Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ BIỆN PHÁP QUẢN lý SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (535.94 KB, 119 trang )

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta sớm nhận thức
được vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với phát triển KT – XH và việc phát
triển nguồn nhân lực thông qua GD&ĐT; do đó đã có các định hướng và chỉ đạo
đúng đắn phát triển GD&ĐT để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời
Đảng ta coi GD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa XI)
khẳng định: “Người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục” [21, tr.126].
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Đảng, các trường cao đẳng, đại học
luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục SV, kết hợp dạy chữ, dạy nghề và dạy
người để hình thành và phát triển nhân cách của SV, quản lý toàn diện mọi
hoạt động của SV.
Quản lý sinh viên là một trong những nhiệm vụ chủ yếu ở các trường cao
đẳng, đại học giúp cho lãnh đạo nhà trường điều chỉnh, bổ sung các chiến
lược, phương pháp, nội dung quản lý nhằm tăng cường quản lý toàn diện cả
số lượng - chất lượng SV, QLSV mọi lúc mọi nơi. Song song với nhiệm vụ
học tập, QLSV sẽ có ý nghĩa to lớn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học
tập, bởi lẽ SV tham gia nhiệm vụ học tập theo qui chế, hoạt động ngoài giờ
học tập vừa không có giáo viên quản lý, xa gia đình, dễ bị tác động từ bạn bè.
Vì vậy, QLSV sẽ là cơ sở để quản lý chất lượng giáo dục - đào tạo.
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND
thành phố Hà Nội , có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ y tế có trình độ từ cao
đẳng trở xuống và bồi dưỡng thêm nghiệp vụ cho cán bộ y tế cơ sở của thành
phố Hà Nội. Chất lượng đào tạo của Nhà trường những năm qua góp phần
cung cấp nguồn nhân lực có trình độ tri thức, có phẩm chất đạo đức, có sức
khỏe cho ngành y tế Hà Nội và các tỉnh lân cận. Kết quả đào tạo SV của
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông những năm qua đã khẳng định chất lượng




4

đào tạo của Nhà trường, trong đó có chất lượng QLSV. Tuy nhiên, công tác
QLSV của Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông nằm trên địa bàn phức tạp, có
những tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, ảnh hưởng biến động đến
một bộ phận SV về các giá trị đạo đức truyền thống, văn hóa. Một bộ phận
SV sống không có lý tưởng, hoài bão, thiếu ý thức trong học tập, sống đua
đòi, ý thức chấp hành pháp luật kém, đạo đức, lối sống xuống cấp, các quan
hệ với ứng sử thiếu văn hóa. Nhà trường thiếu các biện pháp quản lý phù hợp,
chưa có kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, giám sát cụ thể nên công tác QLSV còn
nhiều bất cập. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả tất
cả các khâu, các bước, các hoạt động trong quá trình GD&ĐT, Nhà trường
phải nâng cao chất lượng QLSV, là nội dung cơ bản quan trọng trong quá
trình GD&ĐT. Bên cạnh đó các chủ thể quản lý trong Nhà trường cần có các
biện pháp cụ thể và phù hợp về QLSV để đào tạo ra nguồn nhân tài cho đất
nước có phẩm chất, năng lực “vừa hồng vừa chuyên”, là những vấn đề mà
Nhà trường đang quan tâm, tìm những biện pháp để giải quyết. Tuy nhiên,
chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu cơ bản và hệ thống
về QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế.
Để nâng cao chất lượng QLSV, với mong muốn ứng dụng những kiến
thức quản lý đã học và thực tế đã đặt ra ở trên, cũng như với kinh nghiệm của
bản thân trên cương vị là một Trưởng phòng Hành chính – Tổng hợp, vấn đề
QLSV, là một nội dung tác giả quan tâm trăn trở, trên cơ sở lý luận và đánh
giá thực trạng để đề xuất biện pháp cụ thể, thiết thực, hiệu quả và khả thi áp
dụng vào thực tiễn công việc đang đảm nhiệm là yêu cầu khách quan và mang
tính cấp thiết. Do đó tác giả đã lựa chọn vấn đề "Biện pháp quản lý sinh viên
ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, thành phố Hà Nội" làm đề tài nghiên
cứu luận văn, vừa có tính cấp thiết về lý luận, vừa có giá trị thực tiễn to lớn.

2.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quản lý giáo dục xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử giáo dục và đào tạo tuy
nhiên phải đến những năm 1960 của thế kỷ XX, xuất phát từ yêu cầu nâng cao


5

chất lượng giáo dục, quản lý đào tạo thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
quản lý giáo dục, tâm lý học ở phương diện lý luận và thực tiễn quản lý.
Trong lĩnh vực quản lý đào tạo, vài thập kỷ gần đây ở nước ngoài cũng
xuất hiện những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề quản lý đào tạo, QLSV trong các
nhà trường đại học, cao đẳng. Ví dụ những nghiên cứu về “ Hòa nhập” của
Corifin và nghiên cứu về “vấn đề quản lý đào tạo, tự quản lý sinh viên trong
học tập” ở Khoa Tâm lý sư phạm trường đại học Mons 02- Hainaut (Bỉ),(1989)
[18]; tác giả Harid Koontz “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Nxb Khoa học
kỹ thuật, Hà Nội, (1992) [39]; tác giả Peter Drucker “Quản lý vì tương lai
những năm 1990 và sau đó” Viện Nghiên cứu quản lý KTTW, (1997) [20]; tác
giả Peter Drucker “ Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI” Nxb Trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh, (2003) [21]. Các tác giả đã có những đóng góp quan
trọng cho lĩnh vực QLSV trong các nhà trường hiện nay.
Nhiều nhà khoa học về giáo dục và quản lý giáo dục ở nước ta đã
nghiên cứu và công bố các công trình khoa học về quản lý giáo dục trên cả
lĩnh vực về quản lý nhà nước về GD&ĐT và quản lý GD&ĐT trong trường
học. Các công trình của các tác giả đã được công bố như: Trần Kiểm “ Khoa
học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Giáo dục,
(2004) [35]; Đặng Bá Lãm “Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực
tiễn”, Nxb CTQG, Hà Nội, (2005) [40]; các công trình nghiên cứu của các tác
giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Cơ Sở khoa học quản lý, Tài
liệu dành cho học viên cao học QLGD, Khoa Sư phạm Đại học quốc gia Hà
Nội, 1996/2004 [17]; các tác giả Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải,

Đặng Quốc Bảo với công trình (2007)“Quản lý giáo dục” [32]. Các công
trình nghiên cứu trên của các tác giả tập trung luận giải nhiều vấn đề, nhiều
nội dung cơ bản như: Vai trò của quản lý giáo dục, khái niệm về quản lý,
quản lý giáo dục, quản lý trường học; bản chất, chức năng, nguyên tắc và
phương pháp quản lý giáo dục; thông tin trong quản lý, quản lý giáo dục,
công cụ quản lý giáo dục; hệ thống giáo dục quốc dân; quản lý nhà nước về


6

giáo dục; quản lý nhà trường; quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất kỹ
thuật trong giáo dục và trường học; quản lý chất lượng giáo dục; xây dựng đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; một số kinh nghiệm quốc tế về
quản lý giáo dục; quản lý giáo dục trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ...
Các công trình của các tác giả: Nguyễn Văn Bình (1999) “Những biện
pháp cải tiến quản lý quá trình đào tạo học viên người dân tộc thiểu số ở Học
viện Chính trị quân sự” [4]; Đinh Văn Thanh (2000) “Nâng cao chất lượng
quản lý học viên sau đại học ở Học viện Chính trị quân sự trong giai đoạn
hiện nay” [52]; Nguyễn Đức Thành (2005)“Công tác quản lý học viên là quân
nhân đào tạo ở các trường đại học ngoài quân đội hiện nay” [53]; Trần Thị
Thuỷ, (2006)“Đổi mới công tác quản lý học viên”Học viện Chính trị - Hành
chính khu vực 1, Hà Nội [58] ; Vũ Quang Lộc (Chủ nhiệm), (2005) ‘‘Nâng
cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong các học viện, trường sĩ quan quân đội
đáp ứng yêu cầu mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội [41].
Theo tác giả Nguyễn Văn Bình một trong những biện pháp cải tiến quản
lý quá trình đào tạo học viên người dân tộc thiểu số là tăng cường công tác
quản lý về học tập và rèn luyện; Trong quản lý cần thực hiện tốt các nội dung,
coi trọng việc cảm hóa, giáo dục bằng tình cảm; xây dựng tập thể đơn vị đoàn
kết, thống nhất; duy trì chặt chẽ các chế độ, nề nếp quy định; động viên
khuyến khích và khen thưởng kịp thời; phát huy sức mạnh tổng hợp của các

tổ chức, lực lượng để quản lý học viên; bồi dưỡng phương pháp quản lý cho
đội ngũ cán bộ quản lý trực tiếp nhất là cán bộ kiêm chức; đẩy mạnh tổ chức
các hoạt động thực tiễn; thường xuyên hướng dẫn cho học viên thực tập.
Tác giả Đinh Văn Thanh đã đề xuất những biện pháp cơ bản nâng cao chất
lượng quản lý học viên sau đại học ở Học viện Chính trị quân sự đó là: Coi trọng
xây dựng và củng cố chi bộ lớp học để thực sự phát huy vai trò và hiệu lực của
chi bộ trong quản lý, giáo dục và rèn luyện học viên là đảng viên; tiếp tục cụ thể
hóa mục tiêu đào tạo và hoàn thiện các văn bản pháp quy, các quy định về quản
lý học viên sau đại học; phát huy vai trò tự quản lý của học viên sau đại học


7

trong quá trình đào tạo; phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình đào tạo
sau đại học trong quản lý học viên ở học viện Chính trị quân sự.
Theo tác giả Nguyễn Đức Thành, biện pháp quản lý học viên đào tạo là
quân nhân ở các trường đại học ngoài quân đội đó là: Nâng cao nhận thức
trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với công tác quản lý học viên;
xây dựng và thực hiện chặt chẽ quy chế; thường xuyên củng cố hệ thống bộ
máy tổ chức quản lý học viên; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp
quản lý học viên; phát huy vai trò tự quản lý của học viên trong quá trình đào
tạo ở các nhà trường.
Tác giả Trần Thị Thuỷ đã đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất
lượng quản lý học viên đào tạo Cao cấp lý luận chính trị ở Học viện chính trị Hành hính khu vực I đó là: Xây dựng và củng cố chi bộ lớp học để thực sự phát
huy vai trò và hiệu lực của chi bộ trong quản lý, giáo dục và rèn luyện đảng
viên là học viên; Hoàn thiện các văn bản pháp quy, các quy định về quản lý
học viên; phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình quản lý học viên ở
Học viện chính trị - Hành chính khu vực một.
Theo tác giả Vũ Quang Lộc, nội dung then chốt góp phần nâng cao chất
lượng quản lý giáo dục đào tạo trong các học viện, trường sĩ quan quân đội

hiện nay là: nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên và học viên;
trong quản lý cần coi trọng giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng
đắn cho học viên trong quá trình học tập, rèn luyện; xây dựng nền nếp học
tập, rèn luyện, duy trì chặt chẽ các chế độ, điều lệnh kỷ luật, chế độ quy định.
Ngoài ra còn nhiều luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý giáo dục,
của các học giả khác bàn về QLSV dưới các góc độ khác nhau như: Võ Mỹ
Hạnh (2013) với “Quản lý quá trình giáo dục thói quen hành vi đạo đức của
sinh viên Trường Đại học Bạc Liêu”[30]; Nguyễn Thị Thuận (2009) với
“Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học tập ở Trường Cao đẳng sư
phạm trung ương thành phố Hồ Chí Minh” [51]; Nguyễn Trung Kiên (2013)
với “Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Trung cấp 24 Biên


8

phòng hiện nay”[33]; Nguyễn Nhật Trọng (2013) với “Quản lý hoạt động
học tập của sinh viên khoa điều dưỡng Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
hiện nay” [50].
Trên đây là những tài liệu tham khảo hết sức quý báu để tác giả nghiên
cứu, các công trình đó đã đề cập đến mục đích, vị trí, vai trò của công tác
quản lý giáo dục, QLSV trong các trường đại học, cao đẳng. Qua đó cho thấy,
đã có một số đề tài, chuyên đề và bài viết nghiên cứu và luận giải trên nhiều
góc độ khác nhau về quản lý giáo dục và QLSV trong thời gian qua. Tuy
nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu cơ bản và hệ
thống về QLSV tại Trường Cao đẳng Y tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về QLSV, đề xuất các biện pháp cơ bản
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông
hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường.

* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về QLSV ở trường cao đẳng y tế nói chung.
Khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ những nguyên nhân và
rút ra những kinh nghiệp về QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, xác định yêu cầu và đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.
* Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp
quản lý đối tượng SV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.


9

Phạm vi khảo sát: Thuộc Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, thành phố
Hà Nội
Phạm vi về thời gian: Các số liệu sử dụng trong luận văn lấy từ năm
2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng, hiệu quả công tác QLSV ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông
chịu sự tác động của cơ chế và chi phối từ nhiều nhân tố khác nhau. Nếu SV
thực hiện tốt kế hoạch quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng
về kỹ năng, nghiệp vụ quản lý; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, các lực
lượng giáo dục trong nhà trường, đồng thời phát huy tốt vai trò tự quản lý của
SV, thì chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường sẽ được nâng cao.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục. Đồng thời luận văn
còn được thực hiện trên cơ sở quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc, quan điểm
lịch sử - lôgíc, quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học.
* Phương pháp nghiên cứu
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hoá, mô
hình hoá, khái quát hóa các nội dung, tư tưởng trong các sách giáo trình, sách
chuyên khảo, sách tham khảo, các công trình khoa học, các tài liệu, tư liệu có
liên quan đến đề tài luận văn.
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: quan sát các mặt hoạt động lãnh đạo, quản lý của
cán bộ; hoạt động dạy học của giảng viên; hoạt động học tập, rèn luyện và các
mặt hoạt động xã hội khác của SV để rút ra những kết luận có liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài.


10

Phương pháp trao đổi: Trao với cán bộ quản lý và GV và SV, về thực
trạng QLSV, để rút ra những kết luận, nhận định có cơ sở khoa học nhằm
phục phụ cho nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học,
kết quả công tác QLSV nhằm rút ra kinh nghiệm QLSV của Nhà trường.
Phương pháp điều tra: Điều tra xã hội học bằng phiếu đối với SV, các
lực lượng giảng dạy, cán bộ quản lý để làm cơ sở đánh giá thực trạng, và
đề ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả QLSV ở Trường Cao
đẳng Y tế Hà Đông hiện nay.

Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, xin ý kiến của
các nhà khoa học, các nhà quản lý có kinh nghiệm về những vấn đề có liên
quan trực tiếp đến luận văn.
Cùng với các phương pháp trên tác giả còn sử dụng ph ương pháp thống
kê toán học để tính toán, xử lý các số liệu phục vụ cho đề tài luận văn.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn đã khái quát làm rõ hơn về SV và QLSV ở các trường cao
đẳng y tế, xây dựng những luận điểm, quan niệm về QLSV ở các trường cao
đẳng y tế làm cơ sở cho các nhà trường nâng cao chất lượng quản lý.
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho Đảng ủy, Ban giám hiệu
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông làm cơ sở điều chỉnh, bổ sung quyết định
trong quản lý nhà trường, quản lý GD&ĐT nói chung, QLSV của Nhà
trường nói riêng và các trường cao đẳng y tế lấy làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 03 chương (08 tiết) kết
luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


11

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ
SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Sinh viên ở trường cao đẳng y tế
Quan niệm về sinh viên trường cao đẳng y tế
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “Studens”, nghĩa là
người hoạt động nhiệt tình hăng hái để tìm kiếm, khám phá kho tàng tri thức
của nhân loại, nó được chỉ những người đang theo học ở bậc đại học và cao

đẳng và để phân biệt với học sinh phổ thông.
Theo J. Piagiet (1982) quan niệm: “SV là đại biểu của một nhóm xã hội
đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt
động lao động vật chất hay tinh thần cho xã hội. Nhóm SV này rất năng động,
được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định, nhằm chuẩn bị thực hiện vai
trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội. SV là nguồn
lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo trở thành những người lao động
có tay nghề lao động cao, tham gia hoạt động lao động tích cực” [46,tr.90].
Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết
định số 1584/GD- ĐT ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo) nêu rõ: “Người đang học trong hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên”.
Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị cho hoạt
động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội. Sự trưởng thành về thể chất được
kết thúc ở lứa tuổi này. Con người đã đạt được mức độ trưởng thành cần thiết về
tư tưởng và tinh thần. Điều đó cho phép họ giải quyết độc lập các vấn đề đặt ra
trong cuộc sống. Giai đoạn này, một loạt các phẩm chất đặc trưng của SV được
hình thành trong quá trình học tập ở các trường đại học và cao đẳng.
Các trường đại học, cao đẳng mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai có
nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính, giàu nghèo...
đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác nhau: Chính quy,


12

chuyên tu, tại chức, liên thông, văn bằng hai. Do đó, với khái niệm SV như
trên thì ngoại diên của nó rất rộng.
Trường cao đẳng y tế là trường đào tạo đội ngũ cán bộ y tế cơ sở có trình
độ từ cao đẳng trở xuống. Đây là một trong những nhà trường đào tạo, nguồn
nhân lực y tế trong các lĩnh vực Dược, Xét nghiệm, Điều dưỡng và Hộ sinh có
trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn. Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài

này chỉ nghiên cứu với đối tượng là SV ở trường cao đẳng y tế. Với đặc thù là
nhà trường đào tạo nguồn nhân lực cho y tế cơ sở, SV trường cao đẳng y tế có
những đặc điểm chung của SV các trường cao đẳng nói chung nhưng cũng có
nhiều đặc điểm riêng của ngành đào tạo. Trường cao đẳng y tế với mục tiêu
đào tạo SV trở thành Dược sỹ cao đẳng, Xét nghiệm cao đẳng, Điều dưỡng và
Hộ sinh cao đẳng có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
Từ phân tích trên, chúng tôi quan niệm: Sinh viên ở trường cao đẳng y
tế là những học sinh, thanh niên đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trúng
tuyển vào các trường cao đẳng y tế được học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa
học và tham gia các hoạt động công tác xã hội, nhằm thực hiện mục tiêu, yêu
cầu đào tạo của nhà trường trở thành các cán bộ y tế cơ sở.
Như vậy, SV trường cao đẳng y tế là những học sinh, thanh niên đã tốt
nghiệp trung học phổ thông, có độ tuổi từ 18 đến không quá 22, dự và trúng
tuyển kỳ thi tuyển sinh vào trường đại học, cao đẳng. Họ là nhóm người trong xã
hội đặc biệt, là lớp tri thức trẻ với trình độ nghề nghiệp cao trong lĩnh vực y tế.
Sinh viên trường cao đẳng y tế là những SV thuộc các trường cao đẳng
nói chung có nhiệm vụ học tập, rèn luyện và tham gia các hoạt động khác của
nhà trường. SV trường cao đẳng y tế khác với SV các trường cao đẳng khác ở
chỗ mục tiêu đào tạo trở thành cán bộ y tế cơ sở. Vì vậy SV trường cao đẳng y
tế phải thực hiện nhiệm vụ học tập theo chuyên môn nghề nghiệp nội dung,
chương trình do Bộ Y tế quy định là đào tạo cán bộ y tế có phẩm chất chính trị
tốt, có đạo đức nghề nghiệp đúng đắn; có kiến thức khoa học cơ bản và kiến
thức chuyên môn vững chắc; có năng lực và kỹ năng hành nghề một cách thành


13

thạo để thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng phòng bệnh và phục hồi sức
khỏe cho nhân dân một cách có hiệu quả; có khả năng tổ chức và quản lý các
hoạt động trong lĩnh vực Y, Dược, nghiên cứu khoa học và tự học vươn lên; có

sức khỏe đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh.
1.1.2. Quản lý sinh viên ở trường cao đẳng y tế
Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc
của Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc
tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng ” [44, tr.180].
Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức.
Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được mục đích của tổ chức của mình với thời gian, tiền bạc,
vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [39, tr.33].
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong
cuốn “Khoa học quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn
Bình, Nguyễn Quốc Chí... cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống
vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lượng mới” [15, tr.176].
Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. “Quản” là coi
sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ. “Lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới, tạo ra
sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu sẽ suy thoái. Hệ
phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn
mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức
là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới
việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đạt được nền tảng
của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải


14


có “lý” trong lý phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động. Hệ vận
động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả mong muốn tương tác giữa các yếu tố
bên trong với các nhân tố bên ngoài.
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước,
tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể kết luận: Quản lý
là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và
tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến
mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động.
Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Là khoa học vì nó là những
tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt.
Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan
hệ giữa chủ và khách thể quản lý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt
đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh
nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một
cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý.
QLSV trong nhà trường hiện nay rất đa dạng và phong phú, tùy vào việc
sử dụng các biện pháp quản lý của các chủ thể quản lý, nhất là đội ngũ giáo
viên chủ nhiệm và cán bộ kiêm chức trong lớp học; trên cơ sở vận dụng tổng
hợp, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp quản lý.
Trong lĩnh vực GD&ĐT nói chung và trong các trường đại học, cao
đẳng nói riêng thì QLSV góp phần hỗ trợ tích cực cho giảng dạy (thầy) và học
tập (trò), cũng như đảm nhận mọi mặt của công tác quản lý. QLSV từ các
khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ lên lớp giáo dục chính trị tư
tưởng, đạo đức và tổ chức phong trào SV (kết hợp với Đoàn thanh niên, hội
SV...) sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất và tinh thần học tập để SV rèn
luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng, trình độ cao. Công tác QLSV
có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới và phát triển bền vững yếu tố con
người về chất lượng nhận thức tri thức và hành động. QLSV là mảng công tác



15

trọng tâm thiết yếu của giáo dục cao đẳng, đại học nước ta trong việc đảm
bảo kỷ cương pháp luật nhà trường và rèn luyện SV. Công tác này do Ban
chính trị và công tác SV hoặc phòng Quản lý HSSV phụ trách là đơn vị tham
mưu cho Ban Giám hiệu trong công tác QLSV.
QLSV được coi là một trong những công tác trọng tâm của nhà trường
nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và
bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Do đó có rất nhiều khái niệm về quản lý đã đựơc đưa ra, do tiếp cận ở
các góc độ khác nhau. Một số tác giả phân chia quản lý giáo dục thành hai cấp
độ vĩ mô và vi mô. QLSV cũng là một kiểu quản lý xã hội thu nhỏ, quản lý
trường học, quản lý giáo dục ở cấp vi mô. Một nội dung quản lý cơ bản của
quá trình đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng là hoạt động QLSV được
tổ chức một cách chặt chẽ vừa theo Luật giáo dục vừa theo các quy định.
QLSV ở các trường cao đẳng y tế có điểm chung như QLSV ở các
trường đại học, cao đẳng khác và có thêm đặc điểm của ngành nghề đào tạo,
do SV trường cao đẳng y tế phải tham gia thực tập tại các bệnh viện, cơ sở y
tế, được chia nhỏ theo các nhóm, tham gia trực đêm theo từng khoa cùng các
kíp trực, tiếp súc và thăm khám bệnh nhân như các nhân viên y tế của bệnh
viện. Do vậy, công tác QLSV đòi hỏi phải cụ thể, có các cách thức quản lý,
phân công chi tiết đến từng SV, từng nhiệm vụ thực tập và thực hiện công tác
trực trong bệnh viện và cơ sở y tế, để thuần thục các kỹ năng nghề nghiệp
theo các quy định của Bộ Y tế.
Từ những vấn đề trình bày, luận giải như trên, có thể hiểu: Quản lý sinh
viên ở trường cao đẳng y tế là quá trình tác động của chủ thể quản lý thông

qua kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều khiển và kiểm tra tất cả các mặt hoạt
động của tập thể sinh viên và sinh viên, nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu
đào tạo của nhà trường.


16

QLSV là quản lý số lượng, chất lượng, thông tin và mọi hoạt động của SV
như: Hoạt động học tập, rèn luyện; tự học, tự giáo dục và các hoạt động khác của
SV. Đó là quá trình diễn ra những tác động liên tiếp nối tiếp nhau của chủ thể quản lý
đến, mục tiêu quản lý; đối tượng quản lý; nội dung quản lý; phương pháp quản lý tất
các các nhân tố trên đều trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau.
Mục tiêu QLSV ở trường cao đẳng y tế: Là theo dõi nắm chắc tình hình
chất lượng SV từ khi nhập học cho đến kết thúc khoá học về kết quả học tập,
rèn luyện phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống; kịp thời phát hiện,
giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập của SV; nâng cao chất
lượng đào tạo; phát triển phẩm chất nhân cách về y đức, trình độ lý luận, kinh
nghiệm thực tiễn quản lý cho SV; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo,
QLSV của các chủ thể quản lý trong nhà trường.
Chủ thể QLSV ở trường cao đẳng y tế: Là Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà
trường và các phòng ban, các bộ môn, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp; ban
cán sự trong các lớp học; đặc biệt là Phòng Quản lý HSSV, Phòng Hành chính
– Tổng hợp. Đây là những cơ quan tham mưu cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu
nhà trường và trực tiếp chỉ đạo hoạt động QLSV. Quá trình QLSV được thực
hiện trong hệ thống thống nhất; các chủ thể quản lý có mối quan hệ chặt chẽ
thống nhất với nhau, tạo thành hệ thống tổ chức bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo,
QLSV có chất lượng, hiệu quả.
Đối tượng QLSV ở trường cao đẳng y tế: Là những các cá nhân, tập thể
chịu sự tác động, điều khiển quản lý của chủ thể quản lý trong suốt quá trình
hoạt động. Theo đó SV là đối tượng chịu sự tác động, điều khiển, quản lý của

các chủ thể quản lý; mà thường xuyên chủ yếu và trực tiếp là đội ngũ giáo
viên Chủ nhiệm lớp, Ban cán sự lớp. SV vừa là khách thể là đối tượng chịu sự
quản lý của chủ thể, vừa là chủ thể tự quản lý, tự tổ chức thực hiện thông qua
hoạt động học tập, rèn luyện, công tác phấn đấu vươn lên lĩnh hội kiến thức,
hình thành phẩm chất, kỹ năng, phát triển và từng bước hình thành, phát triển
phẩm chất nhân cách người cán bộ y tế cơ sở theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo.


17

Con đường cách thức QLSV ở trường cao đẳng y tế: nhà trường xây
dựng ban hành phổ biến các phương pháp, cách thức, biện pháp, tác động,
điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý là SV, bằng hệ thống
các công cụ quản lý đó là các Chỉ thị, Nghị quyết của tổ chức đảng các cấp;
Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước; các Quy chế, Quy định về GD&ĐT và
quản lý GD&ĐT; chương trình, kế hoạch của nhà trường nhằm đạt được mục
tiêu quản lý đã đề ra.
Kết quả QLSV ở trường cao đẳng y tế: Kết quả QLSV được biểu hiện
ra bằng nhận thức, thái độ, ý thức trách nhiệm, động cơ và hành vi của SV
trong học tập, rèn luyện và tham gia các hoạt động khác của nhà trường.
1.1.3. Biện pháp quản lý sinh viên ở trường cao đẳng y tế
Biện pháp là cách thức cụ thể tác động đến đối tượng để đạt được kết quả
mong muốn. Trong giáo dục người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp
thành phương pháp phụ thuộc vào phương pháp. Trong từng tình huống sư phạm
cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể. Theo tác giả Phạm Viết Vượng. “Biện pháp quản lý là theo dõi
sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để uốn nắn,... tổ chức tốt tự
giám sát, tự kiểm tra của các bộ phận, các tổ chuyên môn là biện pháp tốt nhất
và hiệu quả nhất” [67, tr. 64]

Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu: Biện pháp quản lý sinh viên ở trường
cao đẳng y tế là tổng hợp các cách thức của chủ thể quản lý tác động đến SV
và tập thể SV, được thực hiện có tổ chức và kế hoạch chặt chẽ, nhằm tạo điều
kiện cho SV và tập thể SV hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ học tập và rèn luyện,
đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường.
Như vậy, mục đích cơ bản của biện pháp QLSV là tập trung giải quyết
những nội dung, nhiệm vụ quản lý nhằm: Nắm chắc SV về mọi mặt, nâng cao
nhận thức, thái độ, trách nhiệm trong quá trình học tập, rèn luyện và công tác;
đồng thời hình thành và từng bước hoàn thiện tri thức năng lực quản lý, lãnh đạo


18

theo mục tiêu yêu cầu đào tạo; có đầy đủ phẩm chất, năng lực để sẵn sàng nhận
và hoàn thành nhiệm vụ sau khi ra trường trở về các cơ sở y tế để làm việc.
Biện pháp QLSV được coi là tổng hợp các cách thức, phương pháp, của
chủ thể quản lý, tác động đến SV và tập thể SV với những hình thức thể hiện
khác nhau. Nó được đặc trưng bởi các hành động của chủ thể quản lý các cấp,
trong đó nổi bật là vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý ở các lớp học, dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường và hướng dẫn, chỉ
đạo của các cơ quan chức năng. Việc tác động tới SV và tập thể SV bằng
nhiều biện pháp quản lý, được thực hiện với nhiều con đường khác nhau,
nhưng chủ yếu là thông qua hoạt động dạy học, giáo dục và phát huy ảnh
hưởng từ môi trường GD&ĐT ở nhà trường đại học và cao đẳng cũng như vai
trò tự quản lý, giáo dục, rèn luyện của SV.
Để QLSV ở các trường cao đẳng y tế hiện nay, các chủ thể quản lý sử
dụng nhiều cách thức, biện pháp quản lý để đảm bảo chất lượng quản lý,
trong đó tập trung vào các biện pháp là:
Biện pháp hành chính-tổ chức: Đây là hệ thống cách thức tác động dựa
trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính, thực chất là cưỡng bức

đơn phương, quan hệ của người ra quyết định và người phục tùng quyết định.
Biện pháp giáo dục tâm lý: là hệ thống cách thức tác động thông qua
nhận thức, tình cảm và nhân cách của SV, nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
Thực chất là cách thức thông qua mối quan hệ nhân cách để tác động đến
nhận thức, tình cảm thế giới quan và thói quen hành vi của SV, cốt lõi của
biện pháp này chính là tính thuyết phục.
Biện pháp kích thích bằng vật chất và tinh thần: Là hệ thống cách thức
tác động thông qua kích thích bằng động cơ, quyết tâm của SV, bằng lợi ích
kinh tế (vật chất và tinh thần), nhằm phát huy tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý
thức, trách nhiệm và ý chí quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Thực chất là đánh
giá đúng công lao và thành tích của SV.
Các biện pháp trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động với
nhau tạo thành tổng hợp các cách thức giúp cho chủ thể QLSV một cách chặt
chẽ, thống nhất và hiệu quả.


19

1.2. Nội dung quản lý sinh viên ở trường cao đẳng y tế
SV là nhân vật trung tâm trong nhà trường. Vì vậy, cần phải quản lý được
đối tượng này theo mục đích quản lý, để hướng SV vào mục tiêu đào tạo của nhà
trường. Chính vì vậy, bên cạnh công tác đào tạo thì công tác QLSV là một hoạt
động lớn của nhà trường. Căn cứ Quyết định số 42/2007/QĐ – BGD & ĐT ngày
13/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế học sinh sinh
viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy.
Công tác QLSV ở trường cao đẳng y tế tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
1.2.1. Quản lý số lượng, chất lượng và thông tin về sinh viên
Nhà trường cụ thể hóa các văn bản của Bộ GD&ĐT về công tác QLSV,
từ đó xây dựng được các kế hoạch QLSV sát với tình hình thực tế đối với SV.
Tổ chức, bố trí, sắp xếp các lớp học, các khối, các loại SV phù hợp với quy

định của Bộ GD & ĐT, phù hợp với đặc điểm nhà trường. Theo dõi, quản lý
chặt chẽ sĩ số SV trong các lớp học, trong từng khóa học theo từng năm học.
Quản lý, nắm chắc chất lượng SV, thông qua hệ thống hồ sơ, văn bản; thường
xuyên cập nhật nắm chắc về phẩm chất chính trị, đạo đức, về học lực SV trong
suốt quá trình đào tạo tại trường. Quản lý, nắm chắc về tên tuổi, quê quán; nắm
bắt kịp thời về điều kiện hoàn cảnh gia đình, bản thân SV như: sức khỏe, bệnh
tật; điều kiện sống, lối sống; khen thưởng, kỷ luật; nguyện vọng bản thân; diễn
biến tư tưởng; các mối quan hệ của SV với xã hội, gia đình và với bạn bè; sử
dụng máy tính, internet.
1.2.2. Quản lý hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên
- Quản lý hoạt động học tập là tất cả những mặt, những bộ phận, những
yếu tố của quá trình quản lý hoạt động học tập như động cơ học tập, phương
pháp, hình thức học tập, phương tiện tài liệu học tập và kết quả học
tập....Đồng thời với những nội dung quản lý trên là những yêu cầu quản lý
cần đạt được trên từng nội dung làm cơ sở để thực hiện tốt hoạt động quản lý
qua đó phát huy vai trò của từng thành tố, tạo tác động tích cực đến SV nâng
cao chất lượng học tập.


20

Hoạt động học tập của SV có tính độc lập tương đối cao nên nó cần
được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ học tập, động cơ học tập có nhiều
cấp độ khác nhau. Để học tập tốt, nhất thiết SV phải có động cơ học tập mạnh
mẽ. Bởi vậy yêu cầu quản lý động cơ học tập của SV phải được tiến hành
thường xuyên liên tục trong xuốt quá trình học tập của họ. Theo dõi sát sao
tình hình học tập làm cơ sở để đánh giá sự tăng giảm động cơ học tập của SV,
làm rõ nguyên nhân làm giảm sút động cơ học tập và tìm kiếm các cách thức,
biện pháp tác động, tạo nhu cầu học tập tích cực, đồng thời giúp SV chiếm
lĩnh nhu cầu, hình thành động cơ học tập tốt với tất cả các nội dung, hình thức

học tập. Cùng với các biện pháp xây dựng củng cố động cơ học tập, các chủ
thể quản lý cần kịp thời ngăn chặn các biểu hiện chán nản, bi quan, thờ ơ,
lạnh nhạt, lười học, làm giảm chất lượng học tập của SV.
Để quản lý được nội dung học tập của SV, hướng cho nội dung học tập
phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, yêu cầu môn học, yêu cầu hoạt động
quản lý, làm cho SV nắm chắc tiến trình học tập, khối lượng kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo cần lĩnh hội, cung cấp đủ hệ thống giáo trình, tài liệu tương ứng
với nội dung học tập các môn học. Nhà trường thường xuyên tổ chức các lớp
học, hội thảo hướng dẫn SV cách xác định nội dung học tập hợp lý khoa học,
có tác dụng bổ trợ cho ngành nghề chuyên môn. Trong đó tập trung hướng
dẫn SV xác định nội dung học tập có tính chất bắt buộc SV phải hoàn thành
những nội dung học tập theo yêu cầu của chương trình học do nhà trường quy
định. Để đảm bảo hiệu quả của học tập, SV phải xây dựng chương trình kế
hoạch một cách thiết thực, khoa học, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập của bản thân. Quản lý phương pháp học tập là một nội dung quan trọng
trong quản lý hoạt động học tập của SV, nhằm đảm bảo cho SV có được
phương pháp học tập tốt, tiết kiệm thời gian học tập của SV, sử dụng hợp lý
thời gian học tập và đạt được kết quả tốt nhất trong thời gian ngắn nhất.
Phương pháp học tập rất đa dạng và quan hệ chặt chẽ với nội dung và hình
thức học tập. Mỗi nội dung hình thức học tập cụ thể thường ứng với các


21

phương pháp học tập nhất định. Do đó yêu cầu quản lý phương pháp học tập
trước hết phải đảm bảo cho SV làm quen với sử dụng thành thục các phương
pháp học lý thuyết thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, sử dụng thành thạo
các trang thiết bị dụng cụ y tế.
Quản lý SV thông qua việc kết hợp giữa hoạt động học tập chính khóa
và hoạt động ngoại khóa. SV học tập chính khóa là học tập và thực hành trong

nhà trường; hoạt động ngoại khóa là SV đi thực tập tại các bệnh viện, cơ sở y
tế và tham gia các hoạt động khác. Trong quá trình thực tập, SV được thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của người cán bộ y tế và thực hiện các kỹ thuật
chăm sóc đã được học vào thực tế chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, thăm
khám chữa bệnh dưới sự hướng dẫn và giám sát của giảng viên và cán bộ y tế
nơi SV thực tập. Việc thực tập của SV được thực hiện ở xa nhà trường, nên
công tác QLSV đi thực tập phải thực hiện tốt, để SV không bỏ trực, bỏ thực
tập thực hiện tốt việc thăm khám bệnh và cách giao tiếp ứng sử với người
bệnh và thân nhân người bệnh. Chính vì vậy phải xây dựng kế hoạch, xác
định rõ nội dung phần học SV thực tập, các yêu cầu cần đạt được và các mốc
thời gian, thực hiện có hiệu quả kế hoạch quản lý các hoạt động của SV trong
quá trình thực tập; sắp xếp lịch trực cho SV đảm bảo tính khoa học, phân
công, bố trí GV và cán bộ y tế nơi SV thực tập phải rõ ràng cụ thể để hướng
dẫn SV thực tập, có đánh giá kiểm tra từng học phần mà SV lĩnh hội ở nơi
thực tập; quản lý về thời gian SV trực; đánh giá tinh thần, thái độ và trách
nhiệm của SV nơi thực tập.
Quản lý cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo, trang thiết bị học tập có tác
động rất lớn đến kết quả học tập của SV. Để tạo thuận lợi cho việc học tập
của SV, yêu cầu công tác quản lý cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo, trang thiết
bị phải được tiến hành chặt chẽ, chu đáo, máy móc phải có đủ lý lịch máy và
được bảo dưỡng định kỳ hàng năm. Do đặc thù của lĩnh vực hoạt động nghề
nghiệp ngành y, để thuần thục nghề nghiệp quá trình học tập ngoài cơ sở vật
chất phục vụ học tập thông thường, SV phải thường xuyên được thực tập


22

trong phòng thí nghiệm trên các mô hình cơ thể người và các phương tiện kỹ
thuật. Thiếu các phương tiện kỹ thuật cần thiết thì kết quả học tập của SV sẽ
không đạt được yêu cầu đặt ra.

Quản lý kết quả học tập là kết tinh tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục
đào tạo. Kết quả học tập của SV nếu được nhìn nhận, xem xét đánh giá một
cách khoa học, được đối chiếu thường xuyên với mục tiêu đặt ra với các thông
tin giúp cán bộ quản lý kịp thời đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp, đồng
thời giúp SV nhận thức điểm mạnh, yếu của bản thân trong quá trình học tập.
Để đánh giá kết quả học tập của SV một cách khách quan, kịp thời, yêu cầu
công tác quản lý phải sâu sát, tỉ mỉ đối với việc học tập của từng SV, theo dõi
sát sao việc học tập của họ kết hợp với nhiều kênh thông tin trong đánh giá,
giữa đánh giá sự tiến bộ chung của tập thể SV với đánh giá sự tiến bộ của từng
người, giữa đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ, nhất là thông qua các
kỳ thi học kỳ, năm học,... qua đó quản lý chắc chắn kết quả học tập của SV, với
tư tưởng chỉ đạo là nâng cao chất lượng đào tạo, đề cao yêu cầu rèn luyện kỹ
năng, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển khả năng tự học, tự
nghiên cứu của SV, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác giảng dạy, tổ
chức nghiêm túc các đợt thực hành thực tập.
Tổ chức các hội nghị, hội thảo về nội dung chương trình đào tạo thực tập
tại các cơ sở y tế, cải tiến phương pháp giảng dạy. Phối hợp với tổ chức đoàn
thanh niên tổ chức các hội nghị về phương pháp học tập và thực tập nghiệp vụ
tại các cơ sở y tế.
Chấn chỉnh kỷ cương học tập, tổ chức quán triệt, hướng dẫn SV thực
hiện quy chế đào tạo, quy định tính điểm học trình vào kết qủa học tập, cải
tiến công tác thi cử với nhiều hình thức thi, kiểm tra viết seminar, vấn đáp,
thực hành thực tập, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường,
đảm bảo tốt điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa
học, tăng cường bổ sung tài liệu giáo trình, xây dựng thư viện điện tử, nâng
cấp các phòng thực hành, giảng đường, trang bị phương tiện hiện đại, xử lý
nghiêm túc các trường hợp vi phạm quy chế thi cử.


23


Theo dõi, đánh giá ý thức học tập của SV. Tổng hợp, phân loại, xếp loại SV
cuối mỗi học kỳ, năm học, khóa học. Tổ chức thi đua khen thưởng cho tập thể và
cá nhân SV có thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Xử lý kỷ luật đối với SV
vi phạm quy chế, nội quy. Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho SV.
- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học là quản lý: các đề tài nghiên
cứu; các luận văn, các báo cáo khoa học; các dự án, đề án ứng dụng khoa học
và công nghệ; các ấn phẩm, sản phẩm khoa học, các số liệu điều tra khảo sát
được công bố phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học; tổ chức các hội
thảo khoa học, định hướng các đề tài khoa học cho SV nghiên cứu.
Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết
quả hoạt động nghiên cứu khoa học của SV. Căn cứ vào kế hoạch đã được
duyệt về nghiên cứu khoa học, việc tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học
phải có sự phân công giao nhiệm vụ cụ thể, từng nội dung công việc, ai làm
gì, làm lúc nào, trách nhiệm của từng cá nhân tập thể tham gia nghiên cứu
khoa học. Động viên khuyến khích và tạo điều kiện về thời gian, địa điểm
thực tập, hỗ trợ kinh phí và có cơ chế khuyến khích SV tham gia nghiên cứu
khoa học. phát động và đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ học tập trong đoàn viên,
thanh niên. Duy trì mở rộng các lớp học thêm ngoại ngữ, tin học, tổ chức các
hội thi SV giỏi, khen thưởng kịp thời SV có đề tài nghiên cứu khoa học và có
kết quả cao trong học tập.
Tổ chức cho SV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi SV
giỏi, tổ chức các cuộc thi Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và
các hoạt động khuyến khích học tập như văn nghệ, thể dục thể thao và các
hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng
nhà trường với SV.
1.2.3. Quản lý hoạt động rèn luyện nhân cách của sinh viên
Nền Kinh tế nước ta đang phát triển theo kinh tế thị trường định hướng
XHCN, nền kinh tế thị trường có những mặt trái làm nảy sinh những hiện
tượng tiêu cực trong XH, ảnh hưởng xấu đến tư tưởng chính trị, tình cảm đạo



24

đức, lối sống của một bộ phận SV. Kinh tế phát triển kéo theo những mặt trái
của nó nảy sinh: nạn cờ bạc, số đề, rượu chè, ma túy, mại dâm ... trong xã hội
đang hình thành lối sống chạy theo đồng tiền khiến mối quan hệ gắn bó giữa
những người thân trong gia đình, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cộng đồng
với cá nhân ngày càng kém khăng khít, các cá nhân có xu hướng sống biệt
lập, chỉ biết mình... Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến tầng lớp trẻ nói
chung và SV nói riêng, SV là những đối tượng đang trong giai đoạn hình
thành và phát triển nhân cách, do không được quan tâm đúng mức nên đã
hình thành những suy nghĩ, hành động dễ bị lệch chuẩn.
Tổ chức hệ thống phát thanh, truyền thanh, truyền hình, bảng tin, chiếu
phim tư liệu, nói chuyện chuyên đề, triển khai các cuộc thi tìm hiểu về pháp
luật, đất nước, Đảng, lãnh tụ; thông tin, thông báo các vấn đề mới của đất
nước và thế giới kịp thời đến SV.
Thực hiện đủ và nghiêm túc “Tuần sinh hoạt công dân” đầu năm học, tổ
chức học tập các nghị quyết, chính sách mới, tổ chức các hoạt động giáo dục
truyền thống, ý thức đạo đức nghề nghiệp của người SV .
Tạo điều kiện phát huy ý thức tự giáo dục của SV và tự quản của tập thể
SV đối với công tác rèn luyện nhân cách cho SV. Phải tạo cho SV thói quen
tự quản trong việc tự rèn luyện bản thân và thực hiện các hoạt động do nhà
trường, Đoàn TN, Hội SV tổ chức nhằm nâng cao nhận thức từ đó có thái độ
và hành vi đúng đắn trong việc rèn luyện phẩm chất nhân cách, biến quá trình
rèn luyện thành quá trình tự rèn luyện. SV đang rất cần những sân chơi mô
phỏng nghề nghiệp do chính họ điều hành với sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, chủ
trương của Lãnh đạo nhà trường và sự tham gia, hướng dẫn của giảng viên.
Sự nỗ lực, ý thức của bản thân mỗi SV, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
trang bị cho mình một hành trang lý luận, một bản lĩnh chính trị vững vàng để

bước vào cuộc sống sau này.
Phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường tham gia quản lý hoạt
động rèn luyện nhân cách cho SV. Chúng ta biết rằng, bất cứ hoạt động nào trong


25

nhà trường mà không tìm được sự đồng thuận, không tìm được tiếng nói chung
giữa các lực lượng tham gia thì không bao giờ đạt được mục đích mong muốn.
Nếu các lực lượng giáo dục có tâm huyết, có nhận thức đúng, ý thức trách nhiệm
cao mà không được tạo điều kiện thuận lợi về cả tinh thần và vật chất thì công tác
rèn luyện nhân cách cho SV cũng không thể thành công. Vì vậy, cần một cơ chế
cụ thể cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường tham gia tổ chức, hỗ trợ hoạt
động của SV từ đó hình thành nhân cách phẩm chất, lối sống cho SV. Thông qua
các hoạt động tập thể của SV tạo ra các lớp SV phát triển toàn diện có đạo đức tri
thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp vững vàng, có lối sống, kỷ luật tốt, trung
thành với với lý tưởng độc lập đân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tổ chức giáo dục đạo đức, lối sống cho SV về những giá trị chuẩn mực đạo
đức truyền thống của dân tộc; những giá trị chuẩn mực đạo đức con người mới
theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; những giá trị chuẩn mực đạo
đức theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; những giá trị chuẩn mực đạo
đức của con người hiện đại trên cơ sở tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại,
đặc biệt là đạo đức người thầy thuốc “lương y như từ mẫu” để SV có thể hội
nhập với văn hóa thế giới, trong su thế toàn cầu hóa.
Theo dõi, đánh giá ý thức rèn luyện của SV qua từng môn học. Tổng hợp
phân loại, xếp loại SV theo từng học kỳ và cả năm học. Xây dựng chế độ
khen thưởng, trách phạt kịp thời, hợp lý, đây là biện pháp gián tiếp kích thích
động viên những bộ phận, những cá nhân có thành tích trong công tác rèn
luyện nhân cách của SV, đồng thời cũng là biện pháp nhằm làm giảm bớt
những hiện tượng làm cản trở và ảnh hưởng xấu đến công tác này. Tổ chức

các buổi học tập về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.
1.2.4. Quản lý hoạt động thực hiện chế độ chính sách, hoạt động văn
hóa, văn nghệ và thể thao của sinh viên
Tổ chức và tuyên truyền công tác chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch
bệnh và khám sức khỏe định kỳ cho SV.
Thực hiện các chế độ chính sách đối với SV, tạo điều kiện giúp đỡ SV
tàn tật, khuyết tật, SV diện chính sách, SV có hoàn cảnh khó khăn.


26

Xây dựng kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý như Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Liên hiệp
Thanh niên Việt Nam, các tổ chức khác trong trường, tổ chức các buổi liên
hoan văn nghệ, các cuộc thi đấu thể thao, sao cho phù hợp với điều kiện cụ
thể của nhà trường.
Xây dựng nhà trường văn hóa, chú trọng đến giáo dục phẩm chất người
SV, đạo đức ngành Y. Với phong trào thi đua “ Học tốt, rèn luyện tốt, phòng ở
kiểu mẫu, nhà trường không có ma túy và các tệ nạn xã hội”. Xây dựng môi
trường, cảnh quang xanh, sạch, đẹp. Tổ chức một số câu lạc bộ SV, các hội thi
truyền thống trong nhà trường như hội thi Tiếng hát SV, hội thi SV thanh lịch...
Tổ chức các buổi giao lưu để giáo dục, ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, truyền thống cách mạng, tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục đạo lý làm người; ý thức trách nhiệm,
nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp
sống văn hóa; ôn lại truyền thống lịch sử của dân tộc; ca ngợi nét đẹp văn hóa, bản
sắc dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; ca ngợi những biểu hiện tích cực và phê
phán những khuynh hướng tiêu cực trong mối quan hệ giữa con người với con
người, với di sản của nhân loại và với môi trường xung quanh.
Tổ chức phòng đọc để SV nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa nghệ thuật của

các vùng miền, các dân tộc của đấtt nước và các nước trên thế giới, thông qua
các hệ thống sách, báo, tạp chí và các phương tiện thông tin, truyền thông SV
có tầm nhìn và nhận thức được các nét đẹp ứng sử có văn hóa.
Tổ chức các câu lạc bộ cho SV tham gia các hoạt động văn hóa nghệ
thuật, văn hóa quần chúng, sáng tạo thẩm mỹ như văn học, âm nhạc, hội họa,
sân khấu, điện ảnh và các lĩnh vực nghệ thuật khác; Tổ chức biểu diễn văn
nghệ, chiếu phim định kỳ cho SV.
Tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, nhân
đạo, tình nguyện, bảo vệ môi trường và các hoạt động khác.
Tổ chức cho SV nghe các thông tin về thời sự, chính trị, xã hội để SV
cập nhật kịp thời tình hình trong nước và ngoài nước. Tổ chức các buổi sinh hoạt


27

tư tưởng chính trị, các cuộc thi tìm hiểu về đất nước và con người; các buổi giao
lưu văn hoá giữa SV trong nước, ngoài nước và các tầng lớp nhân dân. Tăng
cường tổ chức các hoạt động văn hóa quần chúng, giao lưu văn hoá, giới thiệu
chuyên đề văn hóa, xã hội và nghề nghiệp để SV được trực tiếp tham gia.
Tổ chức hoạt động thể thao cho SV theo phương pháp giáo dục ngoại
khoá, tạo điều kiện cơ sở vật chất cho SV luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức
cho SV tham gia các buổi giao lưu thi đấu thể dục, thể thao.
1.2.5. Quản lý hoạt động chính trị, an ninh, xã hội của sinh viên
Trước hết, cần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ
quản lý, các lực lượng, SV trong nhà trường nhận thức sâu sắc, đầy đủ về hệ thống
giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị và các giá trị xã hội để thống nhất thực hiện mục
tiêu giáo dục, về trách nhiệm tự giáo dục và tham gia vào các hoạt động an ninh,
chính trị, xã hội là điều kiện đầu tiên tạo ra thống nhất hành động trong toàn nhà
trường. Thực hiện công tác tuyên truyền thông qua các kênh truyền thông: báo
tường, tạp chí... Đây là một biện pháp đóng vai trò tiên quyết cho sự thành công.

Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài trường tham gia các hoạt động
chính trị, xã hội.Vì vậy, rất cần sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát hơn của Đảng uỷ đối với
Đoàn TN, Hội SV, phối kết hợp chặt chẽ với các Phòng, Bộ môn, giáo viên chủ
nhiệm, cán bộ viên chức... cũng như phối hợp với các Ban ngành cấp trên trong
việc thường xuyên bổ sung kịp thời đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội có năng lực, thực sự
là những thủ lĩnh trong tổ chức các hoạt động cho SV, thông qua đó tiến hành công
tác giáo dục chính trị tư tưởng cho SV theo mục tiêu chung đã đề ra. Đối với các
hoạt động mang tính chất xã hội như phòng chống ma túy và tội phạm, chấp hành
nghiêm chỉnh luật giao thông, phòng chống HIV-AIDS, ngăn ngừa, xử lý kịp thời
không để các tệ nạn xâm nhập vào học đường... không thể thực hiện thành công nếu
thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
Tổ chức những buổi báo cáo chuyên đề hay nói chuyện thời sự cho SV.
Nâng cao chất lượng đội ngũ GV nhất là đối với các môn khoa học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bởi vì kiến thức của môn học này tạo nên niềm


×