Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học sư phạm thể dục thể thao hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 93 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ XUÂN ĐỨC

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC
THỂ THAO HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số

: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trương Xuân Cừ

HÀ NỘI, 2017


Lời cam đoan
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được cơng bố trong bất kì một cơng trình nào khác.

Tác giả luậ n vă n

NGƠ XN ĐỨC



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
1.1 Các khái niệm công cụ của đề tài.
1.2 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại
học sư phạm thể dục thể thao.
1.3 Yêu cầu của quản lý đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
trong các trường Đại học Sư phạmthể dục thể thao
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến biện pháp quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học trong các trường đại học sư phạm thể dục thể thao
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ
THAO HÀ NỘI
2.1 Sơ lược về trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao Hà Nội
2.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học
Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường
Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội
2.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể
thao Hà Nội
Chương 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên trường Đại học sư phạm thể dục thể thao Hà Nội
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Sư phạm
Thể dục Thể thao Hà Nội
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO

11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

11
21
28
31
34

34
37
53
58

60

60
62
72


77


BGDĐT

: Bộ Giáo dục và Đào tạo

BTC

: Bộ Tài chính

BKHCN

: Bộ Khoa học Công nghệ

CBGV

: Cán bộ giảng viên

CBQL

: Cán bộ quản lý

CNTT

: Công nghệ thông tin

CSVC


: Cơ sở vật chất

ĐHSP

: Đại học Sư phạm

GDTC

: Giáo dục thể chất

GDQP

: Giáo dục Quốc phịng

GV

: Giáo viên

KH

: Khoa học

KHCN

: Khoa học cơng nghệ

KH&CN

: Khoa học và Công nghệ


KT-XH

: Kinh tế xã hội

NC

: Nghiên cứu

NCKH

: Nghiên cứu khoa học

NQ-CP

: Nghị quyết Chính phủ

TCCB

: Tổ chức cán bộ

TDTT

: Thể dục Thể thao

TTLT

: Thông tư liên tịch


DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ giảng viên, cán bộ quản lý của Đại học Sư

38

phạm TDTT Hà Nội về hoạt động nghiên cứu khoa học
Bảng 2.2 Động cơ tham gia NCKH của GV Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội

39

Bảng 2.3 So sánh số lượng đề tài được triển khai với đề tài nghiệm thu

40

Bảng 2.4 Hướng nghiên cứu của các đề tài đã nghiệm thu và đang nghiên cứu

41

Bảng 2.5 Kết quả đánh giá xếp loại các cơng trình nghiên cứu khoa học

42

Bảng 2.6 Thống kê tình hình nghiên cứu khoa học trong trường

43

Bảng 2.7 Thuân lợi và khó khăn đối với việc thực hiện hoạt động NCKH của

45

GV

Bảng 2.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác NCKH của giảng viên trường Đại

47

học Sư phạm TDTT Hà Nội
Bảng 2.9 Tổng hợp CBGV trong 3 năm gần đây của Trường Đại học Sư phạm

49

TDTT Hà Nội
Bảng 2.10 Phân tích độ tuổi, giới tính của CBGV trường Đại học Sư phạm

49

TDTT Hà Nội
Bảng 2.11 Bảng thống kê kinh phí chi cho hoạt động KHCN của trường

51

Bảng 2.12 Khảo sát thực trạng nhận thức của cán bộ quản lývề công tác quản lý

54

hoạt động NCKH của giảng viên
Bảng 2.13 Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện các biện pháp

56

quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư phạm
TDTT Hà Nội

Bảng 2.14 Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện quy trìnhquản lý hoạt động

57

NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
Bảng 3.1

Kết quả khảo sát giảng viên về “tính cần thiết” của các biện pháp

73

Bảng 3.2

Kết quả khảo sát giảng viên về tính cần thiết của các biện pháp

74

Sơ đồ 2.1

Sơ đồ tổ chức bộ máy trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội

36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động nghiên cứu khoa học có vai trị đặc biệt quan trọng trong giáo dục
nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Trong công tác đào tạo đại học ở nước ta
hiện nay, nghiên cứu khoa học (NCKH) được xem là một trong những yếu tố quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được

nhu cầu ngày càng cao của xã hội. NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo
dục đại học vì khơng những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra
những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển của nhân loại. Với tầm
quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm
nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất
và đời sống" [17].
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định “cùng với giáo dục đào tào,
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[1]
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển khoa học và cơng nghệ làm
động lực đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri
thức, góp phần tăng nhanh sản xuất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền
kinh tế trí thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”[15, Tr.2]. Như
vậy, phát triển khoa học công nghệ phải là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi.
Để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà
nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là giảng viên tại các trường
đại học phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả
nghiên cứu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. QĐ số 418/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ (11/4/2012) về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai
đoạn 2011- 2020 chỉ rõ: "Phát triển khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững.

1


Khoa học và cơng nghệ phải đóng vai trị chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về
lực lượng sản xuất, đổi mới mơ hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của

nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [11].
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khẳng định
được vai trò của NCKH, các trường đại học nói chung và Đại học Sư phạm Thể
dục Thể thao Hà Nội nói riêng ln hướng tới mục tiêu "Mỗi trường đại học là một
viện nghiên cứu". Bởi vì, nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong
giáo dục đại học và đó là con đường hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo
và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục.
Trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và nền khoa học công nghệ nước ta đã
đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp khơng nhỏ từ hoạt động
nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các trường đại học và
cao đẳng nói chung.
Một trong hai nhiệm vụ chính và quan trọng nhất đối với các trường đại học
đó là: Đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây là hai hoạt động có mối quan hệ hữu
cơ, hai nhiệm vụ cơ bản chiến lược của mỗi nhà trường, trong đó việc đẩy mạnh
giảng viên tích cực tham gia các hoạt động NCKH là một trong những biện pháp
quan trọng - bắt buộc và cần thiết để hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của xã hội. Thực tiễn và lý luận đều chứng
minh một cách rõ ràng rằng, NCKH và giảng dạy có mối quan hệ hữu cơ với nhau,
gắn kết chặt chẽ với nhau và tương hỗ cho nhau. NCKH tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề
nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp. Ngược lại, công tác giảng dạy
phản ánh kết quả của hoạt động NCKH. Do vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với
hoạt động giảng dạy, NCKH là thước đo năng lực chuyên môn của giảng viên.
Đối với giảng viên tại trường đại học, công tác giảng dạy luôn được coi
trọng, là điều kiện cần và đủ đối với một giảng viên. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một
nửa yêu cầu của hoạt động chuyên môn của người giảng viên tại trường đại học. Vì
vậy, việc NCKH lâu nay luôn được các trường đề cao, chú trọng, đặt ra như một
nhiệm vụ bắt buộc, thường xuyên và là một tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu để đánh
giá khả năng toàn diện của giảng viên. Mặc dù vậy, trong thời gian qua, tại các

2



trường đại học, hoạt động NCKH của đội ngũ giảng viên vẫn còn chưa được quan
tâm đúng mức nếu như khơng nói là cịn “đối phó”, chứa đựng nhiều hạn chế, bất
cập, chưa ngang tầm với nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên. Theo thống kê của
Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Hiện có 56.000 cán bộ giảng dạy ở các trường đại học,
cao đẳng nhưng chỉ có khoảng 1.100 giảng viên (3%) tham gia nghiên cứu khoa học
và rất ít giảng viên trẻ tham gia nghiên cứu”. Tất cả những điều này thực sự là tiếng
chuông báo động về sự nhiệt huyết, mặn mà của giảng viên đối với các hoạt động
NCKH.
Để thích ứng hơn trong giai đoạn hội nhập và phát triển như hiện nay, việc
tham gia vào những hoạt động NCKH sẽ có những lợi ích cơ bản như sau: NCKH
giúp giảng viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức chuyên
môn mà mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung
kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình.
Người giảng viên tham gia NCKH một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên
môn của mình mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn từ những
kiến thức từ các chuyên ngành khác; q trình tham gia NCKH sẽ góp phần phát
triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng làm việc độc lập, trau dồi tri thức và các
phương pháp nhận thức khoa học của giảng viên. Đồng thời hình thành ở giảng viên
những phẩm chất của nhà nghiên cứu.
Quá trình tham gia các hoạt động NCKH cũng đồng thời là q trình giúp
giảng viên tự “cập nhật” thơng tin, kiến thức một cách thực sự hiệu quả. Hơn nữa,
NCKH giúp cho giảng viên “bổ sung” thêm lượng kiến thức mới từ những nguồn
khác nhau để đánh giá và hoàn thiện lại những kiến thức của chính bản thân mình.
Thơng qua việc NCKH, sẽ tăng thêm sự hiểu biết về ngành nghề, góp phần hình
thành và bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp cho giảng viên.
Thiết nghĩ, đây là điều cần thiết và quan trọng trong quá trình giảng dạy và
hoạt động chuyên môn của giảng viên. Điều này sẽ giúp giảng viên có thể hịa nhập
tốt hơn, chủ động hơn trong cơng việc của mình. Q trình thực hiện các hoạt động

NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có mơi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực
NCKH. Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp và

3


nâng cao chất lượng giảng dạy. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo;
trong quá trình tham gia NCKH, nếu đạt kết quả tốt, sẽ là yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao vị thế và uy tín của chính bản thân giảng viên, đồng thời khẳng định
vị thế và uy tín của trường với xã hội. Vì, một trong những tiêu chí để đánh giá, xếp
hạng các trường đó chính là mảng NCKH của giảng viên, công nhân viên chức của
trường; hoạt động NCKH là một lĩnh vực rất tốt để giảng viên tự khẳng định mình.
Khó có thể nói rằng nếu một giảng viên được đánh giá là có năng lực chun mơn
tốt nhưng hàng năm lại khơng có cơng trình khoa học nào.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với một trường đại học, giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai hoạt
động cơ bản gắn bó hữu cơ với nhau, có vai trò tác động qua lại và định chế lẫn
nhau. Mục tiêu chung là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trong đó chất
lượng giảng dạy phụ thuộc một cách quyết định vào chất lượng nghiên cứu, có
nghiên cứu tốt mới có bài giảng có chất lượng, phong phú, hấp dẫn. Chính vì vậy
hoạt động nghiên cứu khoa học từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các giảng viên trong nước và thế giới.
2.1. Tình hình nghiên cứu nước ngồi
Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu về các phạm trù, vấn
đề liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học như quản lý, quản lý giáo dục,
phương pháp luận nghiên cứu khoa học, phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học,
phương pháp nghiên cứu xã hội học, phương pháp nghiên cứu trong thể dục thể
thao…
Các tác giả K.Bexle, E. Delsen, Xlasinxki (1983) đã đề cao vai trò của hoạt
động nghiên cứu khoa học trong sự phát triển của xã hội và chỉ ra những đặc điểm

đặc thù của công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học so với quản lý các hoạt
động khác. Trong đó, đáng lưu ý là việc cần xây dựng chính sách ưu tiên đặc biệt về
điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ thỏa đáng để động viên các nhà khoa học toàn
tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu [24].
Đề cập đến lý thuyết quản lý khoa học một cách khoa học, tác giả K.V.
Annitsep và các cộng sự khẳng định “Thành tựu quản lý trong khoa học phụ thuộc

4


vào vấn đề “Thỏa mãn những nhu cầu quyền lợi, động cơ của các nhóm cán bộ
khoa học khác nhau, những phương pháp khách quan của việc cấp văn bằng, việc
đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, sự kích thích nghề nghiệp trong khoa học và
những đặc điểm cần thiết của người lãnh đạo tập thể khoa học”.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhận thức về vai trị và tác dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học và công
tác quản lý hoạt động NCKH ở các trường đại học và cao đẳng, Nhà nước đã ban
hành một số văn bản pháp quy về công tác nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học.
Về lý luận đến nay đã có nhiều tác giả, nhà khoa học trong nước đã nghiên
cứu và xuất bản các tài liệu, giáo trình hướng dẫn nghiên cứu khoa học như: Phạm
Minh Hạc (1981), Vũ Cao Đàm (2003), Phạm Viết Vượng (2001), Nguyễn Hữu
Minh (2016), Phan Thị Mai Hương (2013), với mục đích cung cấp cho các nhà
nghiên cứu cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học để họ tổ
chức, rèn luyện, thực hành, tập dượt nghiên cứu khoa học có hiệu quả [19], [14],
[41], [29], [23].
Trước 1990, Viện nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp đã triển
khai nghiên cứu "Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường đại học
phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng" do GS.PTS Lê Thạc Cán làm chủ nhiệm
chương trình cấp nhà nước mã số 60A [8].

Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục thực hiện đề tài "Nghiên cứu
những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công
nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường", mã số B91-38-14 do kỹ sư Vũ Tiến
Thành làm chủ nhiệm [35].
Năm 1995, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục chủ trì đề tài "Điều tra đánh
giá thực trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng
Việt Nam" do GS.TS Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu của đề tài
chỉ dừng lại ở khâu điều tra nguồn lực khoa học và công nghệ của các trường đại
học và cao đẳng tại thời điểm đó mà chưa đề cập đến giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ [20].

5


Các đề tài trên đã đóng góp những lý luận và giải pháp của công tác quản lý
hoạt động khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục - Đào tạo, gắn với đặc điểm
tình hình trong giai đoạn đó.
Những năm gần đây, vận dụng về khoa học quản lý nói chung vào quản lý
giáo dục, các cơng trình nghiên cứu của các tác giả như: Hà Sĩ Hồ (1985), Nguyễn
Thị Mỹ Lộc (1996), Đặng Quốc Bảo (2002), Phạm Viết Vượng (2008), Nguyễn
Đức Trí (2003), Trần Kiểm (2004), Trần Mai Ước (2013), Võ Khánh Vinh
(2016)… đã cung cấp nhiều vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
trong đó có nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng [21], [28], [1],[42], [38], [25],
[44], [40].
Năm 1998, tác giả Ninh Đức Nhuận đã triển khai nghiên cứu đề tài "Một số
giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường đại
học trong giai đoạn mới". Đề tài đã đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản
lý hoạt động khoa học và công nghệ ở hệ thống các trường đại học nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ cho các trường đại học

trong giai đoạn đó [31].
Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều cơng trình nghiên
cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý giáo dục đã
được cơng bố dưới các hình thức báo cáo, tham luận, luận văn. Các cơng trình
nghiên cứu đề cập đến hoạt động nghiên cứu khoa học và công tác quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học ở giáo dục đại học như các tác giả: Bùi Thị Kim Phượng
(2001); Trần Thị Ninh Giang (2005); Nguyễn Thị Kim Nhung (2005); Phạm Thị Tú
Nga (2011); Huỳnh Trường Huy, Lương Trần Thanh Thảo, Nguyễn Đức Vinh
(2015); … [33], [18], [32], [30], [22]
Năm 2001, Bùi Thị Kim Phượng thực hiện nghiên cứu "Thực trạng và biện
pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên Trường Cao
đẳng Sư phạm Ninh Bình" [33].

6


Năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung thực hiện Luận văn Thạc sĩ "Một
số biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của trường Cao đẳng
Sư phạm Hưng n" [32].
Ngồi ra cịn nhiều luận án, luận văn thạc sĩ quan tâm đến thực trạng và biện
pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường đã được nghiên cứu
và bảo vệ thành cơng.
Nhìn chung các tác giả đã đóng góp lý luận và hướng giải quyết nhiều vấn đề
thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại
học và cao đẳng. Các tác giả đều đề cao ý nghĩa, vai trò của nghiên cứu khoa học
đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, đào tạo trong các nhà trường. Tuy nhiên,
mỗi cơng trình tác giả chỉ giải quyết một vài vấn đề riêng lẻ hoặc có giá trị gắn với
một nhà trường trong một giai đoạn nhất định. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên các trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao nói chung và Đại
học Sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng vẫn chưa có tác giả nào quan tâm đề cập đến.

Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội là một trường đào tạo đặc thù được
thành lập từ năm 1961 có nhiệm vụ đào tạo giáo viên giáo dục thể chất cho các cấp
học, trường được nâng cấp lên đại học từ năm 2003. Sau hơn 10 năm được nâng cấp
lên đại học công tác nghiên cứu khoa học của trường đã đạt được một số thành tựu
đáng khích lệ, phong trào nghiên cứu khoa học trong giảng viên từng bước được cải
thiện và phát triển mạnh mẽ. Năm học 2015-2016 nhà trường đã triển khai 02 đề tài
khoa học và công nghệ cấp bộ, 56 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (trong đó
đã nghiệm thu 37 đề tài và đánh giá giai đoạn 20 đề tài), đây là một con số đáng ghi
nhận đối với một trường đại học đơn ngành. Tuy nhiên, trên thực tế đó mới chỉ là
đánh giá về mặt số lượng, công tác nghiên cứu khoa học vẫn chưa được các giảng
viên quan tâm đúng mức, có nhiều giảng viên có tâm huyết với cơng tác nghiên cứu
khoa học nhưng còn một bộ phận giảng viên trẻ còn chưa thực sự đầu tư nghiên
cứu, tham gia theo hình thức “đối phó”, kết quả nghiên cứu hàm lượng khoa học
khơng cao, tính ứng dụng của một số đề tài chưa thực sự có chất lượng.
Từ sự phân tích nêu trên, nhằm phân tích những hạn chế và đề xuất một số
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của

7


giảng viên tại Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội, chúng tôi lựa
chọn đề tài: “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại
học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quảquản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học
Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nghiên
cứu khoa học tại nhà trường.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học trong các trường đại học và cao đẳng.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học ở Trường Đại học Sư phạm TDT Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại
học Sư phạm TDTT Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay và tiến hành đánh
giá khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của biện pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
4.2 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
+ Số lượng mẫu nghiên cứu: 140 giảng viên, 45 CBQL Trường Đại học Sư
phạm TDTT Hà Nội.
+ Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6/2016 đến tháng 3/2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:

8


Tiệp cận theo quá trình hoạt động nghiên cứu khoa học: gồm các bước chọn
đề tài, thiết kế công cụ nghiên cứu, triển khai nghiên cứu, điều tra số liệu, xử lý số
liệu, viết báo cáo, công bố kết quả.
Tiếp cận hệ thống: tiếp cận toàn bộ các yếu tố chủ quan, khách quan nằm
trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng
viên.
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng các

phương pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích, tổng hợp, khái qt hóa):
phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề
tài nhằm tổng hợp và phân tích các tài liệu, sách, bài báo khoa học, các cơng trình
nghiên cứu trong và ngồi nước, nghiên cứu các văn bản pháp quy về công tác quản
lý khoa học và công nghệ để đưa ra những nhận định, kết luận có căn cứ, trong
nghiên cứu và đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu
khoa học từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động
khoa học và công nghệ ở Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
- Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm: Là phương pháp nghiên cứu khoa học
nhằm thu thập thông tin cũng như những ý kiến của các chuyên gia, giảng viên,
giáo viên có kinh nghiệm trong cơng tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại
một số trường đại học khu vực Hà Nội.
Đề tài tiến hành thu thập thơng tin thơng qua phiếu hỏi để tìm hiểu thực trạng hoạt
động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra xã hội học được sử dụng nhằm
xây dựng phiếu hỏi và tiến hành khảo sát hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường
Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội. Các phiếu hỏi được xây dựng với các câu hỏi
đóng và mở để có được các số liệu trung thực, khách quan.
- Phương pháp chuyên gia: Sử dụng phương pháp chuyên gia (dưới hình thức
lấy ý kiến chuyên gia bằng phiếu phỏng vấn trực tiếp hoặc bằng phiếu hỏi) về
những vấn đề cụ thể.

9


- Phương pháp tham chiếu các kinh nghiệm, thực tiễn:
Phương pháp tham chiếu các kinh nghiệm thực tiễn được sử dụng để tham
khảo các kinh nghiệm về công tác quản lý khoa học và công nghệ tại một số trường
đại học khu vực Hà Nội, đồng thời tham chiếu các kinh nghiệm thực tiễn đã có tại

trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
- Phương pháp toán học thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc
phân tích và xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu của đề tài
các số liệu thống kê được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tàihệ thống hoá các lý luận và thực tiễn về công
tác tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học và đồng thời
đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường
Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội. Kết quả này sẽ góp phần hồn thiện lý luận về
cơng tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học về lĩnh vực sư
phạm thể dục thể thao.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho phòng Quản lý Khoa
học Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội đề xuất một số biện pháp pháp hồn
thiện cơng tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của trường.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn được kết cầu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các
trường đại học sư phạm thể dục thể thao.
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà
Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại
học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội.

10



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
1.1. Các khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1 Khoa học
Theo UNESCO, khoa học là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã
hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng
trên cơ sở thực tiễn. Các lĩnh vực KH&CN bao gồm: Khoa học tự nhiên; Khoa
học xã hội, Nhân văn; Khoa học kỹ thuật và công nghệ; Khoa học Nông nghiệp;
Khoa học Y dược.
Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt nam (2000), khoa học là hệ thống
tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy [27].
Đứng ở góc độ hoạt động, khoa học có thể được hiểu là một lĩnh vực hoạt
động đặc biệt của lồi người, giống lĩnh vực hoạt động văn hố, nghệ thuật, khoa
học, cơng nghệ... Mỗi loạt hình hoạt động có mục đích và phương thức riêng. Khoa
học là một loại hình hoạt động có mục đích khám phá bản chất và các quy luật vận
động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống xã hội. Về thực chất,
ở góc độ này, khoa học được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, là quá trình
phát minh sáng tạo ra tri thức mới cho nhân loại.
1.1.2 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học: là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm
ứng dụng vào thực tiễn [27].
Nghiên cứu khoa học, suy cho cùng, mang hai nội dung cơ bản sau:
+ Phát hiện quy luật vận động của thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội,
con người).
+ Sáng tạo các giải pháp nhằm biến đổi trạng thái của sự vật hoặc hiện
tượng, cải tạo thế giới, tức tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người.

11



Bản chất nghiên cứu khoa học là các hoạt động sáng tạo của các nhà khoa
học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải
tạo thế giới.
Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm chất
trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo. Quá trình nghiên cứu được thực
hiện trong một cơ quan nghiên cứu với một tập thể có tiềm lực mạnh, được tổ chức
chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động. Sự sáng tạo khoa học bao giờ cũng
được bắt đầu từ một ý tưởng của cá nhân và sau đó được sự hỗ trợ, hợp tác nghiên
cứu của một tập thể, theo ý tưởng định hướng nghiên cứu của người đề xuất. Vì
vậy, có thể nói: chủ thể nghiên cứu khoa học vừa là cá nhân, vừa là tập thể.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tịi, khám phá bản chất và các quy
luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất
vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của con
người. Nhiều nghiên cứu khoa học khơng chỉ là nhận thức thế giới mà cịn cải tạo
thế giới, khoa học đích thực ln vì cuộc sống con người.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới bao
gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động
vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng. Nghiên cứu khoa học còn
phải sử dụng những cơng cụ đặc biệt, có tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe trong định
tính và định lượng để thí nghiệm, thực nghiệm… đo lường và kiểm định sản
phẩm sáng tạo.
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và
những giải pháp cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học ln hướng tới cái
mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát
triển của thực tiễn.
Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hòan thiện, bổ sung theo đà tiến bộ
của xã hội loài người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan. Mỗi lý thuyết
khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái

mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn. Giá trị của nghiên cứu khoa học được quyết
định bởi tính thơng tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông

12


tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các
phương pháp khác nhau.
Quá trình nghiên cứu khoa học: quá trình nghiên cứu khoa học diễn ra phức
tạp, luôn chứa đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các
trường phái lý thuyết, các giả thuyêt, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược
nhau và kết cục cái nào phù hợp với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái
chiến thắng. Khoa học là cách mạng với nghĩa đó.
Nghiên cứu khoa học có chứa đựng những yếu tố mạo hiểm, bởi vì nghiên
cứu khoa học khơng phải lúc nào cũng thành công. Sự thành công sẽ tạo ra giá trị
mới cho nhân loại và có cả những thất bại rủi ro, đó là sự phải trả giá của nghiên
cứu khoa học, nhưng chính sự thất bại đó cũng là một thơng tin có ích để đồng
nghiệp không lặp lại sai lầm tương tự.
Việc lựa chọn loại hình nghiên cứu khoa học được quyết định bởi mục tiêu
nghiên cứu và chủng loại sản phẩm thu được sau quá trình nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu khoa học có thể rất khác nhau:
hoặc là phát hiện quy luật, mơ tả, giải thích ngun nhân vận động của sự vật hoặc
hiện tượng; hoặc là sáng tạo nguyên lý những giải pháp phục vụ cho các hoạt động
xã hội khác nhau của con người.
Chủng loại sản phẩm sẽ thu nhận được sau nghiên cứu: có thể là các phát
hiện, phát kiến, phát minh, vv… cũng có thể là các giải pháp, bí quyết, sáng chế,
v.v…
Tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu và sản phẩm thu nhận sau nghiên cứu,người
ta chia ra những loại hình nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
dứng dụng hoặc triển khai.

a) Nghiên cứu cơ bản:
Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy
luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [27]. Nghiên cứu cơ bản đi sâu
khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi
mơ và vĩ mơ. Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi
quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo.

13


Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết
luận về quy luật, những định luật, định lý… Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên
cứu này, người nghiên cứu đưa ra những phát hiện, phát kiến, phát minh, xây dựng
nên những cơ sở lý thuyết có một giá trị tổng quát cho nhiều lĩnh vực hoạt động.
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu phức tạp nhất do đội ngũ các nhà
khoa học có trình độ năng lực sáng tạo đặc biệt tiến hành. Với những yêu cầu cao
về trang thiết bị, với những chương trình nghiên cứu lâu dài, một nguồn tài chính
lớn, tốn kém và mạo hiểm. Chỉ có các nước có tiềm lực khoa học mạnh mới có khả
năng tổ chức loại hình nghiên cứu cơ bản một cách rộng rãi.
Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại:
Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. Nghiên cứu
cơ bản thuần túy: Nghiên cứu cơ bản thuần túy còn được gọi là nghiên cứu tự do
hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng. Nghiên cứu cơ bản thuần túy có mục
tiêu là phát hiện, sáng tạo ra giá trị mới, những quy luật, những lý thuyết khoa học
mới dù chưa có địa chỉ ứng dụng.
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thuần túy có thể là các phát hiện, phát
minh, phát kiến, các công thức và thường dẫn đến việc hình thành hệ thống lý
thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong lịch sử khoa học, chúng ta gặp rất nhiều những phát hiện của nghiên
cứu cơ bản thuần túy trong mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, chẳng hạn,

Newtơn phát hiện định luật hấp dẫn vũ trụ, Galileo phát hiện các vệ tinh của Sao
Mộc, Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ uranium, Adam Smith phát hiện
“bày tay vơ hình” của kinh tế thị trường, Karl Marx phát hiện ra quy luật về thặng
dư. Đó đều là sản phẩm của những nghiên cứu cơ bản thuần túy.
Tác giả các phát hiện này không thể dự kiến hết được, thậm chí khơng hề dự
kiến được những phát hiện của mình sẽ được nhằm vào mục đích áp dụng nào và
dẫn đến những kết quả, những ảnh hưởng lớn lao như thế nào trong đời sống xã hội.
Nghiên cứu cơ bản định hướng: Nghiên cứu cơ bản định hướng có mục tiêu
để tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới theo yêu cầu của thực tiễn xã hội hay
sản xuất, đã có sẵn địa chỉ ứng dụng. Hay nói cách khác đây là những nghiên cứu

14


cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hướng còn
được gọi là nghiên cứu thăm dị và đơi khi được hiểu là một loại hình nghiên cứu để
xác định phương hướng nghiên cứu. Thí dụ, hoạt động thăm dị địa chất mỏ cũng
xem là nghiên cứu cơ bản định hướng, bởi vì nó nhằm khám phá quy luật (định tính
và định lượng) phân bố khống sản trong lịng đất. Hoạt động nghiên cứu này
hướng vào mục đích phục vụ nhu cầu khai thác khoáng sản.
Nghiên cứu nền tảng: nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu dựa trên các
quan sát, đo đạc để thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu và khám
phá quy luật của tự nhiên. Thuộc loại hình nghiên cứu nền tảng có thể liệt kê một số
dạng như nghiên cứu dịch tễ học trong y; điều tra cơ bản tài nguyên và các điều
kiện thiên nhiên như điều tra địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng;
tổng hợp các hóa chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hóa học, sinh học.
Nghiên cứu chuyên đề: Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một
hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, của bức xạ vũ
trụ, gien di truyền.
Những loại hình nghiên cứu cơ bản định hướng thuộc dạng này không chỉ

đưa đến những cơ sở lý thuyết quan trọng, mà cịn có thể dẫn đến những ứng dụng
có ý nghĩa lớn lao trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội. Chúng ta không nên hiểu đồng nhất giữa hai khái niệm nghiên cứu cơ bản và
khoa học cơ bản.
b) Nghiên cứu ứng dụng:
Nghiên cứu ứng dụng: là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu
khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con
người và xã hội [27].
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp về cơng nghệ có
tính mới về ngun lý, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp hữu ích, sáng chế.
Điều quan trọng nhất để phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng là ở
chỗ, nghiên cứu cơ bản thì đưa ra những tri thức mới về bản chất, quy luật vận động
và hiện tượng, còn nghiên cứu ứng dụng đưa ra những nguyên lý mới về giải pháp
tác động vào sự vật hoặc hiện tượng.

15


Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa
học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng. Chính
nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất.
Nghiên cứu ứng dụng là một trong những con đường quan trọng nhất
giúp cho các nước phát triển nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản
tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có tiềm lực khoa học mới. Nhật Bản là
thí dụ điển hình.
Cũng như đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng không nên hiểu
đồng nghĩa với khoa học ứng dụng. Và điều cần lưu ý nữa là, mặc dầu loại hình này
có tên gọi là nghiên cứu ứng dụng, nhưng kết quả của nó thì chưa ứng dụng được.
Để có thể đưa kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế thì cịn

phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, có tên gọi là nghiên cứu triển khai.
c) Nghiên cứu triển khai:
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm khả năng áp
dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã
hội, tạo ra các mơ hình chế biến thơng tin khoa học thành ra sản phẩm tinh thần hay
vật chất.
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu nối liền khoa học và đời sống,
là con đường đưa khoa học tới nơi cần sử dụng, chính nó làm cho ý tưởng khoa học
trở thành hiện thực, làm phát triển nền kinh tế văn hóa xã hội, làm tăng chất lượng
cuộc sống của con người.
Đặc trưng của nghiên cứu triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ
nghiên cứu cơ bản) và nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các
hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật.
Sản phẩm của nghiên cứu triển khai chỉ mới là những vật mẫu, hình mẫu có
tính khả thi về kỹ thuật, nghĩa là đã được khẳng định, khơng cịn xác suất rủi ro về
mặt kỹ thuật trong áp dụng. Điều này chưa hồn tồn có nghĩa là đã có thể áp dụng
vào một địa chỉ cụ thể nào đó, bởi vì, để áp dụng được vào một điều kiện cụ thể xác

16


định cịn phải tính đến khả năng về tài chính, kinh tế, mơi trường, xã hội, chế độ,
chính trị, v.v…
d) Nghiên cứu dự báo:
Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là phát hiện những
triển vọng, những khả năng xu hướng mới của sự phát triển của khoa học và thực
tiễn. Nghiên cứu dự báo dựa trên các quy luật và tốc độ phát triển của khoa học hiện
đại, trên cơ sở các tiềm lực khoa học quốc gia và thế giới. Nghiên cứu dự báo dựa
trên kết quả phân tích và tổng hợp một số lượng lớn các thông tin khách quan về
các thành tựu của khoa học, đồng thời dựa vào nhu cầu khả năng phát triển cuộc

sống của xã hội hiện đại. Các dự báo gồm:
+ Những thành tựu của khoa học và thực tiễn có thể đạt được trong tương lai.
Những triển vọng của những phát minh, số lượng và chất lượng thông tin mới.
+ Những xu hướng, trường phái khoa học, những chương trình khoa học
mới, những khả năng phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế.
+ Những khả năng hình thành các tổ chức khoa học mới và những triển vọng
của sự phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế.
Nghiên cứu dự báo có ba cấp:
- Cấp 1: Dự báo cho 15-20 năm.
- Cấp 2: Dự báo cho 40-50 năm
- Cấp 3: Dự báo cho 1 thế kỷ
Mọi dự báo đều chứa đựng những thơng tin giả định, tuy vậy nó có vai
trị to lớn trong phát triển cả thực tiễn và lý luận khoa học. Cuộc sống hiện
thực, nhu cầu thực tế, tiềm năng của khoa học sẽ bổ sung và sửa đổi dự báo. Số
phận của dự báo chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội và những bí mật của
thiên nhiên được phát hiện.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nghiên cứu khoa học
Qua tổng hợp các tài liệu chuyên mơn về cơng tác quản lý khoa học cho thấy
có một số nhóm yếu tố ảnh hưởng tới nghiên cứu khoa học như sau:
* Nhóm các yếu tố khách quan, bao gồm:
- Cơ chế, chính sách động viên người nghiên cứu

17


- Các nguồn lực phục vụ NCKH (kinh phí, CSVC...)
- Đặc điểm giới tính
- Sự quản lý, điều hành hoạt động NCKH
- Tài liệu, trang thiết bị cho NCKH
* Nhóm các yếu tố chủ quan:

- Động lực tham gia NCKH
- Ý thức, thái độ đối với NCKH
- Trình độ, năng lực chun mơn
- Kinh nghiệm, kỹ năng NCKH
- Trình độ tin học, ngoại ngữ
- Khối lượng công việc giảng dạy
- Các nguyên nhân khác (bận kiếm sống, tuổi tác, vị trí cơng tác...)
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động NCKH có thể
là những yếu tố khách quan như cơ chế, chính sách, các nguồn lực phục vụ NCKH
(kinh phí, CSVC...), đặc điểm giới tính, sự quản lý, điều hành hoạt động NCKH, tài
liệu, trang thiết bị cho NCKH và cũng có thể là các yếu tố chủ quan như động lực
tham gia NCKH, ý thức, thái độ đối với NCKH, trình độ, năng lực chun mơn,
kinh nghiệm, kỹ năng NCKH, trình độ tin học, ngoại ngữ, khối lượng công việc
giảng dạy và các nguyên nhân khác. Qua tổng hợp và phân tích các yếu tố ảnh
hưởng tới nghiên cứu khoa học cho thấy, đối với đối tượng GV các yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động NCKH là khá tương đồng, trong đó hai yếu tố ảnh hưởng
nhiều nhất đến hoạt động NCKH của giảng viên thuộc về yếu tố chủ quan đó là
trình độ, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm, kỹ năng NCKH. Một yếu tố chủ
quan khác đó là ý thức, thái độ đối với NCKH. Điều đó chứng tỏ, muốn NCKH tốt
thì phải có một trình độ chun mơn vững vàng, có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để
nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ, khả năng tiếp cận với tri thức mới, các
phương pháp, phương tiện hiện đại phục vụ cho NCKH, phải có ý thức NC một
cách tự giác, nghiêm túc và trung thực. Ngoài ra, các yếu tố khách quan khác cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động NCKH của GV đó là các nguồn lực phục vụ
NCKH, cơ chế, chính sách động viên người nghiên cứu.

18


Qua thực tế quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư

phạm TDTT Hà Nội cho thấy nghiên cứu khoa học không thể tiến hành "chay" mà
phải có nguồn kinh phí vừa đủ để mua phương tiện, thiết bị phục vụ nghiên cứu,
thuê nhân công và công bố kết quả.
1.1.4 Quản lý khoa học
1.1.4.1 Quản lý: Quản lý là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực khác nhau:
Theo Mary Parker Follett cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục
đích thơng qua nỗ lực của người khác”.
Theo James Stoner và Stephen Robbins: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ
chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử
dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”.
Theo tác giả Nguyễn Thành Vinh “Quản lý là quá trình tác động có chủ định,
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động
hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của mơi trường”.
Theo góc độ Tâm lý học quản lý các tác giả Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mai Lan
cho rằng “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ
thống thơng tin của chủ thể đến khách thể của nó” [13].
Quản lý có 4 chức năng chính đó là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, và
kiểm tra.
1.1.4.2 Quản lý khoa học:
Trường Đại học vừa là cơ sở đào tạo vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ, ứng dụng và chuyển giao vào sản xuất và đời sống.
Hoạt động khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ chính của
trường đại học [2, Điều 2]
Như vậy, nhiệm vụ của giảng viên trong trường đại học là tham gia các hoạt
động khoa học và cơng nghệ nhưng theo thói quen thường gọi là hoạt động nghiên
cứu khoa học và thực tế nghiên cứu khoa học là phần cơ bản trong hoạt động khoa
học và công nghệ. Kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học quyết định kết quả
của hoạt động khoa học và công nghệ do vậy trong luận văn sử dụng cụm từ
“nghiên cứu khoa học” dùng để chỉ khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ.


19


Từ khái niệm quản lý và khoa học có thể định nghĩa Quản lý khoa học là sự
tác động có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể quản lý khoa học lên
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý khoa học.
Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và
Công nghệ bao gồm [27, Điều 4]:
- Xây dựng định hướng phát triển khoa học và công nghệ cho từng giai đoạn
và kế hoạch khoa học và công nghệ 5 năm, hằng năm.
- Đề xuất, tham gia tuyển chọn, triển khai thực hiện và tổ chức quản lý nhiệm
vụ khoa học và công nghệ các cấp, các lĩnh vực nghiên cứu.
- Hỗ trợ xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thương mại và chuyển giao
quyền sở hữu trí tuệ theo quy định hiện hành.
- Ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng các vườn ươm công
nghệ, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gắn
phát triển công nghệ với tạo sản phẩm mới có khả năng thương mại cao; thực hiện
dịch vụ khoa học và công nghệ.
- Xây dựng và triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển, dự án tăng
cường năng lực nghiên cứu, các phịng thí nghiệm trọng điểm, liên ngành và
chun ngành.
- Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho sinh viên, học viên cao học và
nghiên cứu sinh.
- Tiến hành các hoạt động hợp tác trong và ngoài nước về khoa học và
công nghệ.
- Xây dựng hệ thống thông tin về hoạt động khoa học và công nghệ của
nhà trường.
- Xây dựng và triển khai thực hiện các nhiệm vụ về bảo vệ mơi trường, vệ sinh

an tồn thực phẩm, bảo hộ lao động, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm.
- Triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ khác.
1.1.5 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học: Theo một cách chung nhất
hoạt động nghiên cứu khoa học là tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt

20


×