Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 93 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ TƢỜNG VY

HÀNH VI SÙNG BÁI PHẬT GIÁO
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NGƢỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: HUỲNH VĂN CHẨN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Hệ thống số
liệu và kết quả nghiên cứu trong toàn bộ luận án là trung thực, khách quan và chưa
có bất kỳ một công trình nào công bố.
Tác giả luận văn
Lê Thị Tường Vy


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
-



Tiến sĩ Huỳnh Văn Chẩn đã dành sự quan tâm sâu sắc, tận tình hướng dẫn
trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và động viên tôi hoàn thành luận văn
này.

-

Xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Giáo sƣ Tiến sĩ Vũ Dũng, Phó giáo sƣ Tiến sĩ
Nguyễn Thị Mai Lan, những người Thầy, người Cô đầu tiên tôi được học tri
thức chuyên ngành ở trình độ thạc sĩ. Quý Thầy Cô đã tận tình, truyền đạt tri
thức, giúp cho tôi tiếp cận với cách tư duy mới, tạo nền tảng vững chắc cho tôi
trong quá trình học tập và suốt thời gian nghiên cứu.

-

Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý, Phòng đào
tạo – quản lý sau đại học Học viện Khoa học xã hội đã tạo những điều kiện
thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập.

-

Các bạn cùng lớp thạc sĩ khóa 2015 – 2017 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời
gian học tập và quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

-

Gia đình, ngƣời thân, bạn bè đã luôn cùng tôi chia sẻ những khó khăn và hết
lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn !
Bến Tre, ngày 23 tháng 02 năm 2017


Học viên Lê Thị Tƣờng Vy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................................10
1.1. Lý luận về hành vi ..............................................................................................10
1.2. Lý luận về hành vi sùng bái ...............................................................................17
1.3. Lý luận về hành vi sùng bái Phật giáo ...............................................................20
1.4. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông người Khmer .........24
1.5. Phật giáo trong đời sống của người Khmer .......................................................27
1.6. Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer ...31
1.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh...............................................................36
Chƣơng 2. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................40
2.1. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................40
2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................41
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HÀNH VI SÙNG
BÁI PHẬT GIÁO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NGƢỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH ....................................................................46
3.1. Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông
người Khmer tỉnh Trà Vinh ......................................................................................46
3.1.1. Thực trạng chung về hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh .....................................................................52
3.1.2. Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông
người Khmer qua các mặt biểu hiện .........................................................................57
3.2. Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học
sinh trung học phổ thông người Khmer ....................................................................62
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung

học phổ thông người Khmer .....................................................................................68
3.4. Kết quả nghiên cứu trường hợp điển hình về hành vi sùng bái Phật giáo của
học sinh trung học phổ thông người Khmer .............................................................70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................77
1. Kết luận .................................................................................................................77
2. Kiến nghị ...............................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................80


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HS:

Học sinh

THPT:

Trung học phổ thông

ĐTB:

Điểm trung bình

ĐLC:

Độ lệch chuẩn


DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung

học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh ..........................................46
Bảng 3.2: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ ...........................................47
Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ (so sánh qua biến số khu
vực) .......................................................................................................49
Bảng 3.4: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ (so sánh qua biến số giới
tính) .......................................................................................................49
Bảng 3.5: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức..........................................53
Bảng 3.6: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức (so sánh qua biến số
khu vực) ................................................................................................54
Bảng 3.7: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức (so sánh qua biến số
giới tính) ................................................................................................56
Bảng 3.8: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ ..............................................58
Bảng 3.9: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ (so sánh qua biến số giới
tính) .......................................................................................................58
Bảng 3.10: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ (so sánh qua biến số khu
vực) .......................................................................................................61
Bảng 3.11: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua hành động.........................................63
Bảng 3.12: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer qua hành động (so sánh qua biến số giới
tính......................................................... Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.13: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer qua hành động (so sánh qua biến số khu
vực) .......................................................................................................66
Bảng 3.14: Hệ số tương quan Pearson giữa các mặt biểu hiện hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer ...................69
Bảng 3.15: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer ...................70
Bảng 3.1:


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là quá trình thống nhất
và đoàn kết giữa 54 dân tộc anh em, giữa các tôn giáo bản địa và các tôn giáo du
nhập từ bên ngoài. Đặc biệt, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ giai đoạn người
Việt Cổ tại vùng kinh đô Lụy Châu – Bắc Ninh ngày nay. Ở miền Nam, Phật giáo
tiểu thừa đã được hình thành và phát triển từ thế kỷ thứ I và sau đó ảnh hưởng sâu
đậm trong cộng đồng dân tộc người Khmer Nam Bộ. Với đồng bào người Khmer,
chùa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi thực hiện những nghi lễ cầu cúng, những
lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc người Khmer. Đời sống văn hóa tinh
thần, tâm linh của dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng mạnh từ Phật giáo từ cách ăn
mặc, nếp nghĩ đến lối sống của dân tộc Khmer, từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi đều
gắn liền với nhà chùa và Phật giáo tiểu thừa
Theo phong tục tập quán, cộng đồng dân tộc Khmer sẽ cho con cháu vào
chùa tu để học đạo lý làm người, rèn luyện đạo hạnh với thời gian do từng gia đình
lựa chọn. Những người có thời gian xuất gia tại chùa càng lâu thì càng được tôn
kính.Vì thế hầu hết thanh niên dân tộc Khmer đều chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và
niềm tin vào Phật giáo tiểu thừa. Ngày nay, học sinh người Khmer đã được vào học
tại trường dân tộc nội trú nhưng sự sùng bái Phật giáo tiểu thừa trong suy nghĩ và
hành động của các em vẫn luôn tồn tại bên cạnh những tri thức khoa học hiện đại

Trà Vinh là một tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, đang trong giai đoạn phát
triển và có điều kiện về kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng tương đối thấp.Trà Vinh có
đông người dân tộc Khmer sinh sống. Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng
dân tộc người Khmer. Sau nhiều lần sáp nhập và tách khỏi tỉnh Vĩnh Long, Trà
Vinh vẫn giữ được những nét riêng về truyền thống văn hóa và sinh hoạt cộng đồng
của người dân tộc Khmer, đặc biệt là hệ thống chùa mang tính đặc thù
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý dân tộc, trong đó
có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tính cách người Khmer vùng Đồng
bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng. Tuy nhiên công trình
nghiên cứu về tính sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người
Khmer tỉnh Trà Vinh vẫn chưa có tác giả nghiên cứu. Đặc biệt là hành vi sùng bái
1


Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh vẫn chưa
có tác giả đo lường, nhằm phát huy những tính tích cực và hạn chế những tiêu cực
trong tư tưởng của học sinh Khmer.
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu về dân tộc Khmer
2.1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
V.I.Kodơlôp, G.V.Selepôp trong tác phẩm “Tính cách dân tộc và những vấn
đề nghiên cứu nó” (1973), cho rằng tính cách dân tộc không phải đơn giản là tổng
số những nét tính cách của cá nhân. Các yếu tố về giới tính, tuổi và những đặc điểm
thiên nhiên mà con người sống trong đó chi phối sự hình thành, phát triển các nét
tính cách dân tộc. Khi xác định “tính cách dân tộc” phải coi trọng tính độc đáo của
hoàn cảnh địa lí; phải tính đến những đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành
tính cách dân tộc như: địa vị xã hội, sự giáo dục đào tạo, đặc điểm thành phần tôn
giáo, đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhịp điệu của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và

khoa học... [17, tr 11]
Trường Đại học Keo (Keo University Press, 2008) – Nhật Bản cho ấn hành
cuốn “Người Khmer ở Nam Việt Nam – xã hội và văn hóa” có nhiều tác giả Việt
Nam và Nhật Bản tham gia như Ohashi Hisatoshi và Mikami Naomitsu (Chủ biên),
Phan An, Phan Thị Yến Tuyết.. Đã có những bài nghiên cứu sâu về người Khmer,
về đời sống, văn hóa tín ngưỡng, biểu hiện lối sống của người Khmer ở Nam Bộ
2.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Phan An trong bài viết “ Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt
Nam và người Khmer Campuchia” (1980) đã chỉ ra các mối quan hệ, những tương
đồng và dị biệt về tính cách của người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở
Campuchia.
Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong tác phẩm “Văn hoá tâm linh Nam Bộ”
(1977) đã nghiên cứu văn hoá tâm linh của người Khmer vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, trong đó có bàn về lòng báo hiếu của người Khmer: “Khi hỏa thiêu, mời
nhà sư chăm lửa tượng trưng. Khi đang thiêu xác, các sư sãi tiếp tục cầu kinh,

2


nguyện cho linh hồn người chết siêu thoát. Đồng thời diễn ra lễ con hoặc cháu trai
người quá cố cạo trọc đầu, mặc áo tu hành, lên chùa tu báo hiếu ”; “Ở người Khmer
lẽ sống là rất quan trọng. Lẽ sống mong được làm tăng, một trong tam bảo nhà Phật.
Sống đắp núi phước, cống hiến nhiều cho sư sãi, cho chùa để chết được mát mẻ
dưới bóng Phật là lý tưởng thiêng liêng nhất” [41, tr 162]
Viện Văn Hóa, bộ phận thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh, trong cuốn
sách “Tìm Hiểu Vốn Văn Hóa Dân Tộc Khmer Nam Bộ” (1988), đã nhìn nhận lối
sống văn hóa tâm linh người Khmer bị chi phối bởi thế giới quan Phật giáo “Người
Khmer với tư duy phong phú, đa dạng, xuất phát từ thực tế lao động trên cảnh quan
đồng bằng và từ thế giới quan Phật giáo tiểu thừa, đã hình thành trong dân gian
những truyền thuyết, truyện cổ tích sử liệu (Sastra) nhằm ca ngợi mối tình đoàn kết

Kinh – Khmer”. [41, tr 66].Các tác giả cũng cho thấy chính Phật giáo tiểu thừa đã
ảnh hưởng đến tính cách của người Khmer trong lối sống hằng ngày: “Một cách sâu
sắc. Đạo phật tiểu thừa ở đây đã dân tộc hóa và trở thành một đặc điểm của tính
cách Khmer khác xa với đạo phật chính thống ở Ấn Độ. Đạo phật đã chi phối đời
sống của người Khmer một cách trầm trọng. Ngôi chùa Phật giáo tiểu thừa của
người Khmer, ngoài chức năng tôn giáo, còn gồm cả chức năng giáo dục, chức năng
giao lưu văn hóa, phong tục mà đồng bào Khmer đã “ký gởi” cả tâm hồn, tài sản và
cả công sức của mình vào đó”. [41, tr 72]
Bên cạnh đó các tác giả còn phân tích rõ sự sùng kính Phật giáo thông qua
các lễ hội, thể hiện một tinh thần Phật giáo của người dân Khmer: “Ngày lễ tín đồ đi
chùa lạy Phật để tỏ lòng kính Phật, trọng tăng, góp phần nuôi sống tăng bằng cách
mang cơm và thức ăn đến chung đậu để mời sư sãi. Trước khi ăn các sư sãi tụng
kinh làm lễ tạ ơn những người đã làm ra vật thực và cũng để đưa vật thực đến
những linh hồn thiếu đói, sau khi ăn, các nhà sư lại tụng chúc phúc cho thí chủ”.
[41, tr 105]
Tác giả Huỳnh Văn Chẩn (2014), trong luận án “Tính cách người Khmer
vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đã chỉ ra những đặc điểm tính cách nổi bật của
dân tộc Khmer là tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng đồng. Các đặc
điểm tính cách hòa quyện vào nhau, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau. Về tính báo
hiếu, “ Người Khmer nhận thức khá rõ về giá trị của lòng hiếu nghĩa đối với ông bà

3


cha mẹ”. Về tính tôn sùng Phật giáo, “Họ xem Phật giáo là chính giáo, luôn tin
tưởng tuyệt đối vào Phật giáo và luôn kỳ vọng sống bên Phật, chết về với Phật”. Về
tính cộng đồng được thể hiện qua sự đồng lòng cùng nhau vượt qua thiên tai và khí
hậu khắc nghiệt. Ngoài ra tác giả cũng đã chỉ ra “hai yếu tố ảnh hưởng đến tính
cách của người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đó là: dư luận xã hội và
cách thức tổ chức hoạt động của cộng đồng, trong đó, dư luận xã hội có tác động

mạnh hơn”[4]
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong nghiên cứu “Tính cách của học sinh
Trung học Phổ thông dân tôc nội trú Khmer tỉnh Trà Vinh” đã phân tích về tính
cách của học sinh trung học Phổ thông dân tộc Khmer có “niềm tin đối với tín
ngưỡng Phật giáo cao, rất coi trọng giá trị thiêng liêng của ngôi chùa, sự kính trọng
và tin tưởng các vị sư, thường xuyên đi chùa, lễ Phật và tin vào phần phước của mỗi
người [44]
2.2. Tình hình nghiên cứu về hành vi
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã có công trình “Hành vi và hoạt
động”, khẳng định phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách, định hướng cho
nghiên cứu tâm lý học lý luận và ứng dụng ở Việt Nam. Những vấn đề lý luận về
hành vi của mỗi trường phái tâm lý học còn nhiều điều khác nhau tùy thuộc vào
cách tiếp cận, do đó việc định hướng nghiên cứu từng loại hành vi cụ thể của con
người có sự khác nhau, hệ thống cách thức điều khiển, thích ứng hành vi cũng sẽ
khác nhau
Trong lĩnh vực tâm lý học ứng dụng, các hành vi được xem xét là những biểu
hiện bên ngoài chịu sự tác động từ những động cơ bên trong với những công trình
nghiên cứu về hành vi tổ chức, hành vi tiêu dùng, hành vi khách hàng, hành vi tài
chính, hành vi tội phạm, hành vi tình dục. Đặc biệt gần đây các tác giả Việt Nam đã
có nhiều quan tâm đến hành vi tiêu dùng và hành vi khách hàng
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga đã viết trong quyển “Hành vi con người và
môi trường xã hội”, tác giả chú trọng những nội dung về hành vi của con người chịu
sự tác động của môi trường:
- Hành vi ngôn ngữ ( hành vi giao tiếp) bao gồm:

4


+ Hành vi tạo lời: là sự lựa chọn từ ngữ, cấu trúc và phát âm theo một cách

nhất định.
+ Hành vi tại lời: là hành động được thực hiện ngay trong lời nói bằng việc
sử dụng ngôn ngữ . Thường có các động từ ngữ vị tương ứng để gọi tên. Ví dụ: hỏi,
mời, chào, khuyên, ra lệnh, khẳng định.
+ Hành vi mượn lời: tác động xa hơn đến tâm lý, hành vi, thái độ tình cảm
nảy sinh của người nói đến người nghe (ý tại ngôn ngoại).
-Hành vi phi ngôn ngữ: là biểu hiện qua cử chỉ, nụ cười, ánh mắt
- Hành vi bản năng: là hành vi bẩm sinh, di truyền, cơ sở sinh lý của loại
hành vi này là phản xạ không điều kiện. Hành vi bản năng nhằm thỏa mãn các nhu
cầu sinh lý của cơ thể. Loại hành vi này có cả động vật và người. Việc loài chim
làm tổ, mớm mồi cho con…là hành vi bản năng sinh tồn.
- Hành vi tình dục: Cơ sở sinh học của hành vi tình dục chính là sự hoạt
động của hooc - môn và các dạng thức bẩm sinh khác.
+ Hành vi tình dục sinh học ở nam giới : Khi nam giới trưởng thành về khả
năng tình dục, thì tuyến yên nằm ở não kích thích tinh hoàn (testes) tiết androgen (
hooc-môn nam) vào trong máu. Các androgen này làm tăng và thôi thúc tình dục
nam giới
+ Hành vi tình dục sinh học ở nữ giới: Hành vi tình dục nữ giới có một số cơ
sở sinh học phức tạp hơn. Khi phụ nữ trưởng thành về sinh dục, thì tuyến yên kích
thích buồng trứng (Ovaries) để tiết ra estrogen (hooc-môn nữ). Tuy nhiên không
giống như androgen ở nam, tốc độ tiết ra estrogen tăng và giảm theo chu kỳ. Mức
estrogen cao nhất là trong giai đoạn trứng rụng (Ovolation), đó là thời gian trứng
sẵn sàng thụ tinh.
- Hành vi thủ dâm: Một trải nghiệm đầu tiên và phổ biến nhất đối với hầu hết
mọi người thủ dâm.
- Hành vi tình dục khác giới: Mấy thập kỷ gần đây đã có nhiều thay đổi về
thái độ của xã hội với hành vi tình dục trước hôn nhân, cũng như việc có nhiều biện
pháp tránh thai được đưa ra. Những thay đổi về thái độ và công nghệ này đã dẫn
đến những thay đổi ở thực tế tình dục. Trong một nghiên cứu, một nhà nghiên cứu
đã phỏng vấn những người có gia đình và phát hiện ra rằng, trong số đó có tới 95%


5


nam và 81% nữ tuổi dưới 25 đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân
- Hành vi tình dục đồng giới: Các nguyên nhân của hành vi này cho đến nay
vẫn còn bàn cãi. Trong một số trường hợp cụ thể, có thể là do một sự thiếu cân bằng
về hooc-môn gây ra tuy nhiên, cũng có thể là sự căng thẳng và lo lắng về đời sống
tình dục đồng giới là nguyên nhân gây ra sự sụt giảm hóc-môn đó không có sự
khác biệt đáng kể nào ở mức hóc-môn giữa những người quan hệ tình dục đồng giới
với những người quan hệ tình dục khác giới.
- Hành vi cưỡng dâm: Hành vi cưỡng dâm là một thuật ngữ được sử dụng để
mô tả sự quan hệ tình dục cưỡng bức, nhưng các thuật ngữ gần đây đã chỉ rõ hơn về
hành vi này, chẳng hạn như “tấn công tình dục” và “cưỡng đoạt tình dục” được sử
dụng để nhấn mạnh bản chất tội ác của hành vi này.
Ngoài ra trong tâm lý học dân số đề cập đến một loại hành vi đặc biệt đó là
hành vi sinh đẻ. Bản chất xã hội của vấn đề sinh đẻ là một trong những vấn đề của
sự ước chế xã hội đối với hành vi. Ý nghĩa chế ước đối với vấn đề sinh đẻ là ở chỗ:
sự tái sản xuất dân số được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định. Chủ thể và
khách thể của hành vi sinh đẻ là con người một thực thể có ý thức, ý chí và những
đặc điểm tâm lý nhất định, sống trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Việc nghiên cứu về hành vi của con người đã được thực hiện trên nhiều lĩnh
vực khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu về hành vi sùng bái Phật giáo vẫn chưa
được tiến hành nghiên cứu trong nước.[25, tr 13]
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hành vi con người đã được một số nhà tâm lý học đề cập đến trong nhiều
lĩnh vực khác nhau của tâm lý học. Kurt Lewin (1943), người sáng lập ra môn tâm
lý học xã hội đã phát triển lý thuyết này, ông thừa nhận rằng con người bị ảnh
hưởng bởi môi trường tâm lý của họ. Môi trường tâm lý này bao gồm cả những ảnh
hưởng của môi trường vật lý và môi trường xã hội gây áp lực đối với hành vi của

con người. Henry Murray (1938), một trong những nhà tâm lý học nhân cách đã lập
luận, hai khía cạnh của môi trường ảnh hưởng tới hành vi của con người là: Các đặc
điểm vật lý thực tế của môi trường và sự diễn dịch của cá nhân về môi trường.
Ngoài ra, Egon Brunswick (1943), ông quan tâm đến việc làm thế nào để nhận thức
được môi trường, ông cho rằng, chúng ta thường không nhận thấy ảnh hưởng của

6


môi trường đến nhận thức của chúng ta.
Roger Barker và Herbert Wright (1955) cho rằng, hành vi của chúng ta bị tác
động bởi hoàn cảnh xuất hiện hành vi đó. Hành vi của chúng ta phải bao hàm cả
những khía cạnh xã hội và vật lý. Ví dụ, một người sẽ có hành vi khác khi ở trong
phòng thi so với ở một buổi liên hoan, bởi vì các bối cảnh này khác nhau về khía
cạnh tâm lý, vật lý cũng như xã hội.[25, tr 48-49]
Tuy đã có nhiều nghiên cứu về hành vi nhưng nghiên cứu về hành vi sùng
bái hiện nay rất ít. Tiến sĩ Triết học John Maltby đã tiến hành nghiên cứu thái độ và
hành vi sùng bái người nổi tiếng bằng thuyết của ông Eysenckian, đây được xem là
một hành vi lệch chuẩn trong mối quan hệ xã hội, có chứa đựng các yếu tố gây
nghiện và có khả năng có di chứng lâm sàng. Theo thuyết này, tác giả đưa ra được
những thái độ và hành vi ngày càng cực đoan liên quan đến hành vi sùng bái người
nổi tiếng. Tác giả đưa ra lý do của hành vi sùng bái người nổi tiếng: vì mục đích
giải trí, thể hiện được những đặc điểm hướng ngoại của người sùng bái. Tuy nhiên,
theo kết quả điều tra thì hiện tượng sùng bái không được phổ biến. Sau khi tiến
hành kiểm định mức độ tương quan thì cho thấy rằng nhân cách có thể thúc đẩy
hoặc cản trở sự phát triển của các hành vi sùng bái.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lí luận và thực trạng hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh, trên cơ sở
đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp học sinh trung học phổ thông người Khmer

tỉnh Trà Vinh có hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp, tích cực.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận nghiên cứu hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh
Trung học Phổ thông người Khmer và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này của
học sinh phổ thông người Khmer.
- Khảo sát và phân tích thực trạng mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật
giáo của học sinh phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh và các yếu tố ảnh hưởng
tới thực trạng này.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp học sinh trung học phổ thông người
Khmer tỉnh Trà Vinh có hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp, tích cực.

7


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ
thông người Khmer.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo
của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tại 02 trường Trung học Phổ thông
dân tộc người Khmer tỉnh Trà Vinh.
Khách thể điều tra: 119 học sinh ở trường trung học phổ thông dân tộc nội
trú tỉnh Trà Vinh; 100 học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở
Trung học phổ thông huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
5.2.Phƣơng pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi

5.2.3. Phương pháp quan sát
5.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
5.2.5. Phương pháp chuyên gia
5.2.6. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
5.2.7. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết nghiên
cứu hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer.
Trong đó gồm có: các khái niệm (hành vi, Phật giáo, hành vi sùng bái Phật giáo);
các biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người
Khmer qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động; Chỉ ra các yếu tố
ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo ở học sinh được nghiên cứu. Kết quả
nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về hành vi
sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer vào tâm lý học
tôn giáo, tâm lý học dân tộc ở nước ta hiện nay.

8


6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã chỉ ra được thực trạng mức độ biểu hiện
hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà
Vinh qua các khía cạnh động cơ, nhận thức, thái độ, hành động. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, hành vi này ở các em đạt mức độ trung bình. Trong 3 mặt biểu hiện thì
mặt nhận thức được biểu hiện rõ nét hơn mặt thái độ và hành động. Luận văn cũng
đã chỉ ra được các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh
trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh. Kết quả nghiên cứu này là tài liệu
tham khảo bổ ích cho giáo viên, học sinh THPT và người Khmer trong việc điều
chỉnh các hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp với văn hoá truyền thống, chuẩn mực
xã hội hiện tại.
7. Cơ cấu của luận văn


Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận văn gồm 3
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer
Chƣơng 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh

9


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SÙNG BÁI PHẬT GIÁO CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGƢỜI KHMER
1.1. Lý luận về hành vi
1.1.1. Khái niệm về hành vi
1.1.1.1. Hành vi theo quan điểm của nhà tâm lý học hành vi
Việc ra đời của tâm lý học hành vi là một trong những bước tiến rất lớn của
ngành tâm lý học trên thế giới vào khoảng thế kỉ XX. Thông qua tiếp cận hành vi đã
phần nào khắc phục được tính chủ quan trong nghiên cứu tâm lý nội quan ở giai
đoạn đó. Tâm lý học hành vi ra đời là một cuộc cách mạng làm thay đổi hệ thống
quan niệm về tâm lý học. Theo đó, đối tượng của tâm lý học là hành vi chứ không
phải ý thức.
Thuyết hành vi cổ điển
Một trong những nhà tâm lý học hành vi kiệt xuất là J.B.J.Watson, E.Boring
đã từng nói “Khi J.Watson quẹt sáng đầu diêm, một tiếng nổ bùng ra và thuyết hành
vi xuất hiện”. Những luận điểm của ông là nền tảng lý luận của hệ thống tâm lý học
này. Ông cho rằng Tâm lý học là dự báo và điều khiển hành vi, nghiên cứu các kích
thích tạo ra phản ứng của cả người và động vật chứ không phải đi tìm ra sự khác

nhau giữa chúng. Hành vi của con người là tất cả các lời nói và cử chỉ diễn ra trong
suốt cuộc đời của họ, được hình thành trong quá trình trải nghiệm cuộc sống hoặc là
bẩm sinh từ lúc sinh ra đã có và thực hiện cho đến lúc chết đi. Ông qui hành vi về
cặp đôi “Kích thích – Phản ứng” ( S - R), khi có một kích thích S thì sẽ đem đến
một phản ứng R, từ đó nếu có một phản ứng R thì sẽ dễ dàng xác định được kích
thích R. Watson phân loại phản ứng – hành vi dựa trên hai tiêu chí: phản ứng ra bên
ngoài và phản ứng tiềm ẩn bên trong.
-

Phản ứng bên ngoài có thể quan sát được như chơi đùa, ăn uống. Ngoài ra,

phản ứng bên ngoài nhìn thấy và di truyền là những bản năng và cảm xúc của con
người, như vui, buồn, sợ hãi, la khóc

10


-

Phản ứng tiềm ẩn bên trong trải qua sự học hỏi như là suy nghĩ giải quyết các

tình huống có vấn đề. Phản ứng tiềm ẩn bên trong và di truyền như sự tiết dịch hay
các xung động thần kinh ở các cơ quan bên trong cơ thể.
Từ học thuyết hành vi của Watson, thông qua việc phân tích tập hợp các cặp
đôi “Kích thích – Phản ứng” và chia chúng thành các yếu tố cấu thành, có thể tìm ra
những quy luật nhất định của hành vi. [26, tr 171]
Thuyết hành vi mới
Thuyết hành vi mới là các lý thuyết khắc phục các nguyên tắc máy móc của
thuyết hành vi cổ điển “Kích thích – phản ứng”. Trong số các thuyết hành vi mới có
sự ảnh hưởng là thuyết hành vi nhận thức của E.C.Tolman và thuyết hành vi diễn

dịch giả thuyết của K.Hull.
E.C.Tolman (1886-1959) là một trong những người đầu tiên kế tục Thuyết
hành vi J.Watson. Khi bắt đầu nghiên cứu Tâm lý học, ông nghi ngờ lợi ích khoa
học của phương pháp nội quan, ông cảm thấy không thỏa mãn với Thuyết hành vi
J.Watson và bắt đầu soạn thảo cách tiếp cận riêng của mình. Theo ông, hành vi là
động tác trọn vẹn có một loạt các thuộc tính: tính hướng tới mục đích, tính dễ hiểu,
tính linh hoạt, tính so sánh. E.C.Tolman gọi Thuyết hành vi của mình là “Thuyết
hành vi phân tử lượng”. Thuật ngữ này được chọn nhằm đối lập quan điểm về hành
vi như là một quá trình mang tính chỉnh thế đối với thuyết hành vi phân tử, lý giải
hành vi như là tập hợp các hành động vận động tách rời nhau. Như vậy, đối với
E.C.Tolman hành vi là tổng thể các phản ứng, mà trong đó không tách khỏi các
phản ứng riêng lẻ. Hành vi tổng thể này liên quan trực tiếp đến các biến số trung
gian. Vậy nên, hành vi không chỉ đơn giản là các phản ứng sinh học, bản năng di
truyền của cơ thể mà còn là sự trải nghiệm cùng với các yếu tố vật lý, sinh học và
toàn bộ các yếu tố tâm lý của bản thân. Ông cho rằng, mọi hành vi đều “Bốc mùi
mục đích”, có nghĩa là khi hành vi được thực hiện, sẽ luôn mang lại cho khách thể
một lợi ích. Công thức của thuyết hành vi mới của E.C.Tolman là S – O – R hay S –
r – s – R. [2 , tr. 106].
K. Hull ( 1884 – 1952) đưa ra các phương pháp diễn dịch – toán học vào tâm

11


lý học hành vi, hệ thống của Hull là hệ thống bao gồm một loạt định đề và hệ quả.
Cũng như Tolman, Hull cũng đưa vào các yếu tố trung gian trong sơ đồ S-R truyền
thống, ông dùng thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản
xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh
nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ thể, nằm trong hành
vi.
Hệ thống của Hull bao gồm những luận điểm cơ bản sau:

- Hệ thống vẫn giữ nguyên truyền thống của thuyết hành vi cổ điển, nó gạt
bỏ thuyết sức sống, thuyết mục đích luận và tất cả các loại lý giải tự biên.
- Đối tượng vẫn là hành vi, các hiện tượng lớn của hành vi được hiểu là hành
vi của một nhóm tế bào thần kinh cơ hay mấu thần kinh, còn kết quả của tính tích
cực chung thì nảy sinh khi trả lời các kích thích lớn tác động vào. Từ đây xuất hiện
công thức S-O-R (O là cơ thể). Trong hệ thống của ông, kỹ xảo là yếu tố trung gian
giữa kích thích và phản ứng. Kỹ xảo là những tồn tại như là những điều kiện không
nhìn thấy trong hệ thống thần kinh tựa như các điện tử, proton… trong thế giới vật
lý. Vì không nhìn thấy nên các biến số ấy được coi là các kiến tạo logic tương ứng
với các thao tác do cơ thể tạo ra trong các điều kiện. Kỹ xảo làm nhẹ gánh cho tư
duy, tức là đưa việc giải thích hành vi ra khỏi các kích thích bên ngoài. Theo ông,
hệ thần kinh có vai trò quyết định trong đời sống cơ thể, nó giữ cho cơ thể thống
nhất giữa mối liên hệ qua lại với môi trường.
Nhưng thuyết của Hull cũng có nhiều điều cần phải nói, trước nhất con
người trong thuyết của Hull đã bị sinh vật hóa hoàn toàn; ta không thể xác định mối
liên hệ một chiều thật rành mạch giữa tác động bên ngoài và phản ứng bên trong cơ
thể.Tác động bên ngoài chỉ được thực hiện thông qua các điều kiện bên trong.
Trong học thuyết của Hull, con người hoàn toàn không có chỗ đứng, hành vi con
người chỉ là hành vi xã hội, tức là chức năng của một cơ chế tự vệ hay “một máy
liên hợp vật lý”. [28, tr 120]
Tâm lý học hành vi ra đời là một trong những sự cố gắng lớn của ngành tâm lý
học trên thế giới. Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi của con người chứ không

12


phải ý thức. Do đó, các học thuyết về hành vi dường như chối bỏ ý thức bên trong con
người. Quan niệm một cách máy móc về hành vi của con người, đó là có kích thích thì
sẽ nảy sinh phản ứng. Watson cho rằng sự khác biệt giữa con người và động vật chỉ là
các giai đoạn phát triển của cơ thể, đến Skinner thì hành vi cũng chỉ là các cử động bên

ngoài, không liên quan đến ý thức bên trong. Nếu chỉ xem xét ở khía cạnh tâm lý học
hành vi thì con người là vô thức, hoạt động như máy móc.
1.1.1.2. Hành vi theo quan điểm Tâm lý học Macxit
Các ý định tìm hiểu một cách khoa học bản chất của hành vi đã xuất hiện từ
rất lâu, nhưng chỉ với sự ra đời thuyết phản xạ của Paplov và thuyết hành vi mới đạt
được những thành tựu đáng kể. Tâm lí học Macxit, nghiên cứu tâm lí con người trên
cơ sở nghiên cứu hành vi hoạt động của con người tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm
sinh nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống
tín hiệu ý nghĩa khác. Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và
giao tiếp. Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của các mối quan
hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng
giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm.
Sau khi tìm hiểu bản chất của hành vi, các nhà tâm lí học đi sâu vào việc tìm
hiểu nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người. Trong lịch sử phát triển,
Tâm lí học đã chứng kiến hai cách lí giải hoàn toàn khác nhau. Thứ nhất là cách giải
thích của trường phái xem hoàn cảnh xã hội là cái quyết định hành vi con người,
đây là xu hướng nghiên cứu Tâm lí học xã hội. Trường phái thứ hai cho rằng, hành
vi con người do chủ thể hành vi, tức yếu tố con người với những đặc điểm nhân
cách nhất định quyết định. Nhưng cả hai trường phái trên chỉ lí giải hành vi con
người phiến diện. Từ đó nảy sinh một cách nhìn khác về vấn đề tìm hiểu nguyên
nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người, đó là những quan điểm của các
thuyết tương tác cổ điển. Luận điểm cơ bản của các lí thuyết này cho rằng, hành vi
con người ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa yếu tố con người và yếu tố hoàn cảnh.
Quan điểm Triết học Mác - Lênin cho rằng, mối quan hệ giữa con người và
hoàn cảnh là mối quan hệ biện chứng, trong đó như Mác đã nhận định: trong chừng

13


mực con người tác động lên hoàn cảnh bao nhiêu thì nó cũng chịu tác động lại của

hoàn cảnh bấy nhiêu. Như vậy mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối
quan hệ tương tác tương hỗ, mà ở đó con người vừa là chủ thể tác động vừa chịu tác
động của hoàn cảnh, môi trường sống. Nhưng con người không phải thích nghi một
cách thụ động mà là một chủ thể tích cực của hành động, tác động có ý thức nhằm
cải tạo hoàn cảnh xung quanh và điều chỉnh chính bản thân mình trong cuộc sống.
Hoàn cảnh là yếu tố tạo nên hành vi con người.
Từ năm 1926, L.X. Vygotskij đã xác định ý đồ chung trong việc cải tổ Tâm
lí học trên cơ sở chủ nghĩa Mác là xây dựng “một khoa học về hành vi của con
người xã hội” chứ không phải “hành vi của cơ thể con người”. Theo L.X. Vygotskij,
Tâm lí học phải nghiên cứu cả hành vi người với tư cách là "cái con người làm ra”
và ý thức người; ý thức người cũng là một cái thực tại như hành vi. Ông đã dành vị
trí trung tâm trong bài báo cương lĩnh của mình nhằm khẳng định Tâm lí học với tư
cách là một khoa học cụ thể phải hướng vào nghiên cứu ý thức và hành vi của con
người như một tồn tại lịch sử, xã hội, lao động, có ý thức, chứ không phải là “cái túi
đựng đầy đủ phản xạ”. Ông nhấn mạnh, chỉ có thể giải quyết vấn đề ý thức là hiện
tượng, chỉ có con người mới có trong sự phân tích các dạng hành vi phân biệt hành
vi người và hành vi động vật. Trong đó, hoạt động lao động là dạng chủ đạo trong
các dạng hành vi người. [28, tr. 6]
1.1.1.3. Khái niệm về hành vi của các nhà tâm lý học Việt Nam
Theo Nguyễn Như Ý: Hành vi là cách ứng xử được biểu hiện bằng cử chỉ,
hành động cụ thể [46, tr 316]. Theo định nghĩa này hành vi là cách mà con người
đáp ứng những tác động từ bên ngoài.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Hành vi là toàn bộ nói
chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một
hoàn cảnh cụ thể nhất định [31, tr 407]
Theo từ điển Tâm lý học Mỹ: Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt
động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất
cứ cá nhân nào.

14



Về mặt sinh học, thì hành vi là phản ứng phối hợp trong nội bộ ( hành động
hoặc không hành động) của các sinh vật sống ( cá nhân hoặc nhóm) đối với các kích
thích bên trong hoặc bên ngoài. Hành vi có thể bẩm sinh hay học được.
Theo A.N.Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của
một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động.
Theo J.Piaget nhà Tâm lý học người Thụy Sỹ lại nhấn mạnh tính tích cực của
hành vi con người và cho rằng hành vi – đó còn là sự tìm kiếm những hoàn cảnh
hay đối tượng còn thiếu hoặc chưa tồn tại...hành vi được hiểu là tính tích cực có
định hướng
Từ những quan điểm và định nghĩa về hành vi của các nhà Tâm lý học, theo
tôi: Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên
ngoài qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của mỗi cá
nhân, chịu sự tác động và chi phối của quá trình trải nghiệm, nền văn hóa và
học tập trong cuộc sống thường ngày.
1.1.2. Phân loại hành vi
Trong Tâm lý học có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau
1.1.2.1. Xét theo khía cạnh giá trị
- Hành vi tiêu cực: hành vi tiêu cực của chủ thể xuất hiện trong các hành động
đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội khác. Hành vi tiêu cực
có thể là do nhu cầu của chủ thể muốn đảm bảo nhu cầu và quyền lợi của bản thân,
muốn tự khẳng định bản thân và “cái tôi” của chủ thể. Hành vi tiêu cực còn do sự
ích kỉ, thờ ơ với quyền lợi, lợi ích và nhu cầu của người khác hoặc nhóm xã hội
khác. Hành vi tiêu cực xuất hiện nhằm mục đích chống lại, phản ứng không đồng ý
với nhu cầu, mong đợi hay đòi hỏi của các thành viên khác. Tuy nhiên hành vi tiêu
cực cũng xuất hiện do sự từ chối tiếp nhận từ các cá nhân hoặc nhóm xã hội khác
đối với chủ thể.
- Hành vi tích cực: chủ thể luôn có sự nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực khi
thực hiện các hành vi nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của bản thân, bên cạnh

đó vẫn đáp ứng được sự mong đợi của người khác. Chủ thể có hành vi tích cự luôn

15


trong tư thế sẵn sàng và có ý chí thực hiện.
1.1.2.2. Xét theo tính chất của hành vi
- Hành vi bộc lộ: là hành vi ứng xử bộc lộ mà có thể quan sát được, thông qua
lời nói, cử chỉ, hành động, dáng điệu hoặc cũng có thể bằng các động tác, biểu
tượng.
- Hành vi ngầm ẩn: là hành vi ứng xử không bộc lộ ngầm chứa ở bên trong mà
ta không thấy được những vẫn chứa đựng các thông điệp cần thiết, chỉ có chủ thể
hoặc đối tác với chủ thể có thể hiểu được.
1.1.2.3. Xét theo phạm vi tác động của hành vi
- Hành vi hướng vào chính mình: là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên
chính chủ thể
- Hành vi hướng đến người khác: là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên
người khác, qua đó tác động trở lại với chính chủ thể.
- Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: là những hành vi tác động và gây ảnh
hưởng trực tiếp lên sự vật, hiện tượng và những hành vi tác động này sẽ ảnh hưởng
đến chính chủ thể gây ra hành vi.
1.1.2.4. Xét theo chuẩn mực hành vi
- Hành vi hợp chuẩn: là hành vi phù hợp với chuẩn mực của một nhóm, một
cộng đồng xã hội; những hành vi mà mọi người mong đợi từ một thành viên nào đó
- Hành vi lệch chuẩn: là những hành vi không đáp ứng được sự mong đợi của
một nhóm người nào đó, nó lệch với chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng.
1.1.2.5. Xét theo hành vi xã hội
Hành vi mang tính xã hội là những hành vi xảy ra khi có mặt người khác
trong giao tiếp xã hội, những hành vi được hình thành trong xã hội và những hành
vi của nhóm, cộng đồng.

Sống trong xã hội, con người phải suy nghĩ và hành động không chỉ vì bản
thân mà còn vì người khác. Hành vi mang tính xã hội của con người còn bao gồm
cả những hành vi của đám đông, của nhóm, của cộng đồng nào đó.
Tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh thì có mỗi cách phân loại hành vi khác

16


nhau. Trong đề tài này, chúng tôi phân loại hành vi theo hành vi mang tính xã hội,
hành vi mang tính xã hội thể hiện thông qua mối quan hệ với nhau, hình thành nên
những hành vi mang tính cộng đồng.
1.2. Lý luận về hành vi sùng bái
1.2.1. Khái niệm về hành vi sùng bái
1.2.1.1. Sùng bái
Sùng bái là một thuật ngữ thường được dùng trong xã hội khi muốn nói về
một người nào đó dành sự kính trọng, nể nang cho người khác. Trong cuộc sống
thường ngày, hiện tượng sùng bái diễn ra rất phổ biến, như sùng bái người đứng
đầu, sùng bái nhân vật lịch sử. Hay trong phạm vi hẹp thì có thể sùng bái người
đứng đầu một nhóm tập thể hoặc trong một tổ chức có tài năng và uy tín với mọi
người. [35, tr 207]
Trong tôn giáo, sùng bái thể hiện sự tuyệt đối hóa, tin tưởng vào thế lực siêu
nhiên, sự uy quyền và khả năng che chở bảo bọc cho các tín đồ tôn giáo. Sùng bái
bao gồm các nghi lễ tôn giáo. Nghi lễ này là sự sao chép các hành vi tập thể tượng
trưng cho những tư tưởng, chuẩn mực, biểu tượng nhất định. Sùng bái trong tôn
giáo thể hiện niềm tin tuyệt đối vào thế lực siêu nhiên, tin vào sự tồn tại hiện hữu
của thế lực này. Bên cạnh đó, còn tin rằng các lực lượng này có tác động đến số
phận của con người trong cuộc sống hiện tại. Vì thế, các tín đồ luôn thực hiện các
nghi lễ một cách trang trọng và thành tâm khấn nguyện.
Sùng bái có một vị trí quan trọng trong tôn giáo, thông qua các nghi lễ mà
con người có thể tiếp cận và hòa nhập vào cộng đồng tôn giáo. Đối với cộng đồng,

các hành vi sùng bái là phương tiện quan trọng để các tổ chức tôn giáo tiếp nhận
linh hồn của các tín đồ.
Sự tác động của sùng bái tôn giáo đến tâm lý của tín đồ thông qua hình thức
khuôn đúc. Khuôn đúc ở đây được hiểu là những hành vi, nhận thức, ứng xử của
các khách thể tôn giáo theo những quan điểm nhất định. Sự lặp đi lặp lại các nghi lễ
trong một thời gian nhất định đã tạo thành những phong tục, truyền thống.Giúp cho
thói quen thực hiện các nghi lễ của tín đồ được củng cố và bền vững. Những thay

17


đổi trong hệ thống sùng bái được xem như là hành vi tà đạo, phản đạo.
1.2.1.2. Khái niệm hành vi sùng bái
Theo Từ điển Tiếng Việt, sùng là sự kính trọng và tin tưởng. Sùng bái là kính
phúc đến mức như tôn thờ. Sùng đạo là có lòng tin tuyệt đối với một tôn giáo nào đó.
Từ định nghĩa trên, theo tôi: Hành vi sùng bái là toàn bộ phản ứng, cách
ứng xử thể hiện sự kính trọng và tin tưởng được biểu hiện ra bên ngoài qua các
khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của mỗi cá nhân, chịu sự tác
động và chi phối của quá trình trải nghiệm, nền văn hóa và học tập trong cuộc
sống thường ngày.
1.2.2. Biểu hiện của hành vi sùng bái
Việc các tín đồ thực hiện một cách lặp đi lặp lại những nghi thức đã trở thành
những biểu hiện cụ thể của hành vi sùng bái trong tôn giáo
- Cúng tế: tôn giáo ngày càng phát triển thì bên cạnh đó việc cúng tế cũng
được chú trọng và ngày càng phức tạp, phong phú hơn. Tất cả những nghi thức, lời
khấn vái, cầu nguyện, cách hành lễ thậm chí còn được ghi chép lại cẩn thận. Chẳng
hạn như, đạo Phật có ghi chép rất rõ ràng và qui định chặt chẽ về nghi thức cúng tế
như lời khấn vái, cách thắp hương, quì gối, động tác vái và trong những nghi lễ
khác nhau thì các nghi thức này cũng thay đổi.
Đối với người Phật giáo, việc tìm kiếm sự giác ngộ nói cho đúng không phải

là một sự thờ cúng; nhưng hành hương, lần tràng hạt, định tâm, dâng hoa và hương,
chắp tay vái và tụng niệm là những yếu tố cơ sở của mặt tôn giáo của Phật giáo
Trong Ấn Độ giáo, đẳng cấp Bà - la - môn bảo đảm việc thờ cúng ở các đền
lớn; gồm xức dầu thánh, rước xách, uống rượu có bơ lọc sạch, mặc áo cho các thần
tượng, đôi khi cả hiến sinh nữa. Nhưng chủ yếu là thờ cúng gia đình bằng tắm gội,
cầu nguyện và lễ vật hằng ngày
- Ma thuật: trong cuộc sống nguyên thủy, ma thuật được xem là phương pháp
chính để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện thực. Có hai dạng ma thuật:
ma thuật yểm bùa và ma thuật chữa bệnh
Ma thuật yểm bùa được hình thành dựa trên cơ sở xung đột của các bộ lạc

18


trong thời kì nguyên thủy. Các bộ lạc luôn nghi ngờ có sự yểm bùa lẫn nhau, dẫn
đến xung đột. Theo E. Crauli cơ sở của niềm tin vào ma thuật đó là sự sợ hãi trước
kẻ thù.
Ma thuật chữa bệnh có cơ sở niềm tin là nguyên nhân gây bệnh cho con
người là do một vật nào đó nhập vào cơ thể con người và gây bệnh. Hình thức ma
thuật chữa bệnh khá phổ biến ở xã hội nguyên thủy, thậm chí hiện nay, một số dân
tộc có trình độ phát triển thấp kém vẫn còn tồn tại hình thức chữa bệnh bằng ma
thuật. Sự kết hợp các bài thuốc chữa bệnh dân gian cùng với những nghi lễ phù
phép huyền bí đã làm con người tin rằng nhờ có ma thuật mà đã đuổi được con bệnh
ra khỏi cơ thể con người
Ma thuật giúp con người giải quyết được những vấn đề trong cuộc sống hiện
thực thể hiện qua niềm tin kết hợp với những sự mong muốn của con người.
- Hiện tượng phù thủy: đã xuất hiện từ lúc tôn giáo sơ khai. Chức năng cơ
bản nhất của phù thủy là chữa bệnh, bên cạnh đó còn là người bói toán, giải mộng,
cầu mưa, giải hạn. Người ta cho rằng khi phù thủy thực hiện nghi lễ là lúc phù thủy
đang gặp các vị thần thánh. Các vị phù thủy này kết hợp các phương pháp và bài

thuốc chữa trị dân gian cùng với nghi lễ cầu khấn để chữa bệnh cho con người. Một
số nhà nghiên cứu cho rằng, phù thủy là những người bị mắc bệnh tâm thần, loạn
thần kinh, tuy nhiên V. N. Baxilop thì lại cho rằng phù thủy là kết quả của sự tự kỷ
ám thị. Trạng thái hưng phấn tột độ của phù thủy thể hiện sự nỗ lực ý chí có chủ
định.
- Cầu nguyện: là một hình thức xuất hiện sau của cúng tế và ma thuật. Cầu
nguyện được hình thành dựa trên cơ sở của cúng tế và ma thuật nói. Ban đầu, trong
nghi lễ cúng tế có những lời khấn vái, đọc thần chú, sau dần tách riêng ra khỏi cúng
tế và trở thành thành tố quan trọng nhất trong sùng bái tôn giáo. Người ta cầu
nguyện khi có mong muốn một điều gì đó cho cuộc sống thực tại, đặc biệt là những
lúc gặp khó khăn hay đau buồn, tủi nhục. Do đó, việc cầu nguyện dựa trên những
nhu cầu của con người, tùy vào những hoàn cảnh và tình huống khác nhau thì con
người có những nhu cầu khác nhau. Xã hội ngày càng tiến bộ thì như cầu của con

19


×