Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

BÀI GIẢNG CHI TIẾT môn NHÀ nước và PHÁP LUẬT CHUYÊN đề NHÀ nước PHÁP QUYỀN và xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (188.13 KB, 24 trang )

NỘI DUNG
I. NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN

1. Tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng
nhân loại, ngay từ khi xuất hiện nhà nước cổ đại và được tiếp tục phát triển, nhất
là trong thời kỳ cách mạng tư sản.
a. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền thời kỳ cổ đại
Ở phương Tây: các nhà tư tưởng đại diện: Đêmôcrít, Xôcrát, Platôn,
Arixtốt, Xixêrôn, Xôlông...
Những tư tưởng chính:
- Thấy được vai trò của pháp luật trong việc duy trì trật tự của các thành
bang, pháp luật là chỗ dựa cho việc cai trị xã hội
- Đưa các lý giải về sự công bằng, công lý, dân chủ
- Thừa nhận pháp luật xuất phát từ nhà nước, nhưng pháp luật phải tuân thủ
quyền tự nhiên của con người
Xôlông (638-559 TCN) có thể coi là người đầu tiên nêu ý tưởng về nhà
nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai trò
của pháp luật.
Xôcrát (469-399 TCN) quan niệm về công lí trong sự tuân thủ pháp luật.
Theo ông, xã hội không thể vững mạnh và phồn vinh nếu các pháp luật hiện
hành không được tuân thủ, giá trị của công lí (pháp luật) chỉ có được trong sự
tôn trọng pháp luật.
Đêmôcrít (460-370 TCN) cho rằng, đạo đức cao nhất trong xã hội là công
lý sống theo pháp luật; đạo đức là pháp luật cao nhất, còn pháp luật là đạo đức
thấp nhất.


Platon (427-374 TCN) phát triển ý tưởng về sự tôn trọng pháp luật ở một
góc độ khác - từ phía nhà nước. Theo ông, tinh thần thượng tôn pháp luật phải là


nguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp
luật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc
vào chính quyền; ngược lại, nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật
và những nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
Arixtôt (384-322 TCN) bổ sung khía cạnh mới về mối quan hệ giữa chính
trị và pháp luật (chính trị được hiểu theo nghĩa là nhà nước). Theo ông, cần thiết
phải có sự phù hợp giữa chính trị và pháp luật, vì vậy, việc đề cao pháp luật phải
gắn với cơ chế, hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước. Tuy Arixtôt
chưa đưa ra được lí thuyết về phân quyền nhưng ông đã nêu ý tưởng về sự cần
thiết phải tổ chức nhà nước một cách quy củ để bảo đảm sự công bằng của pháp
luật: “Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật, cơ quan thực thi pháp luật
và toà án”.
Xixêrôn (106-43 TCN) tiếp tục phát triển ý tưởng của Aristôt đến trình độ
cao hơn, ông đưa ra quan niệm mới về nhà nước, coi nhà nước là "một cộng
đồng pháp lí", "một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp
luật và quyền lợi chung" và đề xuất nguyên tắc: "Sự phục tùng pháp luật là bắt
buộc đối với tất cả mọi người". Theo ông, pháp luật là công cụ của nhà nước, là
vũ khí của nhân dân, pháp luật bảo vệ nhân dân, nhân dân có trách nhiệm bảo vệ
pháp luật.
Ở phương đông: tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện đầu tiên ở
Trung Quốc cổ đại, vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc với người
khởi xướng là Quản Trọng, sau đó được, Tử Sản, Thương Uởng, Thận Đáo,
Thân Bất Hại, Hàn Phi Tử bổ sung và phát triển. Người đời sau gọi đó là tư
tưởng pháp trị và trường phái tư tưởng này được gọi là “Pháp gia”. Tuy chủ
trương chung là dùng pháp luật để trị nước, song các nhà tư tưởng thuộc pháp
gia có những ý kiến không thống nhất.


Thương Ưởng (390-338 TCN) đứng đầu nhóm trọng "pháp", cho rằng,
“pháp luật” là yếu tố quan trọng nhất; bởi vì: nếu pháp luật đầy đủ, nghiêm minh

thì nước mạnh, nếu pháp luật thiếu, yếu, lỏng lẻo thì nước yếu.
Thận Đáo (370-290 TCN) nhấn mạnh tầm quan trọng của “thế” nghĩa là
coi trọng địa vị, uy tín, trình độ của những người nắm pháp luật mà cụ thể là
Vua và hệ thống quan lại.
Thân Bất Hại (401-337 TCN) khẳng định, “thuật” (phương pháp, sách
lược) là nhân tố có tầm quan trọng trong đường lối trị nước đó là thuật bổ nhiệm
quan lại dựa trên chính danh, trên nhu cầu thực tế, thuật giám sát và thưởng phạt
dựa trên nguyên tắc “theo danh mà trách thực”, “theo việc mà trách công” quan
lại phải chịu trách nhiệm và bổn phận về việc mình làm, không đổ lỗi cho người
khác, cho hoàn cảnh, không trốn tránh trách nhiệm.
Hàn Phi Tử (khoảng 280–233 TCN), với tư cách là đại biểu điển hình, là
linh hồn của pháp gia, đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”,
“thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối
hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để
đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật
pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực
thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của
Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.
Tư tưởng Pháp gia đã có ảnh hưởng sâu rộng về phương diện thực tiễn
trong xã hội Trung Quốc đương thời, tuy còn những hạn chế nhất định, song tư
tưởng pháp trị của Pháp gia đã tạo tiền đề lý luận cho việc hình thành tư tưởng
về nhà nước pháp quyền của nhân loại về sau.
Tóm lại: Những ý tưởng, quan niệm của các nhà tư tưởng thời kì cổ đại
tuy tiếp cận ở những góc độ khác nhau nhưng tựu trung đều cổ vũ cho việc đề
cao pháp luật và xây dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật


công bằng. Những ý tưởng đó có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát
triển các lí thuyết về tính tối cao của pháp luật, về phân chia quyền lực nhà nước

và về nhà nước pháp quyền nói chung. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, bên cạnh những yếu tố được gạn chắt ở trên, các ý tưởng và quan niệm đó
cũng còn có nhiều hạn chế, chưa toàn diện và chưa có đủ cơ sở lí luận khoa học.
b. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cận đại
Các nhà tư tưởng đại diện bao gồm: Lốccơ, Môngtexkiơ, Rútxô, Kant,
Hêghen...
Những tư tưởng chính về Nhà nước pháp quyền thời kỳ này bao gồm:
- Thừa nhận quyền con người và quyền đó phải được thể chế và bảo đảm
bằng pháp luật.
- Khẳng định rõ nguồn gốc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền (tam quyền
phân lập), dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực.
- Nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
J.Lốccơ (1632-1704) nhà tư tưởng người Anh, đại diện tiêu biểu cho
trường phái “Pháp luật tự nhiên”, cho rằng ở đâu không có pháp luật ở đó không
có tự do. Điểm nổi bật trong tư tưởng J.Lốccơ là sự phân chia quyền lực nhà
nước, trong đó chủ quyền nhân dân là nền tảng bảo đảm cho sự tồn tại của nhà
nước, việc điều hành nhà nước phải dựa trên các đạo luật do nhân dân tuyên bố
và biết rõ về chúng. Chủ quyền nhân dân cao hơn chủ quyền nhà nước do họ
thành lập.
Môngtexkiơ (1689-1755) nhà tư tưởng người Pháp tiếp tục phát triển tư
tưởng phân chia quyền lực trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, cho
rằng nếu quyền lập pháp và hành pháp nằm trong tay một người hoặc một cơ quan,
cũng như khi quyền tư pháp không tách khỏi hai nhánh quyền lực kia sẽ không có
tự do, còn nếu quyền tư pháp hợp nhất với quyền hành pháp thì tòa án sẽ có khả


năng trở thành kẻ đàn áp và tất cả sẽ bị hủy diệt nếu như quyền lực nằm trong tay
một người hay một cơ quan hợp nhất cả ba quyền này.
Kant (1724-1804) nhà triết học người Đức cho rằng, Nhà nước pháp quyền

là sự hợp nhất của xã hội, trong đó mọi người biết phục tùng các đạo luật được
xây dựng theo ý chí của nhân dân. Ông ủng hộ cao việc áp dụng nguyên tắc
phân chia quyền lực nhà nước, theo ông ở đâu có phân quyền thì ở đó có Nhà
nước pháp quyền, nếu không thì chỉ là nhà nước chuyên quyền – nơi ý chí của
cá nhân có thể quyết định tất cả. Vì vậy, chủ quyền phải thuộc về nhân dân,
nhân dân là người lập ra nhà nước, quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân
không thuộc về một cá nhân hay tập đoàn nào.
Hêghen (1770-1831) nhà triết học người Đức tìm kiếm mô hình Nhà nước
pháp quyền xung quanh việc giải quyết quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với
công dân, theo ông đây là hai vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau không thể
tách rời, trong đó mọi công dân đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật, công dân thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước,
ngược lại nhà nước thông qua việc xây dựng pháp luật mà bảo đảm các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
c. Nhà nước pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản
- Quá trình hiện thực hóa nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản chủ
nghĩa đã điễn ra trong nhiều thập kỷ qua, nhưng cho đến nay không phải mọi
quan niệm, mọi đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền đã được hiện thực
hóa đầy đủ và triệt để trong các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại.
Tuy có một số quan niệm chung về vị trí, vai trò, đặc trưng của nhà nước
pháp quyền, nhưng thực tế lịch sử cho thấy quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền ở các nước tư bản chủ nghĩa đã diễn ra khá đa dạng, không đồng đều,
không thuần nhất cả về mô hình thể chế, phương thức tổ chức, cơ chế vận hành.
Sự không thuần nhất đó xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản là:


Trước hết là do sự biến đổi vị trí, tính chất, vai trò lịch sử của giai cấp tư
sản cầm quyền. Sự biến đổi này quy định những hạn chế lịch sử của giai cấp tư
sản trong tổ chức, xây dựng nhà nước pháp quyền; đặc biệt là hạn chế vai trò
của nhân dân, thực hiện dân chủ hạn hẹp trong sự thống trị của giai cấp tư sản.

Hai là, do những đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước tư bản chủ nghĩa, truyền
thống lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm cơ cấu xã hội - giai
cấp, tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, đặc điểm
tâm lý dân tộc... mà quy định sự đa dạng trong mỗi nhà nước tư sản.
Những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền tư sản
Tuy có sự đa dạng về mô hình thể chế, phương thức tổ chức, cơ chế vận
hành, xong các Nhà nước pháp quyền tư sản đều có chung những đặc trưng cơ
bản là:
- Trong Nhà nước pháp quyền tư sản nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà
nước;
- Quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ;
- Bảo đảm dân chủ;
- Pháp luật chiếm vị trí tối thượng trong đời sống của nhà nước và xã hội;
- Tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực, dùng quyền lực để
kiểm tra và giám sát quyền lực;
- Nhà nước pháp quyền gắn bó mật thiết với xã hội công dân (xã hội dân sự);
- Vai trò lãnh đạo của các đảng phái chính trị đối với nhà nước.
Đây là những đặc trưng ưu việt hơn hẳn nhà nước phong kiến trong lịch sử
hình thành phát triển các kiểu nhà nước.
Những đặc điểm mới của nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa hiện đại,
bao gồm:


Một là, có xu hướng tuyệt đối hóa vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật: cả
nhà nước và công dân đều có xu hướng sử dụng thuần túy kênh pháp luật để
điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ lợi ích của mình, ít chú ý tới các kênh
đạo đức, tình thương và trách nhiệm của cá nhân cũng như cộng đồng.
Hai là, các chính đảng có vai trò rất lớn trong tổ chức, xây dựng nhà nước
pháp quyền: các chính đảng của giai cấp tư sản cầm quyền ở các nước tư bản
chủ nghĩa hiện đại dù khác nhau về hình thức tổ chức, xu hướng chính trị, cơ sở

xã hội - giai cấp... song đều nắm giữ quyền tổ chức, xây dựng và sử dụng nhà
nước pháp quyền như một công cụ chủ yếu trong bảo vệ lợi ích của giai cấp
thống trị và quản lý, điều hành xã hội.
Ba là, có xu hướng bảo lưu các đặc điểm riêng về mô hình thể chế, về phương
thức tổ chức, xây dựng và và sử dụng nhà nước pháp quyền phù hợp với đặc
điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước tư bản chủ nghĩa.
Bốn là, vai trò cơ quan hành pháp được mở rộng, có xu hướng lấn át so với cơ
quan lập pháp.
d. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
Học thuyết Nhà nước pháp quyền không chỉ có những tư tưởng của các
triết gia tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển chủ nghĩa xã
hội khoa học. C.Mác, Ăngghen và Lênin dù không chính thức nói đến Nhà nước
pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của
mình nhưng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm đến Nhà
nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói của các
ông ít nhiều đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền. Đó là những tư tưởng đầu tiên
về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Những tư tưởng căn bản của Nhà nước pháp quyền đã được các nhà kinh
điển Mác - Lênin đề cập và vận dụng vào thực tiễn xây dựng và củng cố Nhà


nước xã hội chủ nghĩa – nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, bao gồm các vấn đề cơ bản như:
+ Xây dựng một nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp, dân chủ, một nhà
nước mà pháp chế là nguyên tắc tối quan trọng trong đời sống nhà nước và xã
hội;
+ Nhà nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và pháp luật được thực hiện
nghiêm minh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
+ Nhà nước là công cụ của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng

sản; nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân…
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp
quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền hình thành, phát triển
gắn với quá trình tìm đường cứu nước và thực tiễn xây dựng nhà nước kiểu mới
ở Việt Nam sau năm 1945.
Các tác phẩm: Trong Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị
Vécxây (1919); Chương trình Việt minh (1941); Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945);
Chương trình hành động (3/9/1945); Hiến pháp 1946.v.v. đã thể hiện kết tinh trí
tuệ, tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước Việt Nam sau một phần ba thế kỷ
hoạt động của Người.
Những tư tưởng chính của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đó là:
- Nhà nước XHCN là của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân, mọi
quyền lực đều thuộc về nhân dân
Trong Nhà nước pháp quyền, chủ quyền phải thực sự thuộc về nhân dân
và phải được thể hiện đầy đủ trong mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân,
cán bộ nhà nước là công bộc, là người phục vụ nhân dân, nhân dân là người làm
chủ nhà nước là đối tượng được nhà nước phục vụ.


- Nhà nước pháp quyền theo Tư tưởng Hồ Chí Minh đó còn là nhà nước
mà bản chất của nó luôn có sự thống nhất chặt chẽ giữa bản chất giai cấp công
nhân với tính nhân dân, tính dân tộc.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó
pháp luật được đề cao.
Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền theo Hồ Chí Minh là nhà nước có
hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết
phải là nhà nước hợp hiến; nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải
làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế.

Để tiến tới một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, theo
Hồ Chí Minh vấn đề căn bản cốt lõi là phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng
hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu
pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính, có đạo đức cách mạng trong sáng,
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
b. Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN
Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận
dụng sáng tạo tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và
quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp
luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta.
Tư tưởng đó bao gồm hệ thống các quan điểm, nguyên tắc cơ bản về quan
niệm, bản chất, đặc trưng, cơ cấu tổ chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, được hình thành và phát triển từng bước qua các kỳ ĐH Đảng và các
nghị quyết của BCHTW, BCT về xây dựng NNPQ XHCN qua các khóa, nhất từ
khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay.


Nghị quyết TƯ3 khóa VIII đã chỉ rõ, trong 10 năm đổi mới vừa qua Đảng
ta “Đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”
Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền XHCN VN
là:
1- Nhà nước pháp quyền là nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân;
2- Nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống
nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;
3- Nhà nước được tổ chức hoạt động trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật,

bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và Luật trong đời sống xã hội;
4- Nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người; bảo đảm trách
nhiệm giữa nhà nước và công dân, thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ
cương, kỷ luật;
5- Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự
giám sát của nhân dân; sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
6- Nhà nước thực hiện đường lối hòa bình, hữu nghị với nhân dân các dân
tộc và các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và
cùng có lợi; đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước,
hiệp ước quốc tế đã tham gia ký kết, phê chuẩn;
7- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân phải trở thành định hướng, yêu cầu bao trùm toàn bộ tổ chức,
hoạt động của Nhà nước, đồng thời là trách nhiệm của Đảng, Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân;


8- Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền
đòi hỏi Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, quan tâm thích
đáng cho việc lãnh đạo xây dựng Nhà nước, xây dựng và thực hiện pháp luật, đồng
thời bảo đảm cho các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến
pháp, pháp luật, tôn trọng các thể chế của Nhà nước.
9- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận cũng như và
mọi công dân có trách nhiệm tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trước
Nhà nước và xã hội; đồng thời có những hình thức thích hợp thực hiện vai trò
giám sát và phản biện XH, tham gia xây dựng NN, quản lý NN
II. BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG VÀ TỔ CHỨC CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XHCN VIỆT NAM


1. Bản chất, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
a. Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền
lực nhà nước đều thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời thống nhất chặt chẽ
với tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc.
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước mang bản chất giai
cấp công nhân.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, bất cứ nhà nước nào cũng đều là
nền chuyên chính của giai cấp thống trị. Giai cấp nào nắm quyền thống trị về kinh
tế tất sẽ nắm quyền thống trị về chính trị, thông qua bộ máy nhà nước để duy trì và
bảo vệ quyền, địa vị và lợi ích của mình đối với toàn xã hội. Trong chế độ ta, giai
cấp công nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò
lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội. Vì vậy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
mà chúng ta xây dựng tất yếu là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân.


Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thể hiện: toàn bộ hoạt động của Nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách,
đến những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều thể hiện quan điểm,
lập trường của giai cấp công nhân, nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng
của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn
dân tộc.
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đồng thời mang tính nhân dân,
tính dân tộc sâu sắc.
Tính nhân dân của Nhà nước ta thể hiện: Nhà nước là của nhân dân, quyền
lực thực sự ở nơi dân; chính quyền do nhân dân lập nên và tham gia quản lý; nhà
nước thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, cán bộ, công chức nhà nước là

công bộc, là đầy tớ của nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân là bổn phận của Nhà
nước và cán bộ công chức, viên chức nhà nước.
Tính dân tộc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện:
trong tổ chức và hoạt động Nhà nước ta luôn kế thừa và phát huy những truyền
thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam; Nhà nước luôn có chính
sách dân tộc đúng đắn, quan tâm chăm lo lợi ích mọi mặt cho các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam và thực hiện đoàn kết dân tộc, coi đoàn kết dân tộc, đoàn kết
toàn dân là đường lối chiến lược và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; giữ vững quan điểm của Đảng về độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; kết
hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của
giai cấp công nhân.
Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân
tộc trong bản chất Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tất yếu
khách quan, là nhu cầu tự thân của Nhà nước.
Bởi vì, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của
dân tộc là thống nhất, đó là độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; là cuộc sống
tự do, ấm no, hạnh phúc; là giải phóng triệt để người lao động, xây dựng một xã


hội bình đẳng, bác ái, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, bình
đẳng, văn minh. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ bản chất của cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo, sau khi giành được thắng lợi thì
nhân dân lao động trở thành người chủ của đất nước. Mặt khác, giai cấp công
nhân muốn tự giải phóng mình tất yếu phải đồng thời giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân
dân lao động và toàn dân tộc.
b. Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực sự của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội

ngũ trí thức.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước trong đó quyền
lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm tra, kiểm soát giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến
pháp và luật trong đời sống xã hội
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phục vụ nhân
dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của
nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự
chỉ đạo thống nhất của Trung ương.


2. Nguyên tắc, tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
a. Những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
(có 4 nguyên tắc cơ bản)
Một là, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Vị trí vai trò và cơ sở của ng. tắc:
- Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nội dung nguyên tắc: thể hiện trên ba phương diện cơ bản:
Thứ nhất, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào

việc tổ chức lập ra bộ máy nhà nước;
Thứ hai, bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý các
công việc nhà nước và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước;
Thứ ba, có cơ chế bảo đảm đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, nhân viên nhà nước
và cá nhân được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công
việc của nhà nước.
Ở Việt Nam, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp hiện hành năm 1992
đều nhất quán khẳng định nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân và quy định trách nhiệm của các cơ nhà nước, nhân viên nhà nước trong
việc tôn trọng nguyên tắc cơ bản này.
Để thực hiện tốt nguyên tắc này trong thực tế, đòi hỏi nhà nước phải có
những biện pháp để nhân dân nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, pháp luật,
quản lý, đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; cung cấp


thông tin đầy đủ để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra các hoạt động của
nhà nước.
Hai là, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước
Cơ sở của nguyên tắc:
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tổ chức thông qua đó Đảng cộng sản
thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội.
- Sự lãnh đạo của Đảng quyết định phương hướng tổ chức và hoạt động của
Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là điều kiện quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc
tham gia vào công việc của Nhà nước.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là nhằm giữ vững
bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân và đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là

nguyên tắc hiến định (Điều 4 Hiến pháp năm 1992)
Nội dung nguyên tắc thể hiện:
- Đảng vạch ra đường lối chính trị, những chủ trương, phương hướng lớn,
và quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước;
- Chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật;
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan nhà
nước hoạt động theo đường lối của Đảng
- Đảng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giới thiệu cho bộ máy nhà nước.
- Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ
cán bộ, đảng viên trong chấp hành đường lối chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên làm việc trong bộ
máy nhà nước.


Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện làm thay công việc của
Nhà nước. Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc xây dựng, kiện
toàn, sử dụng và phát huy vai trò của bộ máy nhà nước.
Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ
Cơ sở:
- Đây là nguyên tắc bắt nguồn nguyên tắc hoạt động của Đảng Cộng sản
(Đảng cầm quyền)
- Nguyên tắc tập trung dân chủ còn là cơ sở để phát huy tính chủ động, sáng
tạo của quần chúng nhân dân, của tập thể và đề cao trách nhiệm, ý thức kỷ luật của
cán bộ, viên chức nhà nước.
Nội dung nguyên tắc:
Thể hiện trên ba phương diện chủ yếu:
Thứ nhất là trong tổ chức bộ máy nhà nước: Cơ cấu tổ chức, chế độ bầu cử,
chức năng, thẩm quyền của các cơ quan…
Thứ hai là trong cơ chế hoạt động của nhà nước và bộ máy nhà nước:
ccaaps dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương, thiểu số phục

tùng đa số…
Thứ ba là trong việc bảo đảm thông tin, trong báo cáo, kiểm tra và xử lý các
vấn đề khen thưởng và kỷ luật.
Bốn là, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Cơ sở:
- Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự hoạt động bình
thường của bộ máy nhà nước, tạo sự thống nhất, đồng bộ và phát huy hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội.
- Nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân do dân, vì dân
Nội dung:


- Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật, trên cơ sở pháp luật;
- Mọi cán bộ, nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn
trọng pháp luật khi thực thi quyền hạn và nhiệm vụ của mình;
- Nhà nước phải tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh mọi
hành vi vi phạm pháp luật.
Ở nước ta, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa là nguyên tắc hiến
định; vừa phản ánh nhu cầu tự nhiên của bộ máy nhà nước, đồng thời là đòi hỏi,
yêu cầu từ phía nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ, nhân viên nhà
nước.
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Năm là, nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
Cơ sở:
- Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện
nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước.
- Nước ta là một nước nhiều dân tộc, có truyền thống đoàn kết lâu đời
- Nhà nước luôn tạo điều kiện để các dân tộc phát huy mọi khả năng của

mình tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Nội dung:
Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc thường được biểu hiện
cụ thể trên các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục... Nhà nước xã
hội chủ nghĩa nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Ở nước ta, đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu, là một trong những
nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển
đất nước. Đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đại đoàn kết dân tộc còn là


một trong những chính sách lớn, quán xuyến trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ
cách mạng
Ngoài năm nguyên tắc cơ bản này, tổ chức và hoạt động của nhà nước còn
có những nguyên tắc khác như: nguyên tắc tổ chức lao động khoa học; nguyên
tắc bảo đảm tính kinh tế; nguyên tắc công khai hóa...
b. Hệ thống tổ chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc hội: là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất.
Chủ tịch nước: là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho nhà nước về đối nội và
đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội,
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn rộng lớn trong cả ba lĩnh vực lập
pháp, hành pháp, tư pháp, là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang
nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Tuy nhiên, Chủ
tịch nước không phải là cơ quan quyền lực hoặc cơ quan quản lý nhà nước...
Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất
Chính quyền địa phương: gồm HĐND và UBND các cấp
Các cơ quan tư pháp: gồm hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân các cấp.

(Các cơ quan này sẽ có bài giới thiệu riêng)

III. KẾT QUẢ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NNPQ VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG
BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NNPQ XHCN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Kết quả quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam


Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quá trình
đúc kết, kế thừa, vận dụng tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử của
nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực
tiễn 25 năm đổi mới.
Thành tựu:
Những thành tựu trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam những năm qua:
ĐH XI Đảng ta khẳng định “Có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành
pháp, tư pháp” cụ thể là:
- Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, có nhiều đổi mới quan trọng
trong công tác lập pháp; chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước được nâng cao. Bổ sung sửa đổi Hiến pháp và
hệ thống pháp luật; đã bước đầu cải tiến quy trình xây dựng luật, ban hành nhiều
văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và hội nhập quốc tế.
- Cải cách hành chính được chú trọng, nhất là thủ tục hành chính; tổ chức
Chính phủ được sắp xếp hợp lý hơn, tổ chức chính quyền địa phương đang được
thí điểm tích cực. Tăng cường một bước tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước; phân định cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp, hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước được tăng cường.
- Các hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp có nhiều tiến bộ; chất lượng

hoạt động xét xử, hoạt động công tố, kiểm sát không ngừng được nâng cao.
Đa số cán bộ, đảng viên, viên chức nhà nước phát huy được vai trò tiền
phong, năng động sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng.
Hạn chế: (có 7 vấn đề)
- Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, thực thi pháp luật còn yếu.


- Tổ chức bộ máy nhiều cơ quan chưa hợp lý, chức năng, nhiệm vụ của một
số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo.
- Chất lượng cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình nhiệm vụ mới của đất nước.
- Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây
nhiều phiền hà cho tổ chức và công dân.
- Năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số
lĩnh vực còn yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự kỷ
cương xã hội không nghiêm.
- Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ. Công tác điều tra, giam giữ,
truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, bị hủy, bị
cải sửa còn nhiều.
- Công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt yêu cầu đề ra.
2. Một số nội dung biện pháp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện nay
a. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
- Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
- Phải khẩn trương rà soát hệ thống pháp luật hiện hành;
- Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật, đổi mới
quy trình xây dựng pháp luật;
- Đổi mới và nâng cao chất lượng lập pháp của Quốc hội.
- Tăng số lượng các văn bản luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh; tăng
tính cụ thể, tính khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật.

b. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội


+Bảo đảm Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện tốt chức năng lập hiến, lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao hoạt động của Nhà
nước.
+Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội. Nâng cao chất lượng đại
biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách; có cơ chế để đại biểu
Quốc hội gắn bó chặt chẽ với cử tri.
+Cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc, các ủy ban
của Quốc hội và các đại biểu, các đoàn đại biểu Quốc hội.
Nghiên cứu giao quyền chất vấn cho Hội đồng dân tộc và các ủy ban của
Quốc hội. Phát huy dân chủ, tăng tính công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt
động chất vấn tại diễn đàn Quốc hội
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ
+Mục tiêu: xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch,
vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn và hợp lý; tăng tính dân chủ
và pháp quyền trong điều hành của Chính phủ; nâng cao năng lực dự báo, ứng
phó và giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh.
+Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức của
các bộ, ngành.
+Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh
và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân.
+Thực hiện cải cách hành chính trên 5 nội dung: xây dựng thể chế của nền
hành chính, cải cách các cơ quan hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức hành chính, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính.
- Đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
+Mục tiêu: xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý,

tôn trọng và bảo vệ quyền con người.


+Hoàn thiện chính sách pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và
về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp.
+Đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách
hoạt động xét xử là trọng tâm của hoạt tư pháp.
+Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát cho phù hợp với hệ thống Tòa án. Sắp xếp lại
cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối.
Tiếp tục đổi mới kiện toàn các tổ chức bổ trợ tư pháp. Nâng cao trình độ chuyên
môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tăng
cường các cơ chế giám sát, bảo đảm sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt
động tư pháp.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương
Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ
chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ
chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Tiếp tục thực
hiện thí điểm chủ trương không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
c. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có đủ năng lực đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới
Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cán bộ, công chức;
tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ. Nâng
cao chất lượng cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,
năng lực lãnh đạo, điều hành quản lý nhà nước. Có chính sách đãi ngộ, động
viên khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ,
bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín
với nhân dân. Tổng kết việc thực hiện “nhất thể hóa” một số chức vụ lãnh đạo
Đảng, Nhà nước để có chủ trương phù hợp.



d. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực
hành tiết kiệm
Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham
nhũng. Nghiên cứu phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp
trong phòng chống tham nhũng. Chú trọng các biện pháp phòng ngừa tham
nhũng, lãng phí. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính
trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà
nước. Công khai minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng
cơ bản, mua sắn từ ngân sách nhà nước, huy động vốn góp của nhân dân, quản
lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Thực
hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công
chức theo quy định. Cải cách chính sách tiền lương, chính sách nhà ở bảo đảm
cuộc sống cho cán bộ, công chức. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của
người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí. Xử lý
nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng.
e. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước
pháp quyền
Phương thức lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với nguyên tắc, tiêu chuẩn
của nhà nước pháp quyền, nghĩa là sự lãnh đạo đó không làm cho hoạt động của
các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trái với thể chế nhà nước được ghi
nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Phân định rõ mối quan hệ giữa Đảng cầm
quyền với nhà nước pháp quyền; Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng phải tuân thủ
pháp luật của Nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, tập trung vào những vấn đề chủ yếu như: thực hiện tốt
phương hướng Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, nghị quyết;
lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các



chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên
kiểm tra việc thực hiện; Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện làm thay Nhà
nước, trái lại phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động sáng taọ của Nhà nước trong
quản lý đất nước và xã hội. Để làm được như vậy, cần tập trung rà soát, bổ sung,
điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế, quy định,
quy trình công tác để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống
chính trị. Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh
đạo các cơ quan quản lý nhà nước.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm và đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam?
2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam?
3. Nội dung cơ bản xây dựng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam?



×