Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về việc:”Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.58 KB, 21 trang )

KỊCH BẢN CHI TIẾT DIỄN ÁN HỒ SƠ DÂN SỰ 06
Khóa LS 14.1 - lớp B - nhóm 1
BẢNG PHÂN VAI
STT
VAI DIỄN
1
Thẩm phán
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18

Hội thẩm 1
Hội thẩm 2
Kiểm sát viên
Thư ký
Nguyên đơn
Bị đơn


Bị đơn
Ls nguyên đơn
Ls nguyên đơn
Ls Bị đơn
Ls Bị đơn
Cán bộ địa chính
Người làm chứng
Người làm chứng
Người làm chứng
Người làm chứng
Người làm chứng

TÊN NHÂN VẬT
Nguyễn Thị Phương Hoa
Nguyễn Tiến Bộ
Trần Văn Thơm
Trần Bình Minh
Hà Thị Minh Hòa
Trần Văn Hậu
Trần Văn Hùng
Trần Thị Nhân

Hồ Anh Minh
Bùi Quốc Sự
Trần Thị Sách
Hà Thị Dậu
Cao Văn Minh
Nguyễn Minh Quang

NGƯỜI DIỄN

Trần Thị Thanh Nhàn
/Hoàng Thị Thuỳ Nhiên
Đường Trung Tín
Trần Xuân Bình
Cao Thị Phi Hoàng
Nguyễn Thanh Thuỷ
Mai Thanh Hiếu
Nguyễn Xuân Tân
Hồng Thị Tràng
Lê Hồng Sơn
Nguyễn Thành Ngoan
Nguyễn Hải Đức
Nguyễn Văn Út
Đỗ Ngọc Anh
Trần Hữu Tài
Nguyễn Thị Nhật Trinh
Võ Thị Thu Hiền
Trần Quốc Đạt
Đặng Như Ngọc

KỊCH BẢN CHI TIẾT DIỄN ÁN – HỒ SƠ 06
Lớp LS14.1 T7.CN.lớp B – Nhóm 1
I. HÌNH THỨC PHIÊN TÒA
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
- Thẩm phán: - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương Hoa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Tiến Bộ
2. ông Trần Văn Thơm
Thư ký toà án: bà Hà Thị Minh Hòa
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà: ông Trần Bình Minh


1


Nguyên đơn (NĐ): Ông Trần Văn Hậu Nhà 200 tổ 11A phố Long Châu Sa, Thọ Sơn, Việt Trì)
LS bảo vệ quyền lợi cho NĐ:
- Lê Hồng Sơn
- Nguyễn Thành Ngoan
Bị đơn (BĐ): Ông Trần Văn Hùng và bà Trần Thị Nhân (Khu 1, xã Vân Phú, thành phố Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ)
LS bảo vệ quyền lợi BĐ:
- Nguyễn Hải Đức
- Nguyễn Văn Út
Người làm chứng:
1.
Ông: Cao Văn Minh
2.
Hồ Văn Minh
3.
Ông: Bùi Quốc Sự
4.
Ông: Hà Thị Dậu
5.
Bà: Trần Thị Sách
6.
Ông: Nguyễn Minh Quang
II. DIỄN BIẾN PHIÊN TÒA
Lúc này, HĐXX đứng ngoài phòng. Trong phòng những người có liên quan như VKS, NĐ, BĐ, LS
bảo vệ quyền lợi cho NĐ, BĐ, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và
các bạn học ở trong phòng. Khi bắt đầu làm việc:
-TK: Yêu cầu tất cả những người có mặt trong phòng xử án trật tự để thư ký kiểm tra những người

có mặt và phổ biến nội quy của tòa.
- TK: Để làm thủ tục phiên tòa, khi tôi gọi tên những người được triệu tập, đề nghị người được gọi
nói”có”và mang theo giấy báo, giấy triệu tập, giấy tờ tùy thân lên để kiểm tra.
- TK: Ngồi gọi tên từng người: Ông Trần Văn Hậu, Bà Trần Thị Nhân (vợ ông Hùng), Ông Trần
Văn Hùng, bà Trần Thị Sách, Ông Cao Văn Minh, Bùi Quốc Sự, bà Hà Thị Dậu, ông Hồ Văn Minh
và Ông Nguyễn Minh Quang
TK: Sau đây tôi tiến hành phổ biến nội quy phiên tòa (đọc)
Theo Điều 209 Bộ luật TTDS quy định:
Những người dưới 16tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập
tham gia phiên toà.
Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, phải tôn trọng
Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ toạ phiên toà. (Tắt điện
thoại,không được trả lời điện thoại trong Tòa, …..)
Chỉ những người được Hội đồng xét xử cho phép mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi,
trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khoẻ được chủ toạ phiên toà cho
phép ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu.
TK: Mời mọi người đứng dậy. Mời hội đồng xét xử vào phòng xử án.
III: THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
HĐXX sau khi bước vào phòng cùng đứng với mọi người.
TP tuyên bố:
2


- Hôm nay, ngày 23/01/2012, Tòa án nhân dân TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tiến hành xét xử sơ thẩm
công khai vụ án về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thay mặt HĐXX, tôi
tuyên bố khai mạc phiên tòa. Mời tất cả ngồi xuống.
- TP đứng dậy: Mời Nguyên đơn và bị đơn đứng dậy.
- Sau đây, tôi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Số: 19/DSST-QĐ
Ngày 09/01/2012
QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ vào các điều 41, 179 và 195 của Bộ luật Tố tụng Dân sự,
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2011/DSST ngày 10/8/2011;
QUYẾT ĐỊNH
I. Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về việc:”Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hậu
Trú tại: Nhà 200, tổ 11A, phố Long Châu Sa, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Ông Trần Văn Hùng
Bà Trần Thị Nhân
Đều trú tại: Khu 1, xã Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Thời gian mở phiên tòa vào lúc 8giờ30 phút ngày 09/01/2012 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Việt
Trì
Vụ án được xét xử công khai.
II- Những người tiến hành tố tụng gồm:
Tôi là Nguyễn Thị Phương Hoa: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Các hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Tiến Bộ
2. ông Trần Văn Thơm
Thư ký toà án: bà Hà Thị Minh Hòa
Đại diện VKS Nhân dân Thành phố Việt Trì: Ông Trần Bình Minh
III. Những người tham gia tố tụng:
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho nguyên đơn gồm có:
1.
Ông Lê Hồng Sơn
2.
Và Ông Nguyễn Thành Ngoan

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho bị đơn có:
1.
Ông Nguyễn Hải Đức
2.
Và Ông Nguyễn Văn Út
Người làm chứng có:
Ông: Cao Văn Minh
3


Ông: Hồ Anh Minh
Ông: Bùi Quốc Sự
Ông: Hà Thị Dậu
Bà: Trần Thị Sách
Ông Nguyễn Minh Quang
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
Thẩm phán

Nguyễn Thị Phương Hoa (đã ký)

TP: Mời mọi người ngồi. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÙNG NGỒI
TP: Đề nghị thư ký báo cáo sự có mặt của những người được tòa triệu tập hôm nay.
TK: Thưa Hội đồng xét xử, những người được tòa triệu tập đều có mặt đầy đủ.

TP: Sau đây, tôi thay mặt HĐXX, kiểm tra căn cước của những người được tòa triệu tập.
Khi tôi kiểm tra đến đâu, đề nghị người đó đứng lên khai rõ, họ tên, ngày tháng năm sinh,
nơi cư trú.
TP: Mời ông Trần Văn Hậu
Ông Hậu. Tôi tên Trần Văn Hậu, sinh ngày …/…/1947, thường trú tại Nhà 200, tổ 11A,
phố Long Châu Sa, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

TP: Mời ông ngồi xuống
TP: Mời ông Trần Văn Hùng
Ông Hùng. Tôi tên ông Trần Văn Hùng, sinh ngày …/…/… Hiện thường trú tại Khu 1, xã
Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
TP: Mời ông ngồi xuống
TP: Mời bà Trần Thị Nhân
Bà Nhân: Tôi tên Trần Thị Nhân, sinh ngày …/…/…Hiện thường trú tại Khu 1, xã Vân
Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
TP: Mời bà ngồi xuống
TP: Mời các đương sự ông Hậu, ông Hùng, bà Nhân đứng lên.
TP: Theo Điều 58, 59 và 60 BLTTDS, tôi phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và những
người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Hậu, bị đơn ông Hùng,
bà Nhân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
2. Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
3. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
4. Được tham gia phiên toà;
5. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng nếu thấy những người này không vô tư, khách quan
trong khi làm nhiệm vụ;
6. Tranh luận tại phiên toà;
4


7. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;
8. Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
Ngoài các quyền nghĩa vụ nói trên:
- Nguyên đơn có quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện.
- Bị đơn có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
TP: Nguyên đơn có nghe rõ quyền, nghĩa vụ của mình không?
Ông Hậu: Thưa HĐXX, tôi đã nghe rõ

TP: Bị đơn có nghe rõ quyền, nghĩa vụ của mình không?
Ông Hùng: Thưa HĐXX, tôi nghe rõ
Bà Nhân: Thưa HĐXX, tôi nghe rõ
TP: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có nhờ các luật sư: Ông Lê Hồng Sơn và ông Nguyễn
Thành Ngoan, thuộc đoàn luật sư TP Hà Nội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.
TP. Nguyên đơn có yêu cầu thay đổi, bổ sung người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình
không?
Ông Hậu: Thưa HĐXX không
TP: Bị đơn có nhờ các luật sư: ông Nguyễn Hải Đức và ông Nguyễn Văn Út thuộc đoàn luật sư tỉnh
Phú Thọ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Các Bị đơn có ai yêu cầu thay đổi, bổ sung
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình không?
Ông Hùng: Thưa HĐXX không
Bà Nhân: Thưa HĐXX không.
TP: Mời các đương sự ngồi xuống.
- TP: Mời những người làm chứng đứng lên
- TP : Theo Điều 66 BLTTDS, Người làm chứng có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Cung cấp toàn bộ những thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải
quyết vụ án.
2. Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
3. Được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp,
bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là
người có quan hệ thân thích với mình.
4. Được nghỉ việc trong thời gian Toà án triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tổ
chức.
5. Được hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
6. Yêu cầu Toà án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; khiếu
nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng.
7. Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời khai báo sai sự thật gây
thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác.

8. Phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu việc lấy lời khai của người làm
chứng phải thực hiện công khai tại phiên toà; trường hợp người làm chứng không đến phiên toà mà
không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử
có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên toà.
9. Phải cam đoan trước Toà án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ người làm chứng là
người chưa thành niên. Người làm chứng khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, từ chối

5


khai báo hoặc khi được Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì phải chịu trách
nhiệm theo quy định của pháp luật.
TP: Các người làm chứng đã nghe rõ quyền và nghĩa vụ của mình chưa?
TP: mời lần lượt các vai, ông Cao Văn Minh, ông Hà Anh Minh, ông Bùi Quốc Sự: bà Hà Thị
Dậu, bà Trần Thị Sách và ông Nguyễn Minh Quang: Thưa rõ
TP: Trước tòa hôm nay, người làm chứng có cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
hay không?
- TP: Mời ông Cao Văn Minh
Ông Cao Văn Minh: Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- TP: Mời ông Hà Anh Minh
Ông Hồ Anh Minh: Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;
- TP: Mời ông Bùi Quốc Sự
Ông Sự : Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;
- TP: Mời bà Trần Thị Sách
Bà Sách: Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;
- TP mời bà Hà Thị Dậu
- Bà Dậu: Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;
- TP mời Ông Nguyễn Minh Quang
- Ông Quang : Tôi xin cam đoan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;
- TP: Mời tất cả ngồi xuống

- TP: Mời các đương sự đứng dậy
------- TP: Để các đương sự thực hiện quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, sau đây tôi giới
thiệu thành phần những người tiến hành tố tụng:
Về thành phần HĐXX gồm có:
Tôi Bà Nguyễn Thị Phương Hoa, thẩm phán TAND Thành phố Việt Trì, chủ tọa phiên tòa.
Các HTND gồm: ngồi bên tay trái của tôi là ông Nguyễn Tiến Bộ, ngồi bên tay phải của tôi
là ông Trần Văn Thơm. Hai vị đều là HTND của TAND Thành phố Việt Trì
Phía trước bên phải của tôi là ông Trần Bình Minh - kiểm sát viên, đại diện VKSND
Thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa.
Phía trước bên trái của tôi là bà Hà Thị Minh Hòa - cán bộ TAND Thành phố Việt Trì làm thư ký
phiên tòa.
TP: Các đương sự, có ai có yêu cầu xin thay đổi người tiến hành tố tụng hay không?
TP: Mời ông Trần Văn Hậu
Ông Trần Văn Hậu: Thưa không
TP: Mời ông Trần Văn Hùng
Ông Trần Văn Hùng: Thưa không
TP: Mời bà Trần Thị Nhân
Bà Trần Thị Nhân: Thưa không
TP: Mời các đương sự ngồi xuống.
- TP: Ngoài những tài liệu chứng cứ mà các đương sự đã cung cấp cho Tòa, có ai còn cung cấp cho
Tòa những tài liệu chứng cứ gì nữa không?
6


- TP: Mời ông Trần Văn Hậu
- Ông Trần Văn Hậu đứng lên: Thưa không
- TP: Mời ông Trần Văn Hùng
- Ông Trần Văn Hùng đứng lên: Thưa không
- TP: Mời bà Trần Thị Nhân
- Bà Trần Thị Nhân đứng lên: Thưa không

- TP: Mời các ông/ bà ngồi xuống
- TP: Mời Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích của Nguyên đơn
- LS Ngoan đứng lên: Thưa không
- TP: Mời ông ngồi xuống
- TP: Mời Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích của Bị đơn
- LS Út đứng lên: Thưa không
- TP: Mời ông ngồi xuống
- TP: Mời người làm chứng ông Cao Văn Minh
- Ông Cao văn Minh (đứng lên): Thưa không
- TP: Mời người làm chứng ông Hà Anh Minh
- Ông Hà Anh Minh đứng lên: Thưa không
- TP: Mời người làm chứng ông Bùi Quốc Sự
- Ông Sự đứng lên: Thưa không
TP: Mời người làm chứng Bà Hà Thị Dậu
Bà Dậu đứng lên: Thưa không
TP: Mời người làm chứng Bà Trần Thị Sách
Bà Sách đứng lên: Thưa không
TP: Mời người làm chứng Ông Nguyễn Minh Quang
Ông Quang đứng lên: Thưa không
TP: Mời các ông/ bà ngồi xuống
- TP: có còn ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng khác hay không?
- TP: Nếu không còn ai yêu cầu triệu tập người làm chúng khác. HĐXX tiếp tục phiên tòa.
- TP: Các vị HTND có ý kiến gì về phần thủ tục phiên tòa hay không?
- HTND Tín: không
- HTND Bình: không
- TP: Đại diện VKS có ý kiến gì về phần thủ tục phiên tòa hay không?
- Kiểm sát viên: Tôi không có ý kiến bổ sung. Mời HĐXX tiếp tục làm việc.
- Luật sư nguyên đơn có ý kiến gì về phần thủ tục phiên tòa hay không?
- LS Ngoan:Thưa không
- TP: Mời ông ngồi

- Luật sư bị đơn có ý kiến gì về phần thủ tục phiên tòa hay không?
- LS Út: Thưa không
- TP: Mời ông Hậu, Ông Hùng, bà Nhân đứng lên. Các Ông/bà có ý kiến gì về phần thủ tục phiên
tòa hay không?
7


- {.} ngng mt lỳc
-TP: Nờu khụng ai co y kiờn gi bụ sung thờm, thay mt HXX tụi tuyờn bụ kờt thuc phõn thu tuc
bt u phiờn tũa, v chuyờn sang phn hoi.
PHN 2: PHN HOI
TP: Mi cỏc ng s ng lờn.
TP: Tai phiờn toa ngy hụm nay, nguyờn n co rut mụt phõn hoc toan bụ yờu cõu khi kiờn cua
minh khụng?
ễng Hu: Tha HXX, tụi gi nguyờn cỏc yờu cõu khi kiờn cua minh.
TP: Tai phiờn toa ngy hụm nay, b n co chp nhn mụt phõn hoc toan bụ yờu cõu cua nguyờn
n khụng?
ễng Hựng: Tha HXX, tụi gi nguyờn ý kin khụng chp nhn ton b yờu cu ca nguyờn n.
B Nhõn: Tha HXX, tụi gi nguyờn ý kin khụng chp nhn ton b yờu cu ca nguyờn n.
TP: Tai phiờn toa hụm nay, cac ng s co t thoa thuõn c vi nhau vờ viờc giai quyờt ton b
vu an hay khụng?
ễng Hu: Tha HXX, khụng
ễng Hựng Tha HXX, khụng.
B Nhõn: Tha HXX, khụng.
TP: Do cỏc ng s vn gi nguyờn ý kin, yờu cu ca mỡnh; khụng t tha thun c vi nhau
vờ viờc giai quyờt mt phn hoc ton b vu an, nờn tũa tip tc tin hnh gii quyt v ỏn.
TP: Mi cỏc ng s ngi.
TP: ờ nghi LS nguyờn n trinh bay yờu cõu cua nguyờn n va chng c chng minh cho yờu
cõu cua nguyờn n la co cn c va hp phap.
LS Ngoan trỡnh by:

Kớnh tha HXX
Vao ngy 30/5/2004, gia thaõn chuỷ toõi laứ ụng Trn Vn Hu vi v chng ụng Hựng, b Nhõn
ó ký 01 vn bnTha thun chuyn nhng quyn s dng t cú chiu rng 3m, chiu sõu 17m,
tip giỏp quc l 2 ti ngó ba n Hựng vi giỏ 1,2 t ng. Thõn ch tụi ó giao tin theo tha
thun v v chng ụng Hựng b Nhõn cam kt khi no ụng Hu mun sang tờn thỡ v chng ụng
Hựng s lm y th tc phỏp lý liờn quan n vic chuyn nhng QSD theo ỳng quy nh
phỏp lut.
Thỏng 1/2005 thõn ch tụi xõy mt cn nh cp 4 cho cỏc con s dng bỏn vt liu xõy dng
v sa cha xe mỏy. Vỡ hon cnh gia ỡnh, thõn ch tụi v cỏc con phi v quờ chm súc b m
gi. Sau ú, ụng Hu cho v chng ụng Hựng mn li cn nh v t lm n trong thi gian
ụng i vng.
Nm 2010 ụng Hu lờn gp ụng Hựng cp li vic sang tờn t v ụng Hựng cng ng ý cú
s chng kin ca ụng Quang, ụng Du, ụng Un v b sỏch l cỏc ngi lm chng ti phiờn tũa
hụm nay. n nm 2011, ụng Hu yờu cu v chng ụng Hựng lm th tc sang tờn ch s dng
t nh ó tha thun ngy 30/5/2004, thỡ v chng ụng Hựng, b Nhõn khụng ng ý, vỡ cho rng
ụng Hựng ch cm c din tớch t ú vay tin ụng Hu m khụng chuyn nhng quyn s dng
t cho ụng Hu. ễng Hu ngh UBND xó Võn Phỳ hũa gii hai ln nhng khụng thnh, vỡ ụng
Hựng cho rng mỡnh khụng chuyn nhng quyn s dng t m ch vay tin ụng Hu tr n.
8


Trước sự việc nghiêm trọng khơng thể giải quyết được, Ngày 24/07/2011, ơng Hậu có đơn
khởi kiện ra TAND Tp Việt Trì, tỉnh Phú Thọ u cầu Tòa xem xét 2 nội dung u cầu như sau:
+ Thứ nhất: u cầu vợ chồng ơng Hùng, bà Nhân tiếp tục hồn tất việc chuyển nhượng
QSDĐ ngày 30/05/2004.
+ Thứ hai : Buộc vợ chồng ơng Hùng, bà Nhân trả lại căn nhà trên diện tích đất trên mà vợ
chồng ơng Hùng đã chiếm giữ trái phép.
Thưa HĐXX, tơi đã trình bày xong
TP: Mời LS ngồi
TP: Mời ơng Hậu đứng lên: Ơng có bở sung gì thêm khơng?

Ơng Hậu: Thưa HĐXX, khơng.
TP: Mời ơng ngồi xuống
………………………..
TP: Đề nghị LS bị đơn trình bày ý kiến của BĐ đới với u cầu của NĐ và những chứng cứ
chứng minh cho u cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
LS Út trình bày:
Kính thưa HĐXX
Thân chủ tơi hồn tồn phản bác u cầu chuyển nhượng QSDĐ của ngun đơn, cho rằng u
cầu này là hồn tồn vơ căn cứ. Và chỉ đồng ý hồn tiền xây dựng cho căn nhà đã xây trên đất.
Thứ nhất, giao dịch năm 2004 có thể xem là vơ hiệu vì đây là thoả thuận giả tạo. Ngun đơn đã
u cầu thân chủ tơi phải chấp nhận ghi như vậy để bảo đảm cho số tiền mượn để trả nợ. Nếu khơng
thân chủ tơi khơng trả nợ thì mới chuyển nhượng lơ đất trên, nhưng nay ơng Hậu lại u cầu đòi
thực hiện mà khơng nhận tiền thân chủ tơi trả tiền vay. Đồng thời, hình thức của thoả thuận khơng
đảm bảo các u cầu pháp luật về hình thưc hợp đồng dân sự, cụ thể là khơng ghi giá trị, loại đất,
hạn sử dụng và hình thức thanh tốn trên thoả thuận.
Thứ nhì, Ơng Hậu xây nhà trên đất thuộc QSD hợp pháp của thân chủ tơi nên khơng thể trả nhà
mà chỉ hồn lại tiền xây dựng nhà.
Thưa HĐXX, tơi đã trình bày xong.
TP: Mời LS ngồi
TP: Mời ơng Hùng, bà Nhân đứng lên. Ơng/ bà có ḿn bở sung gì thêm khơng?
Ơng Hùng/bà Nhân Thưa HĐXX, khơng.
TP: Mời ơng/bà ngồi xuống
……………
TP: Mời ơng Hậu đứng lên.
TP: Vào ngày 30/5/2004, giữa ơng với ơng Hùng và bà Nhân có ký bản Thỏa thuận chuyển
nhượng QSDĐ khơng?
Ơng Hậu: thưa có.
TP: Ngồi bản thỏa thuận chuyển nhượng ngày 30/5/2004, ơng có chứng cứ khác nào chứng
minh việc chuyển nhượng QSDĐ hay khơng?
Ơng Hậu: thưa khơng.

9


TP: Việc chuyển nhượng này diễn ra như thế nào? Có ai làm chứng không?
Ông Hậu: Do vợ chồng ông Hùng, bà Nhân cần tiền nên bán đất cho tôi. Việc mua bán này có
các ông Quang, ông Dậu, ông Uẩn, bà Sách là người làm chứng phiên tòa này đều biết.
TP: Bản thỏa thuận này do ai viết?
Ông Hậu: Bản thỏa thuận này do chính tay ông Hùng viết, cùng vợ bà Nhân và tôi ký tên bên
dưới.
TP: ông đóng cửa hàng trên khi nào? Khi cho ông Hùng mượn cửa hàng trên ông có làm giấy tờ
gì không? Có ai làm chứng không?
Ông Hậu: Tôi đóng cửa hàng cuối năm 2005 để về quê chăm sóc bố mẹ già bị bệnh. Khi ông
Hùng mượn cửa hàng trên tôi nghĩ anh em với nhau nên cho mượn mà không làm giấy tờ vì sợ mất
lòng nhau. Khi giao nhà cho ông Hùng tuy không ai làm chứng nhưng hàng xóm xung quanh ai
cũng biết nhà đó là do tôi xây.
TP: Mời ông ngồi xuống
--------------TP: Mời ông Hùng, bà Nhân đứng lên.
TP: Biên bản thỏa thuận do ai viết?
Ông Hùng: Thưa, do tôi viết
TP: Ông Hùng cho biết, chữ ký trên bản Thỏa thuận chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2004 có
phải là chữ ký của ông không?
Ông Hùng: thưa phải
TP: Bà Nhân cho biết, chữ ký trên bản Thỏa thuận chuyển nhượng QSDĐ ngày 30.5.2004 có
phải là chữ ký của bà không?
Bà Nhân: thưa phải
TP: Ông nhận 1 tỷ đồng của ông Hậu ngày 30/5/2004 với mục đích gì?
Ông Hùng: Dạ, Thưa HĐXX mục đích là để trả nợ ngân hàng.
TP: Năm 2005. Vì sao ông lại đồng ý cho ông Hậu xây nhà trên mảnh đất đó?
Ông Hùng: Do con của ông Hậu cần có chỗ để làm ăn sinh sống. Vì thương con cháu trong gia
đình nên tôi đã đồng ý cho ông Hậu xây dựng căn nhà cấp 4 trên mảnh đất của tôi.

TP: Bà Nhân có đồng ý với ý kiến trả lời của chồng bà không? Bà có ý kiến gì khác không?
Bà Nhân: Tôi đồng ý với ý kiến chồng tôi. Tôi không có ý kiến khác
TP: Mời ông, bà ngồi xuống
…………
TP: Mời HTND Tín tham gia thủ tục hỏi
HTND Tín: Tôi đề nghị hỏi nguyên đơn
TP: Mời ông Hậu đứng dậy
HTND Tín: Ông có biết văn bản thỏa thuận giữa ông và vợ chồng ông Hùng ngày 30/5/2004
nếu không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận thì không có giá trị pháp lý hay không?
Ông Hậu: Dạ không, thưa quý Tòa
HTND Tín: Tại sao trong thỏa thuận ngày 30/5/2004 có 3 người làm chứng biết rõ sự việc mua
bán này nhưng trong thỏa thuận không thấy có chữ ký của người làm chứng?
10


Ông Hậu:Vì tôi và ông Hùng là 2 anh em trong họ tộc nên chúng tôi nghĩ không cần người
khác ký vào làm chứng.
HTND Tín: Thưa chủ tọa, tôi đã hỏi xong.
TP: mời ông Hậu ngồi
……..
TP: Mời HTND Bình tham gia thủ tục hỏi
HTND Bình: Tôi đề nghị hỏi bị đơn.
TP: Mời ông Hùng, bà Nhân đứng lên
HTND Bình: Ông bà có mâu thuẫn gì với các người làm chứng hay không?
Ông Hùng/bà Nhân: Thưa không
HTND Bình: Thưa chủ tọa, tôi đã hỏi bị đơn xong.
TP: Mời ông bà ngồi xuống.
------TP: Đề nghị Đại diện Luật sư NĐ tham gia thủ tục hỏi
Lsư Sơn: Thưa HĐXX, cho tôi được hỏi đối với nguyên đơn:
TP: Mời ông Hậu đứng dậy

Ls Sơn: Sau khi khi xác lập thỏa thuận ngày 30/5/2004 và thực hiện hai lần thanh toán, ông và
ông Hùng có bao giờ ngồi lại bàn bạc vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không?
Ông Hậu: Có. vào năm 2010, tôi và ông Hùng đã có một lần thảo luận lại chuyện chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
Ls Sơn: Khi giao 200 triệu đồng cho bà Nhân, ông có yêu cầu bà Nhân làm biên nhận không?
Ông Hậu: Khi tôi giao 200 triệu đồng cho bà Nhân vì ông Hùng không có nhà nên bà Nhân
nhận, vì là anh em với nhau nên không ghi biên nhận.
LS Sơn: Thưa HĐXX tôi đã hỏi xonh.
TP: Mời Lsư và ông Hậu ngồi xuống.
Luật sư khác của NĐ có hỏi thêm gì không?
LS Ngoan: Thưa HĐXX cho tôi được hỏi bị đơn
TP: Mời ông Hùng, bà Nhân đứng lên.
LS Ngoan: Ông nói nhận 1 tỷ từ ông Hậu là tiền vay, vậy tại sao ông lại soạn thảo và ký kết thỏa
thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi nhận 1 tỷ đồng đó?
Ông Hùng: Đối với vợ chồng tôi, đó chỉ là biện pháp bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng mà thôi.
Thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để cho ông Hậu có thể xử lý trường hợp vợ
chồng tôi không thanh toán khoản tiền vay 1tỷ đồng khi được yêu cầu thì ông Hậu sẽ siết nợ
bằng mảnh đất đó.
LS Ngoan: Năm 2010, ông và ông Hậu có thảo luận lại về vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng
đất không?
Ông Hùng: Thưa không
LS Ngoan: Tại sao ông, bà hai lần cản trở cán bộ Tòa án thẩm định tại chổ và Hội đồng thẩm
định giá nhà đất.
11


Ông Hùng: Vì vợ chồng tôi cho rằng việc các cơ quan chức năng tiến hành các công việc đó có
nghĩa là đang ủng hộ ông Hậu lấy nhà và đất của chúng tôi nên chúng tôi cản trở.
LS Ngoan: Bà có biết ông Hùng chồng bà viết và ký kết Thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 30/5/2004 với ông Hậu không?

Bà Nhân: Có, tôi có biết.
LS Ngoan: Bà có nhận từ ông Hậu khoản tiền nào không?
Bà Nhân: Chúng tôi đã nhận từ ông Hậu khoản tiền vay là 1tỷ đồng như đã nêu trên.
LS Ngoan: Thưa HĐXX, tôi đã hỏi xong bị đơn.
TP: Mời Luật sư và bị đơn ngồi xuống.
Luật sư khác của NĐ có hỏi thêm gì k?
LS Sơn: Thưa HĐXX, cho tôi được hỏi người làm chứng ông Nguyễn Minh Quang.
TP: Mời ông Quang đứng lên
Ls Sơn: Năm 2010, ông có chứng kiến việc ông Hậu và ông Hùng cùng ngồi lại bàn bạc vấn đề
sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất?
bà Quang: Đúng, tôi có chứng kiến.
Ls Sơn: Có ai chứng kiến với ông không?
bà Quang: Có, chị Sách, anh Dậu, anh Uẩn.
Ls Sơn: Thưa HĐXX, tôi đã hỏi xong ông Quang, cho tôi được hỏi ông Dậu
TP: Mời ông Dậu đứng lên
Ls Sơn: Năm 2010, ông có chứng kiến việc ông Hậu và ông Hùng cùng ngồi lại bàn bạc vấn đề
sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất?
Ông Dậu: Có. Tận tai tôi nghe thấy lúc đó có cả ông Quang, ông Uẩn và bà Sách cũng nghe
thấy. ông Hùng nói, khi đó có mặt cả bà Nhân khi nào có sổ đỏ sẽ tạo điều kiện để sang tên
quyền sử dụng đất cho ông Hậu.
Ls Sơn: Tôi đã hỏi xong ông Dậu, xin HĐXX cho tôi được hỏi bà Sách
TP: mời bà Sách đứng lên
Ls Sơn: Các lời khai của ông Quang, ông Dậu như trên có đúng hay không?
Bà Sách: Đúng. Vì lúc đó tôi cũng có mặt chứng kiến.
Ls Sơn: tôi đã hỏi xong bà sách, xin HĐXX cho tôi được hỏi ông Minh
TP: Mời bà sách ngồi. mời ông Cao Văn Minh đứng lên
Ls Sơn: Ông có nhận xây dựng nhà cho ông Hậu trên diện tích đất tranh chấp không?
Ông Minh: có 100%. Tôi nhận xây dựng một gian nhà cấp 4 cho ông Hậu trên diện tích đất đó
vào năm 2005.
Ls Sơn: Ông đã bàn giao công trình đó cho ai? Ai là người thanh toán cho ông?

Ông Minh: Tôi bàn giao nhà cho ông Hậu và ông Hậu cũng đã thanh toán đầy đủ cho tôi.
Ls Sơn: Trong quá trình xây dựng đó, vợ chồng ông Hùng bày tỏ thái độ như thế nào?

12


Ông Minh: Họ hoàn toàn vui vẻ, không có thái độ ngăn cản gì cả, họ còn hỗ trợ chúng tôi việc
cơm nước, chỗ nghỉ ngơi.
LS Sơn: Thưa HĐXX, tôi đã hỏi xong những người làm chứng.
………….
TP: Đề nghị LS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tham gia thủ tục hỏi
LS Út: Thưa HĐXX tôi muốn hỏi bà Sách
TP: Mời bà Sách đứng lên
LS Út: Trong Biên bản lấy lời khai của Toà ngày 25/11/2011, bà nêu rằng ông Hùng và ông Hậu
có nhất trí 1 thoả thuận mua bán vào năm 2010?
Bà Sách: Đúng, tôi đã khai như vậy.
LS Út: việc thoả thuận này xảy ra tại đâu? Còn ai cùng bà ở đó?
Bà Sách: Việc thoả thuận xảy ra tại nhà ông Hùng, có cả ông Dậu, ông Quang, ông Hùng, ông
Hậu cùng ở đó.
LS Út:Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong. Xin phép hỏi tiếp ông Dậu.
TP: Mời bà Sách ngồi xuống. Mời ông Dậu đứng dậy.
LS Út: Trong Biên bản lấy lời khai của Toà ngày 20/10/2011, ông khai ông Hùng và ông Hậu có
nhất trí 1 thoả thuận mua bán vào năm 2010, chính mắt ông và ông Quang, bà Sách thấy điều này?
Ông Dậu: Đúng là như vậy.
LS Út: Việc thống nhất thoả thuận xảy ra tại nhà ông Hùng hay nhà ông Quang?
Ông Dậu: Nhà ông Hùng.
LS Út:Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong.Xin phép cho tôi hỏi ông Quang.
TP: Mời ông Quang đứng dậy
LS Bị đơn: Trong bản tự khai ngày 18/8/2011, Ông nêu rằng ông Hùng có viết 1 thoả thuận vào
năm 2010, chính mắt ông thấy điều này?

Ông Quang: Đúng, tôi đã khai như vậy.
LS Bị đơn: Việc thống nhất thoả thuận xảy ra tại nhà ông, có cả ông Dậu, bà Sách, ông Hùng, ông
Hậu ở đó như ông ghi trong bản tự khai này?
Ông Quang: Đúng vậy.
LS Bị đơn:Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong.
TP: Mời ông Quang ngồi xuống.
TP: LS của bị đơn khác có muốn hỏi thêm ai khác không?
LS Đức: Thưa HĐXX, tôi đề nghị được hỏi ông Hậu
TP: Mời ông Hậu đứng dậy
LS Đức: Ông có chứng cứ nào chứng minh đã đưa 200tr cho bà Nhân?
Ông Hậu: Hùng không có ở nhà nên bà Nhân đã nhận, vì tình cảm anh em nên tôi đã không yêu
cầu bà Nhân viết giấy nhận tiền.
LS Đức: Ông có chứng cứ nào chứng minh số tiền 1 tỷ đã đưa là thanh toán tiền chuyển nhượng
QSDĐ theo thoả thuận ngày 30/5/2004?
Ông Hậu: Ông Hùng ghi trên thoả thuận “đã nhận 1 tỷ đồng để trả nợ”.

13


LS Đức: Ông Hùng ghi trên thoả thuận “đã nhận 1 tỷ đồng để trả nợ” chứ k phải nhận thanh toán
tiền chuyển nhượng QSDĐ, ông có biết mà không bắt ghi lại?
Ông Hậu: Tôi có đọc nhưng thấy ghi nhận đủ là được.
LS Đức: Ông có nghĩ giá trị chuyển nhượng khoảng 1,2 tỷ là lớn, nhưng hình thức thoả thuận như
vậy là quá đơn giản? (chỉ một thoả thuận viết tay thậm chí không ghi giá mua bán và sẽ thanh toán
thế nào? Không có ai làm chứng?)
Ông Hậu: thì tôi nghĩ là anh em, nội dung đã hiểu nên cũng không ghi kỹ các chi tiết đó, vả lại sau
này còn làm thủ tục khi có sổ nữa mà.
LS Đức: Ngoài thoả thuận năm 2004, ông và ông Hùng bà Nhân còn ký thoả thuận nào khác vào
năm 2010?
Ông Hậu: không, chỉ có thoả thuận năm 2004.

LS Đức:Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong. Xin phép hỏi tiếp ông Hùng.
TP: Mời ông Hậu ngồi xuống. Mời ông Hùng đứng dậy.
LS Đức: Ngoài thoả thuận năm 2004, ông và ông Hậu còn ký thoả thuận nào khác vào năm 2010?
Ông Hùng: không, chỉ có thoả thuận năm 2004.
LS Đức: Tại sao trong “thoả thuận ký ngày 30/5/2004” ông lại ghi “Xác nhận đã nhận 1 tỷ đồng
để trả nợ » ?
Ông Hùng: Vì ông Hậu yêu cầu phải ghi giấy chuyển nhượng Quyền SĐ để đảm bảo tiền vay nên
tôi ghi đúng việc nhận tiền vay, ông Hậu có biết việc này và không có ý kiến.
LS Đức: Ông nhận được 1 tỷ này khi nào?
Ông Hùng: Khoảng cuối năm 2003, khi đó tôi nợ nần nhiều quá, chủ nợ kéo đến niêm phong nhà
nên tôi phải vay mượn gấp để trả nợ. Thấy tôi quá khó khăn, ông Hậu đã giúp tôi số tiền 1 tỷ này
để trả nợ. Sau đó vài tháng thì ông Hậu gọi vợ chồng tôi đến để xác nhận như trên.
LS Đức: Số tiền này ông đã trả cho ai?
Ông Hùng: Tôi trả nợ Ngân hàng và các chủ nợ lớn ngay sau khi vay được tiền từ ông Hậu.
LS Đức: Ông có chứng cứ gì để chứng minh?
Ông Hùng: tôi có BB thanh lý hợp đồng vay với Ngân hàng NN&PTNT cuối năm 2003, đã thanh
toán cả gốc và lãi khoảng 750tr đ, và trả chủ nợ khoảng 250tr còn lại.
LS Đức: ông có thể trình cho HĐXX.
Ông Hùng: Kính thưa HĐXX đây là bản thanh lý hợp đồng vay của ông Hùng với NH NN&PTNN
được ký ngày 25/12/2003.
Đi lên trình cho thư ký phiên tòa
LS Đức: Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong. Xin phép hỏi tiếp ông Minh, cán bộ địa chính.
LS Đức: Trong Biên bản Định giá tài sản ngày 30/11/2011 của Hội đồng định giá do Toà án thành
lập thì tổng số tiền cho nhà và đất là 1.333.560.000 đ, nhưng phần đất là 1.227.000.000 đ, phần
nhà chỉ có 6.560.000 đ, vậy ông xác định lại số tiền chính xác?
Ông Minh: Do viết nhầm, phần đất là 1.227.000.000 đ, phần nhà là 106.560.000 đ.
LS Đức:Thưa HĐXX tôi đã hỏi xong Ông Minh. Xin được phép hỏi ông Quang.
TP: Mời ông Minh ngồi xuống. Mời ông Quang đứng dậy.
LS Đức: trong giấy làm chứng ngày 22/11/2011 ông có thấy vào gần cuối năm 2003 ông Hùng bị
một số chủ nợ kéo đòi đến niêm phong nhà?

Ông Quang: đúng vậy.
14


LS Đức: sau đó họ còn đến nữa không?
Ông Quang: khoảng đầu năm 2004 thì không thấy họ đến nữa vì đã đòi được tiền.

TP: mời vị đại diện VKS tham gia phần xét hỏi:
Đại diện VKS: Đứng dậy. Thưa HĐXX, tôi không có câu hỏi gì.
TP: Mời ông, ngồi xuống
TP: Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, những người
tham gia tố tụng khác, có ai có yêu cầu hỏi thêm không?
{…….} im lặng một chút
TP: Nếu không ai còn yêu cầu hỏi, thay mặt HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần hỏi và
chuyển sang phần tranh luận.
PHẦN 3: TRANH LUẬN
TP: Đề nghị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu quan điểm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Lsư Sơn: đứng lên trình bày bản luận cứ.
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, thưa luật sư đồng nghiệp và tất
cả mọi người dự khán trong phiên Tòa ngày hôm nay!
Tôi là luật sư Lê Hồng Sơn đến từ VP Luật sư Hưng Long, Đoàn Luật sư Tp Hà Nội, hôm
nay tham gia phiên tòa với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn –
ông Trần Văn Hậu, trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở lời trình bày và phần hỏi
công khai tại phiên tòa ngày hôm nay tôi xin khẳng định yêu cầu của phía nguyên đơn là có căn cứ
và đúng với quy định pháp luật bởi các lẽ sau:
Thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30 tháng 5 năm 2004 giữa ông Hùng,
bà Nhân với ông Hậu là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng này được pháp
luật công nhận vì:

Tại thời điểm chuyển nhượng ông Hùng, bà Nhân đều có đủ năng lực hành vi dân sự để
thực hiện việc chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng hoàn toàn do các bên tự nguyện xác lập, không có sự ép buộc, đe dọa
điều đó đã thể hiện rõ tại phiên Tòa ngày hôm nay.
Mục đích chuyển nhượng của các bên không vi phạm với cái điều cấm của pháp luật,
không trái với đạo đức xã hội.
Quyền sử dụng đất của ông Hùng bà Nhân mặc dù chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ
nhưng đã có tên trong sổ địa chính tại xã, đây được xem là giấy tờ hợp lệ theo quy định tại điểm b,
khoản 1 Điều 50 Luật đất đai. “ Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư đang sử dụng đất”
15


1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;”
Về hình thức hợp đồng, mặc dù hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy
định của pháp luật tại thời điểm chuyển nhượng tuy nhiên theo hướng dẫn tại điểm b1 tiểu mục 2.3
mục II Nghị Quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 08 năm 2004 hướng dẫn việc áp dụng pháp
luật giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình của Hội đồng thẩm phán. Điều luật quy
định rõ: “b.1. Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01-7-2004 vi phạm điều kiện được hướng
dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng
đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh
chấp, nếu từ ngày 01-7-2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu
do vi phạm điều kiện này.”
Cũng tại điểm b.3 tiểu mục 2.3 của Nghị quyết có quy định: “b.3. Đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu

mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã
trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không
bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận
chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận
chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không
bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán
cho nhau phần chênh lệch.”
Sau khi nhận chuyển nhượng ông Hậu đã tiến hành việc xây dựng nhà cửa kiên cố và sử
dụng phần diện tích trên trong khoảng thời gian dài, vợ chồng ông Hùng, bà Nhân không những
không phản đối mà còn có những giúp đỡ nhất định cho ông Hậu tiến hành việc xây dựng, vì các lẻ
nêu trên tôi kính đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b.1, b.3 tiểu mục 2.3 mục II nghị quyết
số 02/2004/NQ-HĐTP chấp nhận yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi, công nhận hợp đồng chuyển
nhượng ngày 30 tháng 5 năm 2004.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự chú ý lắng nghe của hội đồng xét xử và của quý vị dự khán.
Trân trọng!
LS Sơn: Thưa HĐXX, tôi đã trình bày xong.
TP: Mời LS ngồi xuống. Ông Hậu bổ sung ý kiến tranh luận hay không?
Ông Hậu đứng lên: Thưa HĐXX không.
TP: Mời các ông ngồi xuống.
TP: Đề nghị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu quan điểm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Lsư Đức: đứng lên trình bày bản luận cứ.
16


Kính thưa Hội đồng Xét xử;
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát;
Thưa Quý Luật sư đồng nghiệp.

Tôi là Luật sư Nguyễn Hải Đức, thuộc Văn phòng Luật Sư Nguyễn và Cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh
Phú Thọ. Được sự chấp thuận của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, cũng như theo
yêu cầu của Ông Trần Văn Hùng và vợ là bà Trần Thị Nhân là bị đơn trong vụ kiện:”Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là luật sư
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tôi xin trình bày quan điểm của mình.
Trước hết, xin tóm tắt lại vụ án theo ý kiến bị đơn:
Vào cuối năm 2003, vợ chồng ông Hùng làm ăn và nợ nần, ngân hàng và một số chủ nợ có xuống
xem xét và có khả năng niêm phong, kê khai nhà để thu hồi công nợ. Trước tình hình cấp thiết đó,
ông Hùng có vay ông Hậu 1 tỷ đồng để trả nợ.
Đến tháng 5/2004, vc ông Hùng vẫn chưa thể trả tiền, nên ông Hậu có yêu cầu xác nhận lại việc vay
tiền. Và để đảm bảo sẽ thu hồi được tiền, ông Hậu yêu cầu ông Hùng viết giấy thoả thuận sang
nhượng QSDĐ với diện tích khoảng 51m2, khi nào cần sẽ làm thủ tục sang tên. Các bên ký tên
ngày 30/5/2004.
Đầu năm 2005, ông Hậu có nói với vợ chồng ông Hùng cho con đến xây nhà bán quán, vì đang vay
mượn chưa trả được, và cũng con cháu trong gia đình nên vợ chồng ông Hùng đồng ý và giúp đỡ
trong quá trình xây dựng.
Cuối năm 2005, khi con ông Hậu kinh doanh không tốt và ông Hậu có việc về quê nên đã giao nhà
cho vợ chồng ông Hùng quản lý.
Đến 2010, ông Hậu yêu cầu vc ông Hùng chuyển nhượng đất, nhưng do trước đây chỉ là vay tiền
nên vợ chồng ông Hùng không đồng ý, chỉ chấp nhận trả tiền vay 1 tỷ đã nhận năm 2003. Hai bên
không thoả thuận được vì ông Hậu khăng khăng đòi QSDĐ nên ông Hậu đã đưa vụ việc ra nhờ Toà
xét xử.
Qua xem xét hồ sơ vụ án, các chứng cứ và lời khai trực tiếp tại phiên toà hôm nay, tôi đưa ra
các quan điểm như sau:
Thứ nhất, qua phần hỏi thì những người làm chứng đưa ra những lời khai đầy mâu thuẫn, lúc thì
ông Hùng và ông Hậu ký thoả thuận tại nhà ông Quang, lúc thì nhà ông Hùng. Trong khi thoả thuận
tranh chấp được ông Hậu đưa ra ký ngày 30/5/2004, toàn bộ người làm chứng lại xác nhận ký năm
2010. Không ai ký làm chứng vào thoả thuận và cũng không có ai thấy ông Hậu trả tiền chuyển
nhượng QSDĐ theo thoả thuận 30/5/2004. Ông Hậu và vc ông Hùng cũng xác nhận không còn thoả
thuận nào được ký. Do vậy, chỉ có một thoả thuận chuyển nhượng QSDĐ giữa 2 bên ký ngày

30/5/2004.
Thứ nhì, do thoả thuận phát sinh ngày 30/5/2004 nên luật điều chỉnh cho quan hệ pháp luật tranh
chấp này sẽ áp dụng theo Bộ luật dân sự 1995, NQ 02/2004-NQ/HĐTP ngày 8/10/2004 và các luật
khác có hiệu lực tại thời điểm này theo quy định pháp luật.
Thứ ba, thoả thuận ngày 30/5/2004 thiếu các nội dung chủ yếu của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
như loại đất, hạng đất, ranh giới, thời hạn sử dụng, giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán theo
quy định tại các điểm 4,5,6,7 điều 708 BLDS 1995. Như vậy thoả thuận này không được xem là
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ theo quy định tại Điều 705 BLDS 1995: “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung, hình
thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật này và pháp luật về đất đai quy định”.
17


Đối chiếu với Điều 136, Điều 139 và khoản 4 Điều 131 của BLDS 1995 khi thoả thuận này không
đủ điều kiện để hợp đồng có hiệu lực.
Thứ tư, hợp đồng này là giao dịch giả tạo, nhằm che đậy thoả thuận vay tiền giữa 2 bên. Cụ thể là
cho số tiền đã được vay từ năm 2003. Chính vì vậy, Trong thoả thuận ông hùng đã ghi rõ “Xác nhận
đã nhận 1 tỷ đồng để trả nợ”, hay vợ chồng ông Hùng, bà Nhân trình bày lý do “Anh Hậu giúp đỡ
vợ chồng em trong lúc em gặp khó khăn”, hình thức hợp đồng sơ sài. Ông Hậu cũng chẳng quan
tâm lắm với các chi tiết này vì đã được ghi nhận số tiền cho vay 1 tỷ. Với một giao dịch thực sự cho
số tiền 1,2 tỷ, không ai lập một hợp đồng như thế.
Và chứng cứ quan trọng là BB thanh lý của ngân hàng NN&PTNN ngày 25/12/2003 về việc vc ông
Hùng đã trả tiền, chứng tỏ số tiền vc ông Hùng được cho mượn có từ năm 2003. Thoả thuận ngày
30/5/2004 chỉ giả tạo để hợp thức hoá số tiền vay 1 tỷ ông Hậu đã cho vay trước đó, chứ không phải
thanh toán cho việc chuyển nhượng QSDĐ.
Như vậy, thoả thuận ngày 30/5/2004 cũng vô hiệu theo quy định tại Điều 138, BLDS 1995 về “Giao
dịch dân sự vô hiệu do giả tạo” khi thực chất thoả thuận này chẳng qua để hợp thức hoá cho giao
dịch vay mượn tiền trước đó giữa hai ông Hùng và Hậu.
Theo Điều 145 BLDS 1995, tại khoản 2 quy định: “Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại
Điều 137, Điều 138 và Điều 139 của Bộ luật này, thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô

hiệu không bị hạn chế”.
Thứ năm, vì ông Hậu chỉ muốn đòi QSDĐ và nhà, trong khi giao dịch là vô hiệu nên vợ chồng ông
Hùng không thể bàn bạc thêm về giá trị tài sản trên đất này ngoài việc đồng ý trả tiền ông Hậu đã
xây dựng.
Theo quy định pháp luật về xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu tại Điều 146 Bộ luật dân sự 1995, và
tiểu mục C, điểm 2.3, khoản 2, mục II, NQ 02/2004-NQ/HĐTP ngày 8/10/2004 thì vợ chồng ông
Hùng cũng chỉ phải trả tối đa khoảng 106tr –giá trị căn nhà còn lại theo Biên bản Định giá tài sản
ngày 30/11/2011 của Hội đồng định giá do Toà án thành lập (ngoài số tiền 1 tỷ vc ông Hùng phải
trả theo thoả thuận vay tiền trước đó).
Tuy nhiên, với tình cảm anh em trong gia đình, tránh các chi phí phát sinh khác, và thể hiện mong
muốn đền đáp sự giúp đỡ của ông Hậu trong giai đoạn khó khăn, tại phiên toà này, vc ông Hùng đề
nghị sẽ trả ông Hậu tổng cộng 300tr, bao gồm chi phí xây nhà, các chi phí khác đã phát sinh và tiền
cảm ơn, ngoài 1 tỷ đồng đã vay mượn.
Kính thưa HĐXX,
Với những lập luận và chứng cứ nêu trên, đối với 2 yêu cầu của nguyên đơn, thay mặt thân chủ là
ông Trần Văn Hùng và bà Trần Thị Nhân, kính đề nghị HĐXX xem xét:
Bác yêu cầu “công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông
Hùng và ông Hậu được xác lập ngày 30/05/2004” vì hợp đồng vô hiệu. Kính đề nghị HĐXX xem
xét và tuyên thoả thuận ngày 30/5/2004 là vô hiệu theo các căn cứ đã phân tích trên đây.
Bác yêu cầu “Buộc vợ chồng ông Hùng, bà Nhân trả lại nhà và đất mà vợ chồng ông Hùng
chiếm giữ trái phép cho ông Hậu”. Kính đề nghị HĐXX xem xét ý kiến của vc ông Hùng, bà Nhân
đề nghị trả ông Hậu 300tr, bao gồm chi phí xây nhà, các chi phí khác đã phát sinh và tiền cảm ơn
ngoài 1 tỷ đồng đã vay mượn. Nếu ông Hậu không đồng ý thì sẽ thực hiện theo quyết định của
HĐXX về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.

18


Trên đây là bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là ông Trần Văn Hùng và bà
Trần Thị Nhân. Rất mong nhận được sự xem xét và quyết định công minh của HĐXX.

Xin chân thành cảm ơn.
Thưa HĐXX, tôi đã trình bày xong
TP: Mời LS ngồi xuống.
Mời ông Hùng, bà nhân đứng dậy.
TP: Ông Hùng, bà Nhân có bổ sung ý kiến tranh luận hay không?
Ông Hùng, bà nhân: Thưa HĐXX tôi không có ý kiến gì thêm.
TP: Mời ông,bà ngồi
TP: Đề nghị Luật sư NĐ có ý kiến tranh luận với quan điểm của Luật sư BĐ.
Lsư Ngoan đứng lên tranh luận thêm.
Tôi hòan tòan phản bác tòan bộ nội dung bản luận cứ của LS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn: văn bản thỏa thuận ngày 30/04/2004 mặc dù không tuân thủ về hình thức đối với việc
chuyển nhượng QSDĐ nhưng không bị vô hiệu theo luận cứ của LS bị đơn trình bày. Điều này
được pháp luật quy định cụ thể trong NQ02/2004 ngày 10/08/2004 của HĐ TP TANDTC tại mục
II.2.3 điểm b3 do đó đây là cơ sở pháp lý để chứng minh văn bản thỏa thuận trên của thân chủ tôi là
hoàn toàn có cơ sở pháp lý.
Về tình cảm , truyền thống….
Lsư Ngoan: Thưa HĐXX, tôi đã trình bày xong và ngồi xuống
TP: Đề nghị đại diện Luật sư BĐ có ý kiến tranh luận lại ý kiến của Luật sư NĐ vừa trình bày.
Lsư Đức: Tôi không tranh luận về việc hình thức hợp đồng chuyển nhượng phải được công
chứng theo quy định của NQ 02 mà nhấn mạnh giao dịch ngày 30/5/2004 không có hiệu lực do
thiếu các nội dung chủ yếu theo Điều 708, BLDS 1995 và còn là hợp đồng giả tạo bị vô hiệu theo
điều 138, BLDS 1995.
Luật sư Đức: Thưa HĐXX, tôi đã trình bày xong.
TP: Mời đại diện Luật sư NĐ có ý kiến gì đối đáp lại ý kiến của LS bị đơn không?
Lsư Ngoan: Kính thưa Hội đồng xét xử, Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát, Thưa Quý Luật sư
đồng nghiệp. Tất cả quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ tôi là
ông Trần Văn Hậu đã được chúng tôi lần lược trình bày rõ ràng, cụ thể. Chúng tôi không có ý kiến
tranh luận thêm nào khác.
TP: Luật sư BĐ còn ý kiến gì tranh luận nữa hay không?
Lsư Đức: Thưa HĐXX, không.

TP: Nếu không ai có ý kiến tranh luận gì thêm, xin mời đại diện VKS phát biểu về phiên tòa
ngày hôm nay.

19


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TP VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 99/DS-ST
Việt Trì, ngày 30 tháng 12 năm 2012
BẢN PHÁT BIỂU
của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
về việc giải quyết vụ án dân sự
- Căn cứ khoản 3 Điều 21 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002;
- Căn cứ điều 21, điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011;
- Căn cứ Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao.
Ngày 30 tháng 12 năm 2012 Tòa án nhân dân Tp Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã có Quyết định số:
19/DSST-QĐ đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hậu. Cư trú tại: Nhà 200, tổ 11A, phố Long Châu Sa, phường
Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Ông Trần Văn Hùng và Bà Trần Thị Nhân
Đều trú tại: Khu 1, xã Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực
tiếp tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân TP Việt Trì có ý kiến như sau:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ
án thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm.
+ Vụ án được xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục đúng theo quy định tại điều 197
BLTTDS.
+ Thành phần hội đồng xét xử bao gồm 01 Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa và 02 hội thẩm
đúng với quy định tại điều 52 BLTTDS. Tại phiên Tòa hôm nay, các thành viên HĐXX và thư ký
Tòa có mặt đầy đủ như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.
+ Thủ tục phiên Tòa: chủ tọa phiên Tòa khai mạc, đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra
sự có mặt của đương sự, phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự; hỏi những người có quyền
yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng; hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu
khởi kiện được HĐXX thực hiện đúng quy định tại điều 213, 217 BLTTDS.
HĐXX đã nghe lời trình bày và các yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và
nghĩa vụ liên quan; hỏi đương sự theo đúng trình tự pháp luật.
* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

20


- Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực
hiện đúng các quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 61, Điều 209 Bộ luật TTDS.
- Đối với những người tham gia tố tụng khác: đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 64,
Điều 66, Điều 68, Điều 70, Điều 74, Điều 209 của Bộ luật TTDS.
Trên đây là ý kiến của VKSND Tp Việt Trì về quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân
Tp Việt Trì tại phiên tòa hôm nay.

Nơi nhận:

TL. VIỆN TRƯỞNG

Đ/c Lãnh đạo viện phụ trách khối (để
b/c)

KIỂM SÁT VIÊN

Lưu: hồ sơ KS

(đã ký)
Trần Bình Minh

TP: Mời vị đại diện viện kiểm sát ngồi.
TP: Thay mặt HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần tranh luận, HĐXX vào phòng nghị án.
TK: Mời mọi người đứng đậy. Mọi người đều đứng dậy, HĐXX vào phòng nghị án.

TK/ TP: BUỔI DIỄN ÁN ĐẾN ĐÂY LÀ KẾT THÚC

21



×