Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1020.06 KB, 109 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ THANH PHƯỢNG

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
CHO THIẾU NIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
PHƯỜNG QUANG TRUNG, QUẬN HỒNG BÀNG,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Giáng Thiên Hương

HÀ NỘI - 2017


LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Dương Giáng Thiên Hương

Phản biện 1: PGS TS. Nguyễn Thị Yến Phương
Phản biện 2: TS. Nguyễn Thị Nhân Ái

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
tại trường ĐHSP Hà Nội
Vào hồi: 10h 30 ngày 27 tháng 6 năm 2017



Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện trường ĐHSP Hà Nội
- Thư viện Khoa Tâm lí - Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực. Kết quả
nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước
đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận án

Đỗ Thanh Phượng

1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

2

GDGTGĐTT:

Giáo dục giá trị gia đình truyền thống

GD:


Giáo dục

PHHS:

Phụ huynh học sinh

ANAT:

An ninh an toàn

VSMT:

Vệ sinh mội trường

ATXH:

An toàn xã hội

DS-KHHGĐ:

Dân số- Kế hoạch hóa gia đình

CSTE:

Chăm sóc trẻ em

CLB:

Câu lạc bộ


HĐND:

Hội đồng nhân dân

UBND:

Ủy ban nhân dân

GD&ĐT:

Giáo dục và Đào tạo

ĐTB:

Điểm trung bình

NCT:

Người cao tuổi


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Nhiều gia đình cộng lại mới
thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt
nhn của xã hội là gia đình”. Theo lời Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung
ương Đảng có ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các
cấp ủy Đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam có đoạn: “Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cả đời

người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”.
Cũng trong Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1989) cũng có viết:
“Việc giáo dục trẻ em (trong gia đình) phải được hướng tới phát triển tối đa
nhân cách”.
Gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá
trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị truyền
thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn
nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, bất
khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách... đó được gia đình Việt
Nam giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ
nước.
Gia đình là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan
trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát
huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn
tồn tại và phát triển đều phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình. Gắn với Cuộc
vận động “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống
trong gia đình” chuyển tải thông điệp mỗi người Việt Nam hãy trân trọng hơn
những giây phút sum họp bên bữa cơm gia đình hạnh phúc, đầm ấm, đồng thời
nêu cao các giá trị vô giá của gia đình, đó là tình cảm của ông bà, cha mẹ, con
3


cháu, vợ chồng, anh em cùng lòng tôn kính các bậc sinh thành, tình yêu thương
con trẻ. Không chỉ vậy, gia đình cũng góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ
thêm bản sắc văn hoá dân tộc; là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị
truyền thống quý báu của người Việt được lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch
sử.
Hiện nay, trước sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và xu hướng
toàn cầu hoá, giá trị gia đình truyền thống đang có nhiều vận động và biến đổi.

Bên cạnh sự hình thành những giá trị mới phù hợp với xã hội hiện đại, một số
giá trị truyền thống tốt đẹp đó bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi.
Phường Quang Trung nằm ở khu vực trung tâm của quận Hồng Bàng được
thành lập từ tháng 4/1988 với diện tích 13,4 ha bao gồm 7 tuyến phố Quang
Trung, Phan Bội Châu, Kỳ Đồng, Trần Quang Khải, Lý Thường Kiệt, Phạm Bá
Trực và Tam Bạc; trong đó có một tuyến đường mẫu của Thành phố và Quận
(đường Quang Trung). Trên địa bàn phường, phía Bắc tiếp giáp Phường Minh
Khai; phía nam giáp phường An Biên (quận Lê Chân), phía Đông giáp phường
hoàng Văn Thụ, phía Tây giáp phường Hạ Lý. Toàn phường có 1.424 hộ dân với
tổng số 6.152 nhân khẩu phân bổ tại 11 tổ dân phố. Từ điều kiện địa lý, kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội cho thấy vấn đề giáo dục giá trị truyền thống gia đình
ở phường Quang Trung cần hết sức chú trọng và quan tâm.
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một công trình nào nghiên
cứu sâu về việc giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên tại một khu
dân cư cụ thể. Ở một cồng đồng dân cư gần gũi, các gia đình thường có sự ảnh
hưởng nhau về lối sống và cách giáo dục con cái. Từ đó chúng ta có thêm một
cái nhìn về vai trò của gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung trong giáo
dục các giá trị văn hoá truyền thống. Vì vậy, việc đi tìm hiểu giáo dục giá trị gia
đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư tại cụm phường Quang
Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng là một việc làm cần thiết.
Ý thức được tầm quan trọng của gia đình trong việc giữ gìn các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, góp phần
nâng cao vai trò của giáo dục đối với việc xây dựng và giữ gìn văn hóa gia đình,
4


nền tảng của văn hóa dân tộc, tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục giá trị gia đình
truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường Quang Trung,
quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng giáo dục giá trị gia đình
truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư ở phường Quang trung,
quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nhằm đề xuất các biện pháp giáo dục và
gìn giữ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng gia đình
văn hóa và xã hội văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về giáo dục giá trị gia đình truyền thống Việt Nam.
- Phân tích thực trạng giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường
Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường
Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường Quang Trung,
quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
4.2. Khách thể:
Quá trình giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên.
5. Giả thuyết nghiên cứu.
Trong bối cảnh hội nhập văn hóa và WTO, vấn đề giáo dục giá trị truyền
thống gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng để giữ gìn bản sắc văn hóa Việt
Nam. Tuy nhiên, Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên chưa
được quan tâm đúng mức nên một số giá trị truyền thống tốt đẹp đó bị xâm hại
và có nguy cơ bị mai một. Nếu đề xuất được một số biện pháp phù hợp với đặc
điểm cộng đồng, văn hóa cộng đồng…giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc thì sẽ góp phần xây dựng cộng đồng gia đình văn hóa ở phường
Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
5


6. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Giáo dục giá trị gia đình truyền thống.
- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài triển khai ở phường Quang Trung, quận
Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
7. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1 Phương pháp quan sát.
7.2.2 Phương pháp thống kê xã hội học.
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn.
7.2.4 phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ.
Sử dụng phần toán học SPSS 18.0
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến
được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho
thiếu niên trong cộng đồng dân cư.
Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên
ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho
thiếu niên ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
CHO THIẾU NIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Các hình thức tổ chức các gia đình đã biến dạng theo lịch sử, và vì thế
người ta không dễ gì đồng ý với nhau về định nghĩa của gia đình, ngay cả định
nghĩa của George Murdock, một chuyên gia Hoa Kỳ về lịch sử xã hội. Murdock
định nghĩa gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi cư trú chung
có sự cộng tác và tái sản xuất về kinh tế, bao gồm những người trưởng thành của
hai giới, trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã
hội công nhận và một hoặc nhiều đứa trẻ, là con đẻ hay con nuôi của những
người trưởng thành có mối quan hệ như vợ chồng với nhau.[18,54] Theo định
nghĩa này, gia đình được tạo thành từ những người sống chung với nhau trong
một thời gian kéo dài. Họ được gắn kết bởi những thỏa thuận pháp lý hay những
cam kết tình cảm, hoặc cả hai. Và cuối cùng, họ có thể chăm sóc cho một hoặc
nhiều hơn các thân quyến phụ thuộc là trẻ con, người tàn tật hay già cả. Định
nghĩa trên đã bỏ qua nhiều vai trò và chức năng căn bản của gia đình, cũng như
không cho thấy sự phân công trách nhiệm vốn là thực tế trong các gia đình, vì
do đó, mà nảy sinh ra trong lịch sử các chế độ mẫu hệ, phụ hệ và gia trưởng.
Quan trọng hơn, định nghĩa trên không chứng tỏ đươc tính chất nòng cốt của gia
đình vốn mang trong chính nó mối tương quan hòa thuận và gia giáo, thông qua
giáo dục. Dầu sao ý tưởng chính vẫn là sự gắn kết trong cuộc sống vật chất và
tinh thần, nhờ sự gắn kết này mà các quyền lợi của cá nhân và gia đình được bảo
đảm.Tình yêu và trách nhiệm trong hôn nhân là phẩm chất chính yếu và tốt đẹp
nhất của đời sống gia đình.
Nhưng với Trost, tác giả của tác phẩm Married and Unmarried
Cohabitation đã cho ta một nhận định khác về hai quan hệ chủ yếu nhất “quan
hệ vợ chồng” và “quan hệ bố mẹ - con cái.”[dẫn theo 39, 44] Theo Trost, khi nói về
7


gia đình người ta thường nghĩ tới một nhóm người sống chung một mái nhà, có
mối quan hệ huyết thống qua hôn nhân hay cam kết. Ta cũng nghĩ tới gia đình

như một tập thể có mục đích chung là nuôi nấng dậy dỗ, kế thừa truyền thống,
giá trị và trách nhiệm đối với hạnh phúc của các thành viên gia đình. Sự gắn bó
với nhau và chung lưng đấu cật là để phong phú hóa cuộc sống của gia đình và
của mỗi thành viên. Tiến sĩ Mortimer J. Adler, trong tác phẩm Great ideas from
the great books đã thừa nhận rằng từ thế chiến thứ II, cuộc sống gia đình có một
tầm quan trọng rất lớn, ngay cả những người trí thức và bọn trẻ con cũng muốn
có một cuộc sống gia đình lành mạnh. Trong các thời đại và những nơi chốn
khác nhau thì gia đình có khác nhau về tổ chức, điều hành và vai trò xã hội,
nhưng luôn luôn có chức năng căn bản là sinh sản và nuôi dưỡng. Đây là mục
đích tự nhiên của gia đình.[dẫn theo 39, 62]
Chúng ta có lẽ dễ đồng thuận hơn khi hiểu gia đình là một nhóm căn bản
xã hội, hình thành qua một nghi lễ được xã hội hay truyền thống thừa nhận. Như
thế gia đình có mục đích thực hiện một số chức năng mà xã hội ấn định như [39,
299]

: Chức năng truyền sinh: lưu truyền sự sống thông qua mối liên hệ trong hôn

nhân; Chức năng giáo dục (Xã hội hóa), giáo dục và truyền ban những giá trị
được gia đình, gia tộc hay cộng đồng xã hội thừa nhận; Chức năng lao động:
nuôi sống mọi người trong gia đình bằng đóng góp công và sức lao động. Chức
năng tôn giáo, tín ngưỡng: gia đình là nơi tôn kính, thờ tự, (đặc biệt trong các
gia đình theo đạo thờ kính ông bà), bảo tồn và lưu truyền niềm tin tín ngưỡng
cho các thế hệ kế tục. Những giá trị của gia đình trên, dĩ nhiên chưa phải là tất
cả nếu nhìn dưới góc độ giá trị của cộng đoàn nhân vị, sự sống và dâng hiến
phục vụ, dầu sao, cũng đã kết thành ý nghĩa phổ quát của cơ cấu gia đình; chính
những giá trị nầy làm nên nét đặc trưng của hôn nhân và gia đình
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Cho đến nay đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình dưới
nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có thể
phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:

8


Nhóm nghiên cứu về giáo dục giá trị truyền thống
1. Trần Văn Giàu (1980), “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Nguyễn Trọng Đệ chủ biên (1994), “Giáo dục gia đình”, Hội Tâm lý - Giáo
dục học Nghệ An xuất bản.
3. Đỗ Lai Thuý (1996) đã đề cập: Sự phát triển của ý thức cá nhân qua mẫu
người văn hoá, trong sách "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện
nay”, tập II, đề tài KX-07-02, Hà Nội.
4. Nguyễn Hồng Hà (2001), “Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế
hệ trẻ”, Viện Văn hoá (thuộc Trường Đại học Văn hoá), Nxb Văn hoá - thông
tin, Hà Nội.
5. Mai Quỳnh Nam chủ biên (2002) “Gia đình trong tấm gương xã hội học”,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, đã tập hợp những nghiên cứu của các tác giả
trongViện Xã hội học và các cộng tác viên của Viện về gia đình. Cuốn sách này
gồm có 5 phần và trong đó có 2 phần là: Gia đình và các ảnh hưởng văn hoá, sự
biến đổi và các quan hệ trong gia đình đã đề cập rất sâu về giáo dục gia đình và
vai trò của trẻ em trong gia đình hiện nay. Đây thực sự là một tài liệu quý báu
định hướng cho tôi chọn đề tài trên làm luận văn của mình.
Ngoài ra còn rất nhiều các tác giả khác nghiên cứu về vấn đề giáo dục gia
đình như: Nguyễn Lan Phương với bài “Nhận xét về sự chuyển đổi giá trị của
đứa con sau mười năm ở một xã”, Tạp chí Xã hội học số 2 (50), 1995; Phan Đại
Doãn với bài “Chữ hiếu trong quan hệ gia đình, làng xã người Việt truyền
thống”, Tạp chí Dân tộc học số 2, 1992…
Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có
một số công trình như: “Gia đình Việt Nam ngày nay” Nxb. Khoa học xã hội,
1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS. Lê Thi,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược

phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30-2003;
“Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay” của GS.
Lê Thi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của Đặng Cảnh
9


Khanh - Lê Thị Quý, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009; “Nghiên cứu
gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nhiều tác giả, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
2010; “Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam: Một số kết quả phân tích sâu
Điều tra gia đình Việt Nam 2006”, Viện Gia đình và Giới, Nxb. Bộ Văn hoá, thể
thao và du lịch, Viện Gia đình và Giới, UNICEF Việt Nam, Hà Nội, 2011…
Qua các công trình này, các tác giả đó khái quát một cách có hệ thống về sự biến
đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công cuộc đổi mới và hội
nhập quốc tế. Hôn nhân và gia đình đến nay đối với người Việt Nam vẫn có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam đó có những thay đổi về
cấu trúc, quy mô, về việc thực hiện các chức năng của gia đình. Nhiều khó khăn
phức tạp đó nảy sinh trong hoàn cảnh mới, xu hướng ly hôn đang tăng lên, lối
sống thực dụng, thế lực đồng tiền len lỏi trong nội bộ các gia đình, sự suy thoái
về đạo đức, sự phân biệt đối xử với phụ nữ, với trẻ em, nạn bạo lực gia đình vẫn
đang tồn tại và diễn biến phức tạp trong các gia đình… Những điều đó đó gây
nhức nhối và cản trở sự tiến bộ của các thành viên, phá vỡ hạnh phúc gia đình và
ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Trên cơ sở xác định thực trạng gia đình Việt Nam, các tác giả đều tập
trung vào việc đề ra những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng
gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc ở nước ta hiện nay. Đặc biệt,
cần có sự kế thừa những gía trị đạo đức của gia đình truyền thống và tiếp thu
những giá trị đạo đức của gia đình hiện đại. Vun đắp mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình, không chỉ đòi hỏi chúng ta phải có cái tâm, có thiện ý, xuất
phát từ tình cảm và trách nhiệm của mỗi người mà cũng phải có những kiến thức
khoa học về tâm sinh lý, về cách tổ chức đời sống gia đình trong bối cảnh đổi

mới và hội nhập quốc tế.
Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình có một
số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị
Quý, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 - 1991; “Bất bình đẳng nam nữ nhìn từ
góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 32-1998; “Phụ
nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1998;
10


“Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý, Tạp chí
Khoa học về Phụ nữ, số 42 - 2000; “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị”,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Bình đẳng giới ở Việt Nam: Phân tích số
liệu điều tra”, Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2008; “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực
trạng, diễn tiến và nguyên nhân”, Nguyễn Hữu Minh; Trần Thị Vân Anh (đồng
chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các
tác giả đó chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình
đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực gia đình đang diễn biến nghiêm trọng, tác
động xấu đến gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay.
Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hóa và
đạo đức gia đình.
Dưới góc độ văn hoá có một số công trình như: “Nho giáo và gia đình”,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; “Xây dựng gia đình văn hoá trong sự
nghiệp đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Gia đình và Phụ nữ
trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn” của Nguyễn Linh Khiếu, Nxb. Khoa
học xã hội, 2001; “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”,
Đặng Cảnh Khanh: Biên soạn, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội, 2003; “Văn hoá
gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Ths.
Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản, số 161-2008… Qua các công trình này,
các tác giả đó khái quát được những giá trị văn hoá của gia đình, chỉ ra sự cần

thiết phải xây dựng văn hoá gia đình và gia đình văn hoá ở Việt Nam hiện nay.
Dưới góc độ đạo đức gia đình có một số công trình như:“Đạo đức mới”
của Vũ Khiêu (Chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974;“Quan hệ giữa
đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn
Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6, 1992; “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế
với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 1-1987;
“Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường” của Thái Duy Tuyên, Hà Nội, 1994; “Những vấn đề về đạo đức trong
điều kiện kinh tế thị trường” của Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1996;
11


“Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường”
của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 5, 1996; “Vai trò của gia đình
trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” của Lê Thi, Nxb. Phụ nữ,
Hà Nội, 1997;“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của Thành Duy, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” của Hoàng Chí
Bảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các tác
giả đó khái quát thực trạng đạo đức của xã hội và gia đình Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đồng thời, chỉ ra những nguyên
nhân dẫn đến sự suy thoái về đạo đức và lối sống của giới trẻ hiện nay. Từ đó,
nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà trường, cộng đồng, xã hội và đặc biệt là
vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, lối sống và hành thành nhân
cách cho thế hệ trẻ hiện nay.
Ngoài một số công trình nêu trên cũng có các luận văn, luận văn nghiên
cứu về gia đình, về đạo đức gia đình và giáo dục đạo đức trong gia đình như:
Luận văn thạc sĩ Triết học “Sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đến đạo đức gia đình truyền thống ở Việt Nam” của Nguyễn Thị
Thọ; Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ
trẻ ở nước ta hiện nay” của Nghiêm Sĩ Liêm, 2000; “Gia đình trong quá trình

đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Tiến Vững, 2005; Luận án
tiến sĩ tâm lý học “Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị
cuộc sống của thế hệ trẻ” của Cấn Hữu Hải, 2001….
Các công trình nghiên cứu ngày đã góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lí
luận cũng như thực tiễn tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác xây dựng
gia đình hiện nay. Bên cạnh đó, có một số đề tài, công trình cũng đề cập đến vấn
đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống
Việt Nam trong công tác xây dựng gia đình những năm gần đây. Nhưng do mục
đích và nhiệm vụ đặt ra khác nhau, vì vậy chưa có công trình nào nghiên cứu về
giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên tại một khu dân cư cụ thể. Ở
một cồng đồng dân cư gần gũi, các gia đình thường có sự ảnh hưởng nhau về lối
12


sống và cách giáo dục con cái. Từ đó chúng ta có thêm một cái nhìn về vai trò
của gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung trong giáo dục các giá trị gia
đình truyền thống. Vì vậy, việc đi tìm hiểu giáo dục các giá trị gia đình truyền
thống trong thiếu niên hiện nay qua việc khảo sát tại khu dân cư Quang Trung là
một việc làm cần thiết.
Các công trình và bài viết của các tác giả trên chính là sự gợi mở, là chìa
khoá và thực sự là những tài liệu quý để chúng tôi vận dụng vào trong nghiên
cứu của mình.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Gia đình và gia đình truyền thống
1.2.1.1. Gia đình.
Trong xã hội, có thể nói, không có một điều gì rõ ràng, gần gũi với con
người như gia đình. Bởi lẽ, đó là khái niệm liên quan đến mỗi con người. Trong
bất cứ giai đoạn phát triển nào của xã hội, gia đình cũng là tế bào quan trọng
nhất - nơi con người sinh ra, lớn lên và trưởng thành, đồng thời đây cũng là vấn
đề được nhiều nhà tư tưởng, nhiều tố chức nghiên cứu vơi những cách tiếp cận

phong phúc và đa dạng. Tuy nhiên, ở mỗi một hình thái kinh tế- xã hội lại có
một phương thức tổ chức xã hội đặc thù và vì vậy phương thức tồn tại của gia
đình cũng khác nhau. Từ sự khác nhau đó mà cách nhận thức về gia đình của
mỗi xã hội cũng không phải là nhất thành bất biến. Có thể nói khái niệm “ gia
đình” là một khái niệm động và nó không ngừng thay đổi cùng với sự vận động
của điều kiện kinh tế - xã hội.
Từ những năm 500 trước Công Nguyên, các nhà kinh điển của Nho giáo
đã cho rằng: nhà là mắt xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và
thế giới. Tư tưởng này đã được thể hiện rất rõ qua các tác phẩm của hai thời kì
Nho giáo nguyên thủy và Hậu Nho giáo với các đại biểu nổi tiếng như Khổng
Tử, Mạnh Tử, ...và đã đặt nền móng cho các nghiên cứu về gia đình ở nhiều
nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
Nho giáo có Tam cương (vua tôi, cha con, vợ chồng) thì đã có hai cương
nói về gia đình, Năm luân (vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè) thì có ba
13


luân nói về gia đình. Chính vì vậy trong Nho giáo, gia đình có một vị trí hết sức
quan trọng giống như một nước cần có kỷ cương và trật tự nhưng kỷ cương và
trật tự ấy chỉ có được khi nó được xây dựng từ trong gia đình.
Định nghĩa đương đại về gia đình có rất nhiều:
Mác và Ăng-ghen cho gia đình là mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa
cha mẹ và con cái [5]. Tuyên bố về tiến bộ xã hội trong phát triển của Liên Hiệp
Quốc định nghĩa “Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, và là môi trường tự
nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em”
[46,147]. Dưới đây là một số định nghĩa khác của các nhà nghiên cứu tâm lý học
- xã hội học cho phép nhìn nhận các khía cạnh của gia đình được rõ hơn. Các
Mác đã tiếp cận gia đình qua chức năng cơ bản và quan trọng của nó, đó là chức
năng tái tạo ra con người hay duy trì nòi giống. Đồng thời, C.Mác nhấn mạnh
những mối quan hệ tình cảm ruột thịt, thiêng liêng trong gia đình như: quan hệ

hôn nhân và quan hệ huyết thống. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884) Ph. Ăngghen đã làm rõ về vấn đề nguồn
gốc của gia đình - đó là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài và đầy
mâu thuẫn của lịch sử gắn liền với sự hình thành của chế độ tư hữu và nhà nước.
Ông đã làm rõ những khái niệm cơ bản về “hôn nhân”, “gia đình” mà đặc biệt là
khái niệm “gia đình”. Theo Ph.Ăngghen, “gia đình” thường gắn với hôn nhân và
là khái niệm phát sinh từ chính hôn nhân, tuy nhiên không thể chỉ quy trực tiếp
vào hôn nhân. Gia đình đòi hỏi phải có hành động tương hỗ giữa các cá thể
trong quá trình thoả mãn không chỉ các nhu cầu sinh dục, mà bên cạnh đó còn có
cả các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, giáo dục và tình cảm nữa. Đồng thời nó cũng
bao gồm cả việc làm kinh tế chung, sinh con đẻ cái và giáo dục chúng... Có thể
nói đây là những quan điểm có tính chất nền tảng cho các trào lưu nghiên cứu về
gia đình sau này.
Nhà xã hội học người Nga T.A-pha-na-xê-va cho rằng có ba cách định
nghĩa gia đình. Một là, “gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, liên kết với nhau bằng
một chỗ ở, bằng một ngân sách chung, và bằng các mối quan hệ ruột thịt”. Hai
là, “gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, liên kết với nhau trong một nhà, bằng một
14


ngân sách chung, và bằng các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tình cảm
và trách nhiệm”. Ba là, “Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ,
con cái của một vài thế hệ; các thành viên gia đình có quan hệ ràng buộc về vật
chất và tinh thần, theo những mục đích sống có tính nguyên tắc giống nhau về
các vấn đề chủ yếu” [dẫn theo 35,46].
Định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất trong các sách báo là của hai nhà xã
hội học E.Bơ-getx và H.Lốc-cơ: “Gia đình là một nhóm người liên kết với nhau
bởi các quan hệ hôn nhân, máu mủ, hay bằng nhận con nuôi, tạo thành một hệ
riêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua các vai trò xã hội của từng
người: là chồng, là vợ, là bố, là mẹ, là con, là anh chị em,... Tạo nên một nền

văn hoá chung” [5,17]. Định nghĩa này vừa nói được cấu trúc của gia đình, vừa
chỉ ra mối quan hệ và quan trọng nhất là đã chỉ ra rằng: tổng hoà các thành viên
của gia đình bằng giao tiếp và tác động qua lại, đã tạo ra một nền văn hoá.
Tuy nhiên, những biến đổi thật sự to lớn và những nhận thức khoa học về

gia đình bắt đầu đuợc đánh dấu từ giữa thế kỉ XX và ngày càng được phát triển
cho đến nay. Nếu như trước đây, khái niệm “gia đình” chỉ được hiểu là sự bao
hàm của hai người nam nữ khi họ đã cưới nhau và chung sống với con cái, trong
đó người chồng là người trụ cột gia đình và người vợ là người chu toàn công
việc gia đình và chăm sóc con cái. Song, đến những năm 50 của thế kỉ XX, quan
niệm đó đã thay đổi mà xuất hiện những định nghĩa khái quát hơn. Gia đình
được hiểu là một nhóm xã hội gồm hai hoặc nhiều người gắn bó với nhau bằng
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi nhằm thỏa
mãn nhu cầu về xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác và tinh thần.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, hình thức
gia đình cũng đa dạng và phức tạp hơn thì định nghĩa trên dường như cũng trở
nên cứng nhắc và chật chội. Như vậy, chính sự thay đổi của hình thức gia đình
đã dẫn tới sự biến đổi không ngừng trong những định nghĩa về gia đình. Vì vậy,
“gia đình” là một khái niệm động, luôn luôn vận động, và biến đổi. Và trước
những thách thức của thời đại hiện nay, việc lựa chọn một định hướng chiến
lược phát triển cho gia đình là vấn đề đặt ra cho cả nhân loại.
15


Ở Việt Nam, ngay từ rất sớm, những khảo luận và phân tích về gia đình
đã được quan tâm và đặc biệt chú ý. Từ thế kỉ XV, Nguyễn Trãi đã viết “Gia
huấn ca” với rất nhiều những nguyên tắc xây dựng gia đình và giáo dục gia đình
vừa theo quan điểm của Nho giáo vừa thấm nhuần những giá trị truyền thống
của dân tộc.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề

gia đình. Trong những bài viết, tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh đã khẳng định
rất rõ vai trò của gia đình đối với con người và xã hội. Theo Người, gia đình
chính là cái nôi nuôi dưỡng con người, là nơi con người xây dựng mối quan hệ
yêu thương, bình đẳng và hòa thuận.
Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng đó, trong những năm trở lại đây, xuất
hiện khá nhiều các nghiên cứu, công trình khoa học về gia đình dưới nhiều góc
độ khác nhau như: triết học, sử học, dân tộc học, văn học, xã hội học, dân số
học, tâm lý học, giáo dục học... Điều đó cho thấy, gia đình vẫn là một đề tài khá
mới mẻ và giàu giá trị nghiên cứu.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống
chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ
hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái [7, tr.719].
Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), khẳng định: “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với
nhau theo luật định” (Điều 8) [24, tr.15-16].
Từ góc độ Tâm lý học, trong cuốn “Tâm lý gia đình”, tác giả Nguyễn
Khắc Viện đã đưa ra định nghĩa: “Gia đình, đó là sự chung sống giữa hai nhóm
người, cha mẹ, con cái, nó cùng một mối quan hệ là những người sinh ra và
những người nối dõi [46, tr.20].
Từ góc độ Triết học, Giáo sư Lê Thi quan niệm rằng: "Gia đình" là một
khái niệm dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân
và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống.
Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi
16


dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình gắn bó
nhau về trách nhiệm và quyền lợi... [40, tr.42].
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau, quan niệm về gia đình cũng khác

nhau và sẽ không có một định nghĩa duy nhất về gia đình cho mọi nền văn hóa.
Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời kế thừa quan
điểm của những nhà nghiên trước, theo tác giả luận văn: Gia đình là một cộng
đồng người đặc biệt, được hình thành, phát triển và củng cố bởi hai mối quan
hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Trong gỉa đình, các
thành viên có quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau cả về vật chất lẫn
tinh thần, cùng thực hiện mục tiều phát triển kinh tế, nuôi dưỡng các thành viên
và xây dựng gia đình bền chặt.
Dù cách nhận thức và lí giải về khái niệm gia đình có khác nhau và sẽ
luôn vận động, nhưng nói một cách chung nhất chúng ta có thể thấy rằng gia
đình Việt Nam thời kì nào cũng vậy đều có vai trò quan trọng đối với mỗi con
người cũng như xã hội. Từ lúc hình thành cho đến ngày nay, gia đình Việt Nam
dù là truyền thống hay hiện đại thì đều được dựng xây trên cơ sở của mối quan
hệ hôn nhân và huyết thống. Đồng thời, vị trí và vai trò của gia đình vẫn không
hề thay đổi, gia đình vẫn là tổ ấm mang lại những giá trị hài hòa trong đời sống
vật chất cũng như tinh thần của mỗi con người. Tuy nhiên, trước những dấu hiệu
của sự khủng hoảng gia đình trong xã hội hiện đại, trở về với các giá trị gia đình
truyền thống đang được coi là một trong những phương thức tốt nhất để hướng
tới tương lai.
1.2.1.2. Gia đình truyền thống
Như chúng ta đã biết, gia đình giống như là một xã hội thu nhỏ, trong đó
hiện diện đầy đủ những quan hệ như: quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ
văn hóa... Tuy nhiên hiện nay, những biến chuyển của kinh tế - xã hội đã và
đang tác động dữ dội vào gia đình trên nhiều phương diện và đưa đến những hệ
quả có tính đa chiều. Trước những biến đổi đó, đặc biệt là những dấu hiệu của
sự khủng hoảng gia đình trong xã hội hiện đại, thực tiễn đang vang lên những lời
kêu gọi chúng ta phải trở về với các giá trị của gia đình truyền thống.
17



Cho đến nay, với rất nhiều những nghiên cứu và công trình khoa học về
gia đình, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt
nào về gia đình truyền thống tại Việt Nam và chính vì vậy cũng chưa thể nhận
diện một cách đầy đủ và sâu sắc về nó. Trong lịch sử nghiên cứu về gia đình,
chúng ta thường tiếp cận với hai khái niệm được phân tách rõ ràng : gia đình
truyền thống và gia đình hiện đại. Tuy nhiên, trên thực tế sự phân tách này chỉ
có ý nghĩa tương đối dựa trên sự khác nhau về cấu trúc, quy mô, hình thức tổ
chức gia đình cũng như quan niệm sống.
Gia đình Việt Nam truyền thống được các nhà nghiên cứu cho là kiểu gia
đình chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay. Truyền thống là tập hợp
những thói quen trong tư duy lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất
định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Truyền thống có ba đặc tính cơ bản là tính cộng đồng, tính
ổn định và tính lưu truyền. Gia đình Việt Nam truyền thống cũng mang những
đặc trưng cơ bản đó. Kiểu gia đình này ra đời từ cái nôi của nền văn hóa bản địa
và được bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, có thể hiểu gia đình
Việt Nam truyền thống là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại chủ
yếu trên địa bàn nông thôn. Chính vì vậy có thế nói, tính chất nông nghiệp, nông
thôn và Nho giáo là những đặc trưng cơ bản của gia đình Việt Nam truyền
thống.
Thứ nhất, gia đình Việt Nam truyền thống là sản phẩm của xã hội nông
nghiệp Việt Nam, gắn liền với xã hội nông thôn - nông nghiệp, vì vậy, nó tương
đối ổn định và ít có sự biến đổi trước những biến thiên của lịch sử. Ra đời trong
nền nông nghiệp sản xuất lúa nước, với những công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu
lại phải đối mặt với nhiều thiên tai, địch họa nên gia đình Việt Nam truyền thống
rất coi trọng sức mạnh cộng đồng. Trước hết là cộng đồng gia đình, một cộng
đồng tự nhiên bắt nguồn từ những quan hệ gần gũi nhất. Trong cộng đồng đó,
những con người gắn bó với nhau bằng tất cả những mối liên hệ vật chất cũng
như tinh thần. Đó là sự gắn bó thủy chung giữa chồng và vợ, là tình yêu thương
của cha mẹ với con cái, là sự kính trọng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ

18


tiên... Với đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp nên trong gia đình truyền
thống thường có nhiều thế hệ cùng chung sống mà dân gian hay gọi là "tam, tứ
đại đồng đường". Trong gia đình, các thành viên liên kết với nhau bằng một
chuỗi những quan hệ huyết thống rất chặt chẽ. Đây là kiểu gia đình khá phổ biến
ở khu vực đồng bằng Bắc bộ Việt Nam trước đây.
Thứ hai, gia đình Việt Nam truyền thống chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của
gia đình Nho giáo.
Chúng ta không nghi ngờ về những tác động cũng như ảnh hưởng mạnh
mẽ của Nho giáo đến gia đình Việt Nam truyền thống. Chính những ảnh hưởng
này đã khiến không ít các học giả khi nghiên cứu về gia đình đã đồng nhất gia
đình Việt Nam với gia đình Nho giáo. Những ảnh hưởng của Nho giáo tới văn
hóa gia đình Việt Nam là hết sức to lớn, đặc biệt là trên những chuẩn mực chính
thống của thiết chế nhà nước.
Trong gia đình truyền thống, trật tự gia đạo, gia phong, gia lễ được coi
trọng và quy định chặt chẽ đối với mọi thành viên trong gia đình, trong đó gia
đạo được coi là sức mạnh của gia đình. Gia đạo được hiểu là đạo đức của gia
đình như: đạo hiếu, đạo ông bà, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em. Trong
đó đạo hiếu được coi là nền tảng đạo đức của gia đình. Cùng với gia đạo, thì gia
phong và gia lễ cũng được coi trọng và quy định chặt chẽ đối với mọi thành viên
trong gia đình. Tuy nhiên, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đã từng khẳng
định: "Nho giáo chỉ là lớp phủ bên ngoài và nếu không đi sâu nghiên cứu các giá
trị văn hóa truyền thống thì khó mà giải thích được những đặc điểm cơ cấu nội
tại của gia đình người Việt" [51, tr.45]. Bởi lẽ, Nho giáo khi vào Việt Nam ít
nhiều đã mang dấu ấn của những phong tục tập quán lâu đời của người dân nơi
đây.
Thứ ba, ở Việt Nam, khái niệm gia đình truyền thống còn được hiểu là
kiểu gia đình phụ quyền, kiểu gia đình nói chung của nhân dân lao động trước

cách mạng, được hình thành và phát triển lâu dài trong quá trình lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Về mặt lịch sử, đây không phải là hình thức gia đình xuất hiện đầu tiên ở
19


Việt Nam, nhưng lại là hình thức gia đình tồn tại lâu nhất. Với đặc thù ra đời và
phát triển trong các cộng đồng làng xã, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các triết
lý của Nho giáo nên đặc điểm nổi bật của gia đình phụ quyền là sự bất bình đẳng
trong quan hệ giữa các thành viên, trong đó người đàn ông được coi là chủ gia
đình. Với sự tác động và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, xuất phát từ tư
tưởng: “trọng nam khinh nữ”, trong gia đình Việt Nam truyền thống vị trí của
người nam giới, con trai luôn được coi trọng và có tiếng nói quyết định; còn phụ
nữ, con gái phải tuân theo những quy chuẩn hà khắc CLtam tòng, tứ đức”.
Như vậy, gia đình Việt Nam truyền thống là một thể chế đã tồn tại qua
hàng nghìn năm, có nền tảng bền vững, được hình thành và phát triển qua quá
trình biến đổi lâu dài và sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử. Trong loại hình gia
đình này có chứa đựng cả những giá trị tích cực và giá trị tiêu cực; nhưng có thể
nói rằng, nó là cái nôi chứa đựng những giá trị văn hóa, tinh thần phong phú
mang đậm bản sắc dân tộc. Những giá trị ấy đã được bảo tồn, gìn giữ trong suốt
chiều dài lịch sử, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
1.2.2. Giá trị và giá trị truyền thống
1.2.2.1. Giá trị.
Theo từ điển Tiếng việt [27,114]
- Giá trị (toán học) - là đại lượng có thể thay đổi được trong toán học.
- Giá trị (nhân cách và văn hoá) - là những nguyên tắc, chuẩn mức, tiêu
chuẩn chỉ dẫn cho hành động của con người
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi nghiên cứu giá trị theo nghĩa giá trị
nhân cách, văn hóa
Chúng tôi quan niệm “ giá trị là những nguyên tắc chuẩn mực, tiêu chuẩn

chỉ dẫn cho hành động của con người”
Như vậy là, nói đến giá trị là nói đến đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật
này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện
một mục đích nào đấy. Đó là thái độ (hệ thống thái độ) của từng con người đối
với xung quanh, cũng tức là một phần cực kỳ quan trọng trong lối sống, cách
20


sống. Hệ thống thái độ con người, đó là nhân cách của con người, cá tính của nó.
Trong đó, có cả nhận thức, triết lý, tình cảm, tâm trạng, tâm thế và hành động.
Tất cả những gì con người đã sống, đang sống và sẽ sống, ta gọi là vốn trải
nghiệm. Theo lý thuyết hoạt động trong tâm lý học đời người là một dòng hoạt
động. Dưới góc độ của giá trị học, đời người là tổng các giá trị do người đó tạo
nên, tiếp thu, chấp nhận, lấy làm chuẩn mực bằng dòng hoạt động của bản thân.
Tổng các giá trị này là văn hoá của người đó. Trong đời sống hàng ngày con
người có các phán đoán về các giá trị: thái độ ủng hộ giá trị này, phản đối giá trị
kia,

đánh

giá

giá

trị

này

cao,


coi

giá

trị

kia

thấp....

Cùng với các giá trị cá thể (có chỗ gọi là giá trị nhân cách), có các giá trị của
cộng đồng mà ta gọi là các giá trị xã hội, ở đây trình bày khái niệm giá trị xã hội
tức là những yếu tố trong đời sống tinh thần được cả xã hội quan tâm, nói một
cách chính xác hơn, từ các giá trị này (cùng với các giá trị khác), tạo dựng xã
hội, như giá trị dân chủ, niềm tin xã hội của các cộng đồng từ các đơn vị cơ sở
đến cộng đồng tộc người. Cao hơn nữa, có thể đi đến đưa ra giả định về xu thế
của xã hội sẽ tiến tới, như xu thế chuyển từ truyền thống sang trào lưu hiện đại
hoá xã hội.
Như vậy, do mang những tính chất đặc trưng cho quan hệ chủ thể khách
thể của đời sống xã hội nên giá trị là người bạn đồng hành của đời sống con
người, kể cả con người sống ở những xã hội cổ xưa, thậm chí ở cả thời kỳ được
gọi là mông muội, dã man. Đ. Điđơrô, đại biểu nổi tiếng của phái Bách khoa
Pháp thế kỷ XVIII đã từng cho rằng, bản thân sự tồn tại của con người đã làm
xuất hiện sự tồn tại của các giá trị, và con người chính là giá trị cao nhất trong
những giá trị có thể có [dẫn theo 14]
Theo cách nhìn của các nhà văn hóa học thì khi nói tới văn hóa như là
những giá trị do con người tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và
chính bản thân mình. Theo quy luật của cái đẹp thì văn hóa lại nằm trong chiều
sâu tâm thức của người bản ngữ, định hướng cho sự lựa chọn khác nhau của
cộng đồng người thuộc các nền văn hóa khác nhau. Văn hóa như là sợi dây vô

hình ràng buộc con người vào nền văn hóa của anh ta như là một định mệnh
21


không thể thay đổi được. Theo tác giả Phạm Đức Dương, ông đã chia cấu trúc
văn hóa thành hai bậc: Cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu. Cấu trúc bề mặt
bao gồm tất cả các hệ thống ký hiệu văn hoá nằm trên biểu tầng (tức là biểu hiện
văn hóa) được thay đổi liên tục, ta gọi đó là những biến số, là những yếu tố động
của văn hóa. Cấu trúc chiều sâu là bộ phận chìm khó nhìn thấy nằm dưới cơ tầng
(tức là nằm trong tâm thức của con người), là yếu tố tĩnh của văn hóa, đó chính
là những hệ giá trị văn hóa [9, tr.83].
Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu như sau:
cấu trúc chiều sâu đóng vai trò định hướng và điều chỉnh những biến đổi trên bề
mặt. Do đó những biến đổi trên bề mặt dù thiên biến vạn hóa như thế nào chăng
nữa thì cũng không phải là sự biến đổi hỗn loạn mà có tổ chức, phải tuân theo
một trật tự nhất định vừa trực tiếp vừa gián tiếp. Các yếu tố trên bề mặt, trong
quá trình biến đổi, dần dần thẩm thấu và tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm
cho cấu trúc này cũng phải biến đổi theo dù rất chậm rãi. Do đó giá trị có tính
tương đối ổn định, tinh thần được giữ nhưng biểu hiện có sự thay đổi. Ví dụ như
cùng một giá trị “mẹ thương con”, xưa thì quan niệm “yêu cho roi cho vọt”,
ngày nay là bằng sự yêu thương…
Giá trị có tính giới hạn. Trong xã hội thống trị, giá trị tuân theo những quy
định của giai cấp thống trị. Ví dụ như trước đây trong xã hội quân chủ phong
kiến, Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Do vậy người
phụ nữ Việt Nam phải tuân theo những giá trị của Nho giáo mà cụ thể như giá
trị: phu xướng phụ tòng, nhưng giá trị đó đã được thay bằng giá trị mới - giá trị
công bằng cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội ngày nay.
Chúng ta cần phân biệt giá trị và chuẩn mực xã hội. Giá trị và chuẩn mực
xã hội không hoàn toàn đồng nhất, vì giá trị là những gì do con người sáng tạo
ra đều được đánh giá bằng thước đo của chuẩn mực theo bậc thang của chúng.

Giá trị mang tính khái quát là những đối tượng lợi ích của con người và định
hướng cho sự ứng xử cộng đồng hay cá nhân, là những biểu thị các quan hệ thực
tiễn của con người đối với các sự vật và các hiện tượng xung quanh [32, tr.91].
Còn chuẩn mực là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, đánh giá, để hướng
22


theo đó mà làm cho đúng và đồng thời là vật được chọn làm mẫu để đo lường
[21, tr.28]. Vì thế các chuẩn mực đánh giá đạo đức (sự ứng xử xã hội) có tính
phổ biến trong tất cả các thành viên trong xã hội, mang tính cộng đồng xã hội.
Các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ (sự sáng tạo nghệ thuật) ít nhiều mang tính cá
thể, phụ thuộc rất nhiều vào cá tính, sở thích, tính cách của người sáng tạo và cả
người hưởng thụ. Suy cho cùng thì các giá trị nghệ thuật đều là những sáng tạo
cá nhân, nhất là những cá nhân tài ba, do đó chúng không lặp lại, mọi sự lặp lại
trong nghệ thuật đều ảnh hưởng đến giá trị sáng tạo.
Thông thường các giá trị được đánh giá là hợp chuẩn hay lệch chuẩn: Hợp
chuẩn trong trường hợp các sản phẩm văn hóa hay ứng xử phù hợp với những
tiêu chuẩn của xã hội, của cộng đồng; Lệch chuẩn khi những hoạt động không
theo khuôn phép được định sẵn và có hai tình huống: vì chuẩn cũ đã quá lỗi thời
trở thành lực cản của sự cách tân, do đó người sáng tạo phải phá khung để phù
hợp với yêu cầu của cuộc sống đã thay đổi; hoặc là những hoạt động sai trái tiêu
cực vi phạm những quy ước xã hội.
Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân
tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc đó và được
truyền từ đời này sang đời khác. Truyền thống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử
cộng đồng, được gạn đục khơi trong để chỉ giữ lấy những gì là tinh hoa, là vốn
quý của dân tộc. Do đó, giá trị thực chất là phản ánh quan hệ cơ bản của con
người. Nó là kim chỉ nam hướng dẫn các thành viên trong cộng đồng phân biệt
đúng - sai, thiện - ác, đẹp - xấu để hành động nhằm đưa con người tới sự hoàn
thiện thẩm mỹ. Các hệ giá trị là nhãn quan giúp con người lựa chọn những gì

phù hợp với bản sắc văn hóa cộng đồng, tạo nên những tập quán, những thói
quen, những nếp sống đẹp gắn chặt cố kết cộng đồng.
1.2.2.2. Giá trị truyền thống
Giá trị truyền thống chính là sự tinh túy của một nền văn hóa, là bản
sắc văn hóa, là những hằng số văn hóa thường chỉ tồn tại trong một cấu trúc
văn hóa nhất định, một mô thức văn hóa nhất định.

23


×