Tải bản đầy đủ (.doc) (128 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý QUÁ TRÌNH GIÁO dục TRUYỀN THỐNG CHO học SINH TRƯỜNG TRUNG học cơ sở ở QUẬN HAI bà TRƯNG, THÀNH PHỐ hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.73 MB, 128 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIÁO
DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho
học sinh các trường trung học cơ sở
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quá trình giáo dục
truyền thống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chương CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC
2.
SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ,
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
giáo dục ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng quá trình giáo dục truyền thống cho học
sinh các trường trung học cơ sở, quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
2.3. Thực trạng quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho
học sinh ở các trường trung học cơ sở, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội; nguyên nhân của thực trạng
Chương 3. YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, QUẬN HAI BÀ
TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY



3.1. Yêu cầu quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho
học sinh ở các trường trung học cơ sở, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
3.2. Biện pháp quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho
học sinh các trường trung học cơ sở, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
3
12
12
21

31

38
38

40

46

59


59

63
84
93
97
100



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế", "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần
quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam" [10, tr. 15]
Trong các văn kiện Đại hội XII ( tháng 1 năm 2016), Đảng ta nhấn mạnh
sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về
sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con
đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc
sống. Văn kiện Đại hội XII khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo
dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.
Bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang có những biến đổi mạnh mẽ và sâu
sắc, mọi mặt của đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa, toàn cầu
hóa, đã mang lại cho nước ta nhiều cơ hội lớn để phát triển cũng như những
thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào

tạo, y tế, tạo tiền đề quan trọng đưa nước ta hòa nhập vào dòng chảy của thời
đại. Nhưng bên cạnh đó, trong sâu thẳm của đời sống xã hội, chúng ta đang
phải đối mặt trước những vấn đề mang tính báo động, đó là sự tha hóa về
nhân cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là
học sinh, sinh viên; những tệ nạn xã hội đang ngày đêm hoành hoành, len lỏi
phá hoại nếp sống văn minh, đạo lý truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc.
Đây là những vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự sống còn của quốc gia,
dân tộc trong quá trình hội nhập.
3


Làm thế nào để những truyền thống tốt đẹp của chúng ta được bảo tồn và
phát huy trong giai đoạn hội nhập hiện nay? Làm thế nào để mọi công dân,
đặc biệt là thế hệ trẻ thấy tự hào về truyền thống dân tộc, tự hào khi là công
dân Việt Nam? Đó là những câu hỏi được cả xã hội quan tâm.
Nhà trường với đặc trưng của nó là nơi thuận lợi nhất cho việc truyền
dạy cho thế hệ trẻ hiểu, yêu, tự hào với các truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và biết cách phát huy nó. Hoạt động giáo dục truyền thống và quản lý quá
trình giáo dục truyền thống giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng tại các
nhà trường THCS trong việc thực hiện nhiệm vụ “ Dạy người” . Thông qua
hoạt động giáo dục truyền thống với nhiều hình thức phong phú, những giá trị
đạo đức chuẩn mực của dân tộc sẽ được học sinh tiếp thu, biến thành thói
quen đạo đức, nó lan tỏa và giúp cho chất lượng dạy và học trong nhà trường
được nâng cao.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động giáo dục ở các nhà trường trong những
năm học vừa qua cho ta thấy chất lượng giáo dục truyền thống và quản lý quá
trình giáo dục truyền thống cho học sinh ở các trường THCS còn những hạn
chế. Các kiến thức về văn hóa, truyền thống, ý thức công dân chủ yếu được
truyển tải đến học sinh lồng ghép qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động
tập thể với tần suất thấp, thông thường là 01 lần/ tháng/ năm học do vậy hiệu

quả giáo dục chưa cao. Hiện tượng học sinh vi phạm chuẩn mực đạo đức
truyền thống có lúc, có nơi còn đang gia tăng.
Để khắc phục hạn chế này, Bộ GD&ĐT cùng Sở GD&ĐT Hà Nội đã
đưa ra chủ trương dạy tích hợp giáo dục truyền thống trong các môn học.
Nhưng tất cả những điều đó mới chủ yếu dừng ở chủ trương, chưa được triển
khai sâu rộng trong các nhà trường. Hiện nay, mảng giáo dục truyền thống
cho học sinh thông qua các môn học còn đang bỏ trống.
Về mặt lý luận đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục
truyền thống cho học sinh các cấp, sinh viên đại học nhưng chưa có công
4


trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc giáo dục truyền thống cho học sinh
các trường trung học cơ sở, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Quản lý quá
trình giáo dục truyền thống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý giáo dục của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Giáo dục truyền thống cho học sinh là một vấn đề không mới. Cha ông
xưa đã dạy:
“Con người có tổ, có tông
Như cây có cội như sông có nguồn”.
đã là người Việt Nam, dù ở địa vị nào, ở bất kỳ nơi đâu, hoàn cảnh nào cũng
đừng quên cội nguồn dân tộc, phải nhớ đến quê hương, nơi chôn nhau cắt
rốn, gốc rễ tổ tiên và xa hơn nữa là khắc ghi những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc.
Vấn đề giáo dục giá trị truyền thống những năm qua đã có nhiều công
trình nghiên cứu ở dưới các góc độ khác nhau. Nhiều tạp chí khoa học đã đăng
tải những bài viết về vấn đề giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ như bài viết "Giá

trị tinh thần truyền thống Việt Nam" do Trần Văn Giàu chủ biên, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1980; "Về truyền thống dân tộc" của Trần Quốc Vượng, Tạp chí
Cộng sản, số 3-1981; "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu
phát triển của xã hội hiện đại" của Lương Quỳnh Khuê, Tạp chí Triết học, số 41992; "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của
đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của Trần Nguyên Việt, Tạp chí Triết học, số
5, 2002; "Từ "cái thiện" truyền thống đến "cái thiện" trong cơ chế thị trường ở
Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 8, 2002; v.v.
Đáng chú ý trong các tác giả này là nhà nghiên cứu Hà Thế Ngữ đã đi sâu nghiên
cứu vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa
5


học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn. Ngoài ra tác giả còn đề cập
đến việc rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, trên cơ sở đó giáo dục thế giới
quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi
đạo đức cho học sinh.
Đề cập đến vấn đề giáo dục truyền thống không chỉ có các bài viết trên
các tạp chí mà còn có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sỹ,
Tiến sỹ như: “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá
trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến
sỹ triết học của Nguyễn Văn Lý (2000) đã phân tích những mặt tích cực và
hạn chế trong đạo đức truyền thống dân tộc, các tác giả đã xác định rõ những
nội dung cần kế thừa đổi mới, bên cạnh đó chỉ ra những thiếu hụt cần bổ sung
trong các giá trị đạo đức truyền thống nhằm phát huy vai trò của đạo đức,
nhất là đạo đức truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay, từ đó đề xuất
những phương hướng và giải pháp cơ bản đảm bảo kế thừa và đổi mới các giá
trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt
Nam; “ Từ cái thiện truyền thống đến cái thiện trong giáo dục đạo đức cho
học sinh hiện nay”, luận án tiến sĩ của Lê Thị Hoài Thanh ( 2002); “Kế thừa
giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam

hiện nay”của Cao Thu Hằng (2011), đã làm rõ giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc, vai trò của nó trong hình thành, phát triển nhân cách con người, tính
tất yếu phải kế thừa, tác giả đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp kế thừa
các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng nhân cách con người
Việt Nam hiện nay; “ Một số giải pháp giáo dục truyền thống cách mạng cho
thế hệ trẻ Việt Nam của Đoàn thanh niên thông qua hệ thống bảo tàng và di
tích lịch sử cách mạng” do Phạm Bá Khoa làm chủ nhiệm đề tài (2011) đã đi
sâu phân tích giá trị của hệ thống bảo tàng và di tích lịch sử trong việc giáo
dục truyền thống cho thế hệ trẻ; “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc trong xây dựng lối sống mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của Mai

6


Thị Như Hoa (2014). Tác giả đã làm rõ vai trò, thực trạng của việc giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ
Việt Nam thời gian qua, từ đó đề ra phương hướng và một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc trong
xây dựng lối sống cho đối tượng này ở Việt Nam hiện nay. “ Vấn đề giáo dục
giá trị truyền thống cho sinh viên hiện nay qua thực tế một số trường Đại học
và Cao đẳng ở Hà Nội” của Nguyễn Huệ Linh ( 2014). Tác giả đã điều tra,
nghiên cứu chuyên sâu tình hình giáo dục truyền thống cho sinh viên và chỉ ra
những tồn tại, bất cập cần đổi mới của hoạt động này ở các trường Đại học và
cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ngoài hệ thống luận văn, còn có nhiều sáng kiến kinh nghiệm trình bày vấn
đề giáo dục truyền thống cho học sinh trong nhà trường như sáng kiến “ Giáo
dục truyền thống cho học sinh tiểu học” của Nguyễn Hải Châu ( 2012); “ Giáo
dục truyền thống cách mạng, truyền thống Đoàn, Đội cho học sinh THCS” của
Nguyễn Thị Thuận ( Năm 2014); “ Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho
lứa tuổi vị thành niên trong nhà trường” của Nguyễn Sỹ Đạt; “ Giáo dục tuyền

thống cho học sinh thông qua hoạt động âm nhạc ngoại khóa” của Bùi Minh
Đức ( 2015); “ Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh phổ
thông trong giai đoạn hiện nay” của Phạm Minh Chí (2015).
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết đều có ý nghĩa to lớn đối
với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống cho học sinh, sinh
viên hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên, những công trình này thường đi sâu bàn
luận về giáo dục truyền thống đạo đức cho học sinh, sinh viên ở một khía
cạnh nào đó như qua một môn học, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp…chưa đề
cập một cách trực tiếp đến việc quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho
học sinh Việt Nam nhất là học sinh ở độ tuổi phổ thông trong giai đoạn công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những tài liệu nêu trên giúp tôi nghiên cứu, tham khảo, kế thừa để triển
khai, hoàn thiện luận văn của mình.
7


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý quá trình giáo dục truyền
thống cho học sinh các trường THCS. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý
quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục truyền
thống cho học sinh THCS.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quá trình giáo dục truyền thống, quản lý
quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quá trình giáo dục truyền thống, quản lý
quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
- Đề xuất biện pháp quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh

các trường THCS, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình giáo dục nhân cách cho học sinh các trường Trung học
cơ sở, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
* Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về Quản lý quá trình giáo dục truyền
thống cho học sinh ở các nhà trường THCS, quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội.
- Nghiên cứu qua thực tế, qua các báo cáo tổng kết, các sản phẩm của
quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh trong các nhà trường THCS ở

8


quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ( Nguồn tham khảo là các tư liệu từ
năm 2011 đến nay).
- Do điều kiện thời gian nên đề tài nghiên cứu chủ yếu về quản lý quá
trình giáo dục truyền thống dân tộc thông qua giảng dạy các bộ môn khoa
hoc xã hội tại một số trường THCS trong quận Hai Bà Trưng: Trường
THCS Minh Khai, trường THCS Lương Yên, trường THCS Tây Sơn và
THCS Vân Hồ.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo dục truyền thống cho học sinh THCS có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nếu các chủ thể quản lý giáo dục truyền thống của các trường THCS tiến
hành đồng bộ các biện pháp như: nâng cao nhận thức của chủ thể quản lý về
giáo dục truyền thống cho học sinh; chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp,

hình thức giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS; tổ chức bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các môn khoa học xã hội; quản lý
chặt chẽ kế hoạch kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục truyền thống cho học
sinh THCS; phối hợp với phụ huynh học sinh về hoạt động rèn luyện của học
sinh theo giá trị truyền thống thì sẽ quản lý tốt quá trình giáo dục truyền thống
cho học sinh các trường THCS, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục, quản
lý giáo dục đào tạo. Đồng thời trong quá trình nghiên cứu tác giả tiếp cận vấn
đề theo quan điểm hệ thống- cấu trúc, lịch sử- logic và quan điểm thực tiễn để
luận giải các nhiệm vụ của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Trong qua trình nghiên cứu, đề tài đã vận dụng kết hợp nhiều nhóm
phương pháp nghiên cứu.
9


- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp phân tích tài liệu: Tìm hiểu, phân tích các công trình của
các nhà khoa học đi trước về các vấn đề mình đang nghiên cứu; Phân tích các
thông tin mình tìm hiểu được từ thực tế để rút ra giải pháp thích hợp.
Phương pháp so sánh - lịch sử: Đối chiếu, so sánh các giá trị văn hóa
truyền thống trong mối liên hệ với các giá trị văn hóa hiện đại trên cơ sở đó xác
định những giá trị văn hóa cần được giáo dục cho học sinh lứa tuổi THCS.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này được sử dụng để khám phá, phát hiện, xử lý
thông tin, rút ra kết luận khoa học, đồng thời còn được sử dụng trong việc

kiểm chứng các lý thuyết, các kết luận khoa học.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn đã được sử dụng như sau:
Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát đời sống của học sinh ở các
trường THCS trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong quan niệm, giao tiếp, ứng
xử để biết thêm những thông tin về thái độ ứng xử của các em đối chứng với
các truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Phương pháp điều tra xã hội học bằng Bảng hỏi. Người phỏng vấn sẽ trả
lời các câu hỏi theo một bảng hỏi đã được thiết kế sẵn. Đối tượng được điều
tra là Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh ở các trường: Trường THCS Tây
Sơn, THCS Hai Bà Trưng, THCS Lương Yên, THCS Minh Khai và THCS
Vân Hồ thuộc Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (Ban giám hiệu: 11; Giáo viên:
100; Học sinh: 150)
Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê .
Phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
7. Ý nghĩa của đề tài
Hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề lý luận về giáo dục truyền thống và
quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh THCS trong nhà trường.

10


Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh
của các trường THCS trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Phân tích và đánh giá, chỉ rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế của
quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh các trường THCS, quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay.
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý
quá trình giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh THCS. Mục đích hướng tới
là xây dựng đội ngũ học sinh phổ thông biết trân trọng, gìn giữ và phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc góp phần vào công cuộc xây dựng

đất nước phồn vinh, ngang tầm thế giới nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.
8. Kết cấu của đề tài
Cấu trúc của đề tài gồm: phần mở đầu; phần nội dung có 3 chương (9
tiết); phần kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các bản
phụ lục.

11


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo dục truyền thống
* Giáo dục
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giáo dục là đào tạo và phát triển con người
về các mặt trí tuệ và tình cảm, trau dồi cho con người ý thức trọng sự thật,
yêu cái đẹp, làm điều hay. Phát triển ở con người một khả năng hay tình
cảm” [30, tr. 330]
Theo tác giả Henri Benac, “Giáo dục là dùng các phương tiện thích hợp
nhằm đảm bảo việc đào tạo và phát triển một con người để con người được
đào tạo trong tương lai có năng lực tự chủ ( tri thức, văn hóa, phương pháp
làm việc)” [14, tr. 261]
Giáo dục, theo nghĩa rộng nhất là sự tác động của xã hội toàn bộ đến con
người. Giáo dục được bao gồm giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục
xã hội và tự giáo dục. Giáo dục là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào
cuộc sống xã hội. Trong quá trình này thế hệ trẻ phải tiếp nhận những gì mà xã
hội tích lũy được (tri thức, kỹ năng sống, kỹ năng lao động, những chuẩn mực
hành vi trong gia đình xã hội và thiên nhiên...). Thế hệ trẻ phải có những phẩm
chất cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ mới của thời đại mình đặt ra.

Như vậy, có thể nói rằng, giáo dục là quá trình các thế hệ đi trước truyền
đạt cho thế hệ mới những kinh nghiệm lịch sử - xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ
mới cuộc sống lao động và kỹ năng sống đảm bảo cho xã hội tiếp tục phát triển.
Qua các khái niệm trên, ta có thể hiểu rằng, “giáo dục” là sự hoàn
thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người
giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ
hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho
thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.
12


Bàn về vai trò của giáo dục , trong lịch sử đã có nhiều người đề cập tới.
Khổng Tử (551-479 trCN) đã nói: “Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất
học, bất tri đạo”. Hồ Chủ tịch cũng viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần
nhiều do giáo dục mà nên”. Và trong tuyên bố của AIA (Năm quốc tế chống
mù chữ) có nêu "Giáo dục là quan trọng, nó là một sinh lực tác động lên mọi
mặt của đời sống. Giáo dục là điều kiện hết sức thiết yếu, thậm chí chính là
động lực của tiến bộ... Giáo dục, tóm lại, vừa là thước đo, biện pháp và ý
nghĩa của sự phát triển".
Phát triển "nguồn lực con người" (hoặc nguồn nhân lực, hoặc nguồn tài
nguyên con người (Human Resourees Development - HRD), về cơ bản, cần
được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con người về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, thể
chất, kỹ năng, tâm hồn... để hình thành nhân cách văn hóa. Đó chính là những
năng lực, phẩm chất mới của con người mà giáo dục phải đảm nhận nhằm đáp
ứng những yêu cầu to lớn của đất nước và thời đại.
Thời đại ngày nay, trên toàn cầu, cũng như ở nước ta, không ai không
thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của giáo dục. Theo Phạm Minh Hạc trong
báo cáo tổng kết sau ba năm làm việc của Ủy ban chuẩn bị giáo dục đi vào thế
kỷ XXI của tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa của liên hiệp quốc
(UNESCO) đã nêu ra 4 mục tiêu (nguyên lý) của nền giáo dục tương lai của

nhân loại là: 1) Học để biết; 2) Học để làm; 3) Học để chung sống; 4) Học để
làm người, để tự khẳng định mình.
Có ba loại giáo dục: giáo dục gia đình; giáo dục nhà trường và giáo dục
xã hội. Mỗi loại giáo dục có chức năng, vai trò, thế mạnh riêng mà khó có thể
thay thế, thậm chí không thể thay thế. Trong luận văn này tôi chỉ đi sâu vào
những vấn đề giáo dục trong nhà trường.
* Truyền thống
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Truyền thống là cách suy nghĩ, cư xử, hành
động, thừa hưởng từ thế hệ trước” [30, tr. 868]

13


Truyền thống có nhiều cấp độ khác nhau. Có truyền thống gia đình,
truyền thống của từng địa phương, đơn vị, truyền thống cách mạng, truyền
thống dân tộc. Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta phải là cơ
sở đầu tiên cho việc hình thành tư tưởng, tình cảm của tuổi trẻ.
Vậy truyền thống là những thói quen, tập quán, chuẩn mực trong hành
vi, phong cách sống và hoạt động được mọi người thừa nhận và tuân theo,
được giữ gìn và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác như là sản phẩm
tinh thần của tập thể.
Truyền thống có một số đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng thứ nhất : Đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lý, đạo
đức... tốt đẹp, có tác dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội, tạo ra sức
mạnh cho con người vượt qua khó khăn trong cuộc sống để phát triển xã hội
và hoàn thiện nhân cách. Có những phong tục tập quán, những thói quen
không phù hợp với sự phát triển xã hội như “ Nhất nam viết hữu- Thập nữ
viết vô” hay những quy định khắt khe của lễ giáo phong kiến ngày xưa "Tam
tòng tứ đức"... thì không thể coi đó là những truyền thống. Khi nói đến
truyền thống, thường nói đến những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức tốt

đẹp, có ý nghĩa tích cực.
Đặc trưng thứ hai: truyền thống được hình thành trong hoạt động, trải
qua một thời gian nhất định của cuộc sống, giao lưu xã hội, hoạt động thực
tế. Ví dụ "truyền thống yêu nước" của dân tộc nảy sinh trong cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm, giữ gìn giang sơn của Tổ quốc, bảo vệ quyền độc
lập của dân tộc. "Truyền thống cần cù” được hình thành và phát triển trong
cuộc lao động xây dựng đất nước, chống lại sự đe dọa của tự nhiên để duy
trì nòi giống, xây dựng quê hương đất nước. Những truyền thống "tôn sư
trọng đạo" được khởi đầu từ trọng nhân nghĩa, lấy "tiên học lễ, hậu học
văn", "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" làm nguyên tắc sống và quan hệ với thầy
giáo, với cộng đồng.
14


Nhiều khi truyền thống hình thành một cách tự phát, không theo ý muốn
chủ quan của cá nhân nhưng mọi người, nhất là các nhà quản lý, các nhà sư
phạm cần ý thức nâng niu, giữ gìn truyền thống tốt đẹp đã hình thành qua
năm tháng của lịch sử và xây dựng truyền thống mới.
Đặc trưng thứ ba của truyền thống: được nhiều người thừa nhận, là
những giá trị tốt đẹp, cần giữ gìn, phát triển, được mọi người thực hiện như
một nhu cầu tất yếu, không cần có sự giám sát của cơ quan pháp luật,
những hành vi của mọi người được điều chỉnh bằng dư luận của cộng đồng
xã hội và lương tâm của mỗi người. Khi đã được mọi người thừa nhận,
chấp nhận thì truyền thống sẽ điều chỉnh hành vi của con người bằng lương
tâm, trách nhiệm, khả năng tự ý thức. Con người lúc đó tuân thủ những quy
ước, những chuẩn mực đạo đức một cách tự nguyện, không cần đến sự
giám sát của những người điều hành pháp luật, lúc ấy chỉ còn sự điều chỉnh
của dư luận xã hội.
Hệ thống giá trị truyền thống Việt Nam rất phong phú, đầy sức sống, đã
được lịch sử công nhận và thế giới ngày nay tôn trọng. Nó phải là nội dung

được giáo dục xuyên suốt trong giảng dạy tất cả các bộ môn, các cấp học, bậc
học, trong mọi hoạt động giáo dục ở tất cả các trường, đặc biệt trong các bộ
môn quốc ngữ, quốc sử, quốc văn và địa lý quốc gia.
* Giáo dục truyền thống
Từ khái niệm về “giáo dục”, về “truyền thống” chúng tôi có thể đưa ra
khái niệm về giáo dục truyền thống cho học sinh như sau: Giáo dục truyền
thống là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục tới
đối tượng giáo dục theo những thói quen, tập quán, chuẩn mực hành vi, phong
cách sống và hoạt động nhằm hình thành, phát triển cho họ ý thức, tình cảm,
niềm tin, niềm tự hào về truyền thống phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của nhà
trường và xã hội. Đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập cho học sinh
thói quen, hành vi ứng xử theo các chuẩn mực truyền thống của dân tộc.

15


Thực hiện tốt việc giáo dục nội dung này trong nhà trường có tác dụng
vô cùng to lớn, nó góp phần dạy đạo làm người cho thế hệ trẻ, biến thành vốn
quý của mỗi con người, mỗi gia đình, tạo nên sức mạnh của từng địa phương
và cả nước vượt qua mọi thử thách, nguy cơ. Chúng ta cần tận dụng thời cơ
đổi mới, mở cửa, thị trường, hội nhập, đa phương theo hướng tổng quát để
thực hiện nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ tiếp nối cha anh
giữ gìn nền độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Giáo dục truyền thống cho học sinh là một bộ phận không thể thiếu được
trong quá trình giáo dục tổng thể trong nhà trường. Trong thời đại ngày nay,
khi xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm mọi mặt của xã hội. Hơn bao giờ hết
chúng ta cần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, đặc biệt là cho thế hệ học
sinh THCS- lứa tuổi định hình nhân cách cá nhân.
Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần
rất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, học sinh nói riêng. Liệu chúng ta có thể giữ

vững định hướng xã hội chủ nghĩa khi học sinh, sinh viên bị phai nhạt lý
tưởng, khi hiểu biết hạn chế về lịch sử, thiếu ý thức giữ gìn, thậm chí là xa rời
truyền thống đạo đức dân tộc nói chung, truyền thống đạo đức cách mạng nói
riêng? Cần khẳng định rằng, điều tiên quyết và không thể thiếu đó là truyền
thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng nước nhà - đó là tiền đề giúp chúng ta “hội nhập”
mà không “hòa tan”, phát triển mà không bị “mất gốc”, trọng truyền thống mà
không bảo thủ, hiện đại, nhạy bén mà không lung lay bản lĩnh, tất cả những
điều đó đã và đang giúp cho học sinh, sinh viên nâng cao hơn nữa bản lĩnh
của mình, đứng trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại; giúp
cho dân tộc Việt luôn đứng vững và trường tồn trong suốt chiều dài lịch sử.
Vì vậy, việc giáo dục, bồi dưỡng để học sinh ngay từ cấp THCS có đủ tri
thức, có cái nền truyền thống cách mạng của Đảng trong mình thì mới đảm
nhiệm thành công sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng XHCN là
việc làm có ý nghĩa quyết định.
16


Mục đích giáo dục truyền thống cho học sinh là giúp các em hiểu biết
sâu sắc quá khứ gian khổ, đau thương nhưng anh dũng và vinh quang của dân
tộc, của Đảng để tự hào, tin tưởng, nhận rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, nâng
cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế chân chính, xây
dựng thái độ lao động mới, ý thức tự lực tự cường, có trách nhiệm với xã hội,
với tương lai của dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của các thế hệ cha anh đi trước,
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa.
Những nội dung cơ bản của truyền thống cần bồi dưỡng giáo dục cho
học sinh là tình yêu nước nồng nàn, bất khuất, kiên cường đấu tranh cho độc
lập tự do; Tinh thần nhân đạo cao cả; Truyền thống hiếu học, lao động cần cù,
sáng tạo và tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống.

Để giáo dục truyền thống cho học sinh, các trường THCS từ trước đến
nay đều sử dụng con đường tuyên truyền qua các buổi sinh hoạt dưới cờ đầu
tuần, sinh hoạt ngoại khóa định kì tháng/ năm. Khoảng 2- 3 năm gần đây, có
thêm một con đường nữa được lựa chọn là tích hợp giáo dục các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc cho học sinh thông qua các môn học trong nhà
trường, nhất là các môn thuộc nhóm khoa học xã hội.
1.1.2. Quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh trung học cơ sở
Quá trình là tổng thể nói chung những hiện tượng nối tiếp nhau trong
thời gian theo một trình tự nhất định của một sự việc nào đó.
Quá trình sư phạm tổng thể bao gồm hai quá trình: quá trình dạy học
và quá trình giáo dục. Nếu quá trình dạy học có mục tiêu là giúp cho học
sinh nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ học tập, thì quá
trình giáo dục có mục tiêu chủ yếu là hình thành phẩm chất nhân cách của
người công dân.
Quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh THCS là sự tác động có kế
hoạch, có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục đến toàn bộ quá trình
17


giáo dục truyền thống cho học sinh nhằm đảm bảo cho quá trình giáo dục
truyền thống diễn ra đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả đáp ứng mục
tiêu, yêu cầu giáo dục của nhà trường.
Quá trình giáo dục truyền thống chính là quá trình sử dụng các phương
pháp giáo dục để tác động lên học sinh nhằm hình thành những quan điểm
sống, những thói quen tốt phù hợp truyền thống cho các em. Mục đích cuối
cùng của quá trình giáo dục là tạo lập cho con người những hành vi, thói quen
có văn hóa và chúng phải được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày. Con
người được giáo dục cũng đồng nghĩa với con người đã hình thành được thói
quen sống có văn hóa.
Quá trình giáo dục truyền thống cũng giống như quá trình giáo dục bao

gồm nhiều thành tố có thể hệ thống hóa bằng sơ đồ sau:
M
H

G
QL

P

N
ĐK

M- Mục tiêu giáo dục truyền thống: nhằm hình thành cho học sinh ý
thức, tình cảm, niềm tin, niềm tự hào với những quy tắc, thói quen tốt đẹp,
những giá trị chuẩn mực của xã hội
N- Nội dung giáo dục truyền thống: các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của
dân tộc được hun đúc trong hàng ngàn năm lịch sử đến nay vẫn giữ nguyên
giá trị

18


P- Phương pháp giáo dục truyền thống: gồm ba nhóm phương pháp cơ
bản. Nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp tác động trực tiếp
đến nhận thức, nhóm phương pháp tác động trực tiếp đến thái độ
G- Giáo viên: Chủ thể tác động trong quá trình giáo dục truyền thống
H- Học sinh: Chủ thể tiếp nhận quá trình giáo dục truyền thống
ĐK- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Giữ vai trò quan trọng giúp cho quá
trình giáo dục truyền thống diễn ra thuận lợi, đạt hiệu quả cao.
QL- Quản lý: Nhà quản lý giáo dục, người chỉ đạo, điều hành để các

thành tố của quá trình giáo dục truyền thống phát huy hết sức mạnh góp phần
thực hiện mục tiêu của giáo dục truyền thống là hình thành cho học sinh ý
thức, tình cảm, niềm tin, niềm tự hào với những quy tắc, thói quen tốt đẹp,
những giá trị chuẩn mực của xã hội.
Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ là một quá trình phụ thuộc vào trình
độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và vốn hiểu biết của mọi người, giáo
dục truyền thống gắn liền với các quá trình giáo dục trong gia đình, nhà trường,
xã hội, đặc biệt gắn liền với việc xác định những giá trị đạo đức, văn hóa, pháp
luật và các phong trào chính trị xã hội của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy
để quá trình giáo dục truyền thống đạt hiệu quả cao, quá trình quản lý quá
trình giáo dục truyền thống trong mỗi nhà trường THCS cần được thực hiện
nghiêm túc.
1.1.3. Quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh trung học
cơ sở
* Quản lý
Khái niệm “quản lý” đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách
khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Tiếng Việt định
nghĩa “ quản lý tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện” [30, tr 663];
Frederik Winslon Taylo ( 1856 – 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của
thuyết quản lý khoa học” đã định nghĩa “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng
19


chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt
nhất, rẻ nhất.”; Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói
chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
[2, tr. 24]; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã viết: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt

tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [8, tr.50]
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ
tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý,
từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu:
Quản lý là những hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy
động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật
lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức( chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu
nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Trong giáo dục, quản
lý thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá
trình dạy học, giáo dục theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán
triệt được những tính chất của nhà trường trong thời kì mới, bằng cách đó tiến
tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới. Nhà quản lý giáo dục
tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài
chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các bộ phận trong hệ
thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt
số lượng, cũng như về chất lượng.
* Quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh trung học cơ sở
Quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh
THCS là những tác động có mục đích, có hệ thống của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện tốt mục
tiêu, nhiệm vụ giáo dục truyền thống cho học sinh góp phần nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh các trường
20


THCS.
Mục tiêu quản lý là toàn bộ quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh
trong nhà trường THCS phải tiến hành nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Quản
lý từ khâu xác định mục đích giáo dục truyền thống đến khâu xây dựng kế
hoạch rồi tổ chức hoạt động và cuối cùng là khâu kiểm tra, đánh giá. Phải

quản lý từ nội dung giáo dục truyền thống đến đội ngũ tham gia quá trình giáo
dục truyền thống cho học sinh.
Chủ thể của quản lý quá trình giáo dục truyền thống trong nhà trường là
Ban giám hiệu nhà trường, đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên, nhân viên.
Đối tượng quản lý quá trình giáo dục truyền thống là các em học sinh
THCS, nội dung quản lý quá trình giáo dục truyền thống, đội ngũ giáo viên
vừa là chủ thể quản lý đồng thời cũng là đối tượng quản lý.
Phương thức quản lý quá trình giáo dục truyền thống là tập trung dân
chủ, thông qua Ban giám hiệu nhà trường, thực hiện phân cấp quản lý, phối
kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong quản lý giáo dục
truyền thống cho học sinh.
1.2. Nội dung quản lý quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh
các trường trung học cơ sở
Nội dung quản lý quá trình giáo dục truyền thống bao gồm xác định
mục tiêu, kế hoạch, xây dựng nội dung, phương pháp giáo dục, hình thức thực
hiện và kiểm tra đánh giá.
1.2.1. Quản lý mục tiêu, kế hoạch giáo dục truyền
thống cho học sinh trung học cơ sở
Trong mọi hoạt động, vấn đề xác định đúng và quán triệt sâu sắc mục tiêu
trong quá trình thực hiện là điều kiện quyết định cho kết quả hoạt động. Vì vậy
việc xác định đúng và thực hiện nghiêm túc mục tiêu giáo dục đòi hỏi phải có
nhận thức đúng, có biện pháp tổ chức thực hiện kiên trì bền bỉ mới thành công.
Mục tiêu giáo dục truyền thống về thực chất là sự định hướng của thế hệ
21


trước đối với các thế hệ tiếp sau, với mong muốn thế hệ trẻ nhanh chóng tiếp
thu được những tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, nắm vững những
giá trị truyền thống để trở thành những công dân tốt, sống có ích cho bản
thân, gia đình và xã hội, phù hợp với trào lưu phát triển của thời đại.

Ở bình diện xã hội, mục tiêu giáo dục truyền thống là đào tạo một thế hệ
công dân mới có những phẩm chất đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, có ý thức tham gia xây
dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Ở bình diện cá nhân, mục tiêu giáo dục truyền thống là giúp cho cá nhân
học sinh nắm được các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bồi dưỡng cho các
em ý thức học tập và làm theo những điều tốt đẹp đó. Hình thành nên những
công dân trong tương lai có ý thức, biết sống hoà nhập với cộng đồng, biết
phấn đấu vươn lên tự khẳng định mình trong một xã hội đang phát triển hết
sức năng động.
Quản lý mục tiêu giáo dục truyền thống cho học sinh phải bắt đầu từ
việc xây dựng mục tiêu một cách phù hợp. Khi xây dựng mục tiêu trước hết
phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về nguồn lực con người, về
chủ trương phát triển giáo dục. Tiếp theo phải quán triệt mục tiêu giáo dục
quốc gia đã xác định cho từng cấp học, bậc học, được các cơ quan quản lý
giáo dục đào tạo địa phương triển khai. Khi cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, mỗi
nhà trường cần tính đến các điều kiện thực hiện. Nghĩa là mục tiêu xây dựng
phải phù hợp với yêu cầu dạy học của nhà trường, phù hợp với đặc điểm học
sinh trung học cơ sở. Mục tiêu phải rõ ràng, cụ thể để học sinh cũng như giáo
viên dễ dàng và thuận lợi trong quá trình tổ chức các hoạt động, thuận lợi cho
việc kiểm tra, đánh giá kết quả.
Vấn đề quan trọng được đặt ra đối với các nhà giáo dục không chỉ là
xác định đúng mục tiêu của quá trình giáo dục truyền thống mà cần phải

22


biết tổ chức các hoạt động giáo dục một cách đa dạng để đạt được các mục
đích đã đề ra.
Các nhà quản lý giáo dục, trên cơ sở phân tích thực trạng quá trình

giáo dục truyền thống trong nhà trường, xây dựng một kế hoạch giáo dục
hợp lý, phát huy được vai trò giáo dục của các bộ môn khoa học xã hội
trong nhà trường.
Việc xây dựng dư luận, tạo ra dư luận lành mạnh phụ thuộc vào nhận
thức, lương tâm trách nhiệm, hành vi của mỗi người trong việc duy trì truyền
thống đạo lý của dân tộc.
Việc xác định mục tiêu, kế hoạch có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của
cả quá trình giáo dục. Với mục tiêu, kế hoạch cụ thể, chính xác và đồng bộ, sẽ
giúp cho các trường triển khai quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh
thuận lợi, đúng hướng, bám sát vào tình hình thực tiễn... Nếu mục tiêu, kế
hoạch của quá trình giáo dục truyền thống cho học sinh không chính xác, xa
dời thực tiễn sẽ làm cho cả quá trình giáo dục truyền thống bị chệch hướng
ngay từ đầu, dẫn đến cả quá trình không đạt được hiệu quả mong muốn. Vì
vậy, người làm công tác quản lý phải đặc biệt quan tâm đến việc xác định mục
tiêu, kế hoạch, nhằm đưa ra được những mục tiêu, kế hoạch cụ thể nhất, bám
sát tình hình thực tiễn nhất, phù hợp với khả năng hoàn thành nhất.
1.2.2. Quản lý nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục truyền
thống cho học sinh trung học cơ sở
Đây là một trong những yêu cầu quan trọng đối với những người làm
công tác quản lý trong giai đoạn hiện nay. Quản lý nội dung là quản lý từ
khâu thiết kế xây dựng chương trình đến toàn bộ quá trình thực hiện chương
trình, nội dung đó. Để thực hiện tốt vấn đề này, yêu cầu đội ngũ cán bộ quản
lý phải quán triệt sâu sắc mục tiêu, yêu cầu giáo dục truyền thống.
Nội dung giáo dục truyền thống là hệ thống tri thức về các giá trị văn
hoá, xã hội mà các đối tượng giáo dục cần phải nắm vững để biến nó thành
23


ý thức, thái độ và hành vi cá nhân. Nội dung giáo dục truyền thống trong
nhà trường được thiết kế theo mục đích giáo dục xã hội, được chi tiết hoá

thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi, theo bậc học, cấp học, phù
hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể. Với học sinh THCS, nội dung
giáo dục truyền thống trong nhà trường phải đảm bảo giáo dục cho học sinh
những phẩm chất cơ bản: Yêu nước nồng nàn, bất khuất, kiên cường đấu
tranh cho độc lập tự do; Đoàn kết, tương thân, tương ái, nhân nghĩa, thủy
chung; Tinh thần nhân đạo cao cả; Hiếu học; Lao động cần cù, sáng tạo, lạc
quan, yêu cuộc sống. Với các nội dung truyền thống cần giáo dục, nhà quản
lý giáo dục sẽ chỉ đạo xây dựng khung kế hoạch đưa vào các buổi hoạt
động tập thể và giảng dạy tích hợp trong một số tiết dạy.
Phương pháp giáo dục là hệ thống những tác động của nhà giáo dục
đến các đối tượng giáo dục thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng nhằm
giúp họ hình thành ý thức, thái độ, hành vi văn hoá. Phương pháp giáo dục
về thực chất là phương pháp tổ chức hoạt động trong cuộc sống hàng ngày
cho học sinh nó chịu sự quy định của nội dung và hình thức của sự vận
động bên trong nội dung.
Phương pháp giáo dục phản ánh cách thức tổ chức quá trình giáo dục,
các loại hình hoạt động phong phú, đa dạng của giáo viên và học sinh nhằm
đạt được mục đích giáo dục. Phương pháp giáo dục được tiến hành trên cơ sở
hoạt động phối hợp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục; trong đó, những
tác động của nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo, người giáo dục hoạt động tích cực,
tự giác, tự giáo dục, tự vận động và phát triển nhằm hướng tới mục tiêu phát triển
nhân cách đã định. Phương pháp giáo dục có mối quan hệ mật thiết với các
biện pháp giáo dục và phương tiện giáo dục.
Các nhà khoa học giáo dục đã phân loại phương pháp giáo dục thành ba
nhóm cơ bản.

24


Nhóm phương pháp thuyết phục là nhóm phương pháp giáo dục tác động

lên nhận thức và tình cảm của người được giáo dục nhằm hình thành những
khái niệm, biểu tượng và niềm tin đúng đắn về đạo đức, thẩm mỹ, tạo điều
kiện cho người được giáo dục có tư tưởng đúng, có tình cảm đẹp, làm cơ sở
cho việc hình thành những hành vi thói quen tốt.
Nhóm phương pháp tác động trực tiếp đến mặt nhận thức – nhóm PP
giáo dục ý thức làm cho học sinh nhận thức đúng về các yêu cầu chuẩn mực
xã hội là rất quan trọng vì có nhận thức đúng mới có cơ sở để có hành vi
đúng, nhận thức sai thì chắc chắn hành vi sẽ sai.
Nhóm phương pháp tác động trực tiếp đến thái độ (nhu cầu, động cơ,
tình cảm, niềm tin). Đây là nhóm phương pháp tác động trực tiếp vào động
cơ, tình cảm, niềm tin của đối tượng giáo dục. Chức năng của nhóm phương
pháp này là thúc đẩy, điều chỉnh, hoặc ức chế các hành vi ứng xử của học
sinh, giúp những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm
đã mắc, củng cố kết quả của giáo dục của hai nhóm phương pháp còn lại.
Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục luôn thống nhất với nhau,
trong đó phương pháp giáo dục là yếu tố quan trọng vừa có tính khoa học,
vừa có tính nghệ thuật và tính đạo đức giữ vai trò quyết định sự thành công
của quá trình giáo dục.
Các nhà giáo dục ngoài việc căn cứ vào mục đích, nội dung giáo dục còn
phải căn cứ vào đặc điểm tâm lý lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của các
đối tượng giáo dục trong các tình huống cụ thể để lựa chọn các phương pháp
giáo dục thích hợp.
1.2.3. Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên giáo dục truyền thống cho
học sinh
Trong mỗi thời đại và với mọi dân tộc, đội ngũ thầy giáo là đại diện cho
nền văn hóa, sự tiến bộ, là đại diện cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách của
các thời kỳ lịch sử của mỗi dân tộc. Đội ngũ thầy giáo là người có hiểu biết,
25



×