháp đó cần một số điều kiện sau:
- Về phía giáo viên: Trước hết, giáo viên cần xác định được mục tiêu bài
dạy, giảng dạy kiến thức cơ bản có hệ thống, phải có phương pháp dạy học phù
hợp, có câu hỏi gợi mở để học sinh phát triển tư duy và chủ động hơn trong học
tập. Để có những câu hỏi gợi mở theo đúng nghĩa, giáo viên phải đầu tư, chuẩn
bị chu đáo từ giáo án đến tiến trình bài giảng, đồ dùng dạy học, dụng cụ thí
nghiệm…Cách diễn đạt của giáo viên cũng cần có sức cuốn hút giúp học sinh

lắng nghe, hiểu bài và từ đó học sinh sẽ tiếp nhận kiến thức tiết học một cách tự
nhiên. Để học sinh có cảm hứng học tập và dễ dàng tiếp thu bài, giáo viên cần
tăng cường giảng dạy bằng giáo án điện tử và sử dụng sơ đồ tư duy sao cho phù hợp.
- Về phía học sinh: Lắng nghe, hợp tác với giáo viên vì các em là nhân vật
chính trong tiết dạy. Có như vậy việc tổ chức các hoạt động học tập của giáo
viên diễn ra mới thành công.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Mỗi một giải pháp, biện pháp đưa ra đều có mối quan hệ, chúng tác động
qua lại với nhau một cách mật thiết. Các mối quan hệ đó là động lực, là đòn bẩy
tạo nên một giờ dạy hay. Mối quan hệ đó được thể hiện như sau:
- Mối quan hệ giữa nhà trường với giáo viên: Luôn tạo điều kiện về cơ sở
vật chất ( máy chiếu, tranh ảnh…), dự giờ thăm lớp nhận xét góp ý, rút kinh
nghiệm thường xuyên. Tổ chức nhiều các buổi chuyên đề, tập huấn về chuyên môn…
- Mối quan hệ giữa giáo viên với đồng nghiệp: Nhiệt tình giúp đỡ, tạo
25


×