Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Tác động của xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai tại các quốc gia đang phát triển ở châu á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

----------------

LÊ THỊ NHƯ PHƯỢNG

TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU THƯƠNG
MẠI DẦU THÔ LÊN CÁN CÂN TÀI KHOẢN
VÃNG LAI TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

---------------LÊ THỊ NHƯ PHƯỢNG

TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU THƯƠNG
MẠI DẦU THÔ LÊN CÁN CÂN TÀI KHOẢN
VÃNG LAI TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi với sự giúp đỡ của
Giảng viên hướng dẫn trên cơ sở tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước được liệt kê
đầy đủ trong luận văn. Các số liệu thống kê là trung thực được lấy từ các nguồn đáng tin
cậy, nội dung và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Tác giả

Lê Thị Như Phượng


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
TÓM TẮT ......................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU .....................................................................................2
1.1. Lý do nghiên cứu ..............................................................................................2
1.2. Vấn đề và phạm vi nghiên cứu ........................................................................3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................4
1.5. Nội dung nghiên cứu ........................................................................................4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ..........................5
2.1. Khung lý thuyết ................................................................................................5
2.1.1 Tài khoản vãng lai......................................................................................5
2.1.2 Các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai ............................6
2.1.3 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ ...........................................................8
2.1.4 Lý thuyết thâm hụt kép ...........................................................................11
2.1.5 Lý thuyết “nghịch lý của tiết kiệm” .......................................................14
2.2. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ...........................................................16
2.2.1.Mối tương quan giữa xuất nhập khẩu dầu thô đến tài khoản vãng lai
...............................................................................................................................16
2.2.2. Vai trò của giao dịch xuất nhập khẩu dầu ............................................19


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................27
3.1. Dữ liệu nghiên cứu..........................................................................................27
3.2. Mô hình thực nghiệm .....................................................................................28
3.3. Mô tả biến........................................................................................................30
3.4. Phương pháp ước lượng ................................................................................33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ..............................................................36
4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan .......................................................36
4.2. Kết quả nghiên cứu ........................................................................................40
4.2.1. Kết quả nghiên cứu chính .......................................................................40
4.2.2. Kiểm định tính vững của mô hình nghiên cứu......................................43
4.2.3. Kiểm định tính vững của mô hình nghiên cứu......................................43
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ...........................................................................................51
5.1. Kết quả nghiên cứu ........................................................................................51
5.2. Khuyến nghị ....................................................................................................51
5.3. Hạn chế và hướng phát triển đề tài ..............................................................52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................53
PHỤ LỤC .....................................................................................................................55



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết

Diễn giải

tắt

Tiếng việt

CA

Current Account

Cán cân vãng lai

FEM

Fixed effect model

Mô hình nhân tố cố định

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

GLS


Generalized Least Squares

GMM

Generalized method of moments

Phương pháp Moment tổng quát

NFA

Net Foreign Assets

Tài sản ròng nước ngoài

OLS

Ordinary least squares

REM

Random effect model

3SLS

3 – Stage Lest Squares

TOT

Terms of trade


Tỷ giá thương mại

VAR

Vector Autoregressive

Vector tự hồi quy

WB

World Bank

Ngân hàng thế giới

WDI

World Development Indicates

Chỉ tiêu phát triển thế giới

Phương pháp bình phương nhỏ
nhất tổng quát

Phương pháp bình phương nhỏ
nhất
Mô hình nhân tố ngẫu nhiên
Phương pháp bình phương nhỏ
nhất ba giai đoạn


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Bảng 2.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây ....................................................24
Bảng 3.1: Chi tiết các quốc gia ......................................................................................27
Bảng 4.1. Thống kê mô tả .............................................................................................36
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giai đoạn toàn mẫu .......................................................38
Bảng 4.3. Ma trận tương quan giai đoạn trước và sau khủng hoảng.............................39
Bảng 4.4. Kết quả ước lượng với xuất khẩu dầu thuần .................................................41
Bảng 4.5. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu ...........................................41
Bảng 4.6. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu theo giai đoạn trước và sau
khủng hoảng ..................................................................................................................43
Bảng 4.7. Kết quả ước lượng với xuất khẩu thuần theo toàn thời gian, giai đoạn trước và
sau khủng hoảng ............................................................................................................44
Bảng 4.8. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu theo toàn thời gian, giai đoạn
trước và sau khủng hoảng ..............................................................................................46
Bảng 4.9. Kết quả ước lượng với biến phụ thuộc là tỷ lệ tiết kiệm theo toàn thời gian, giai
đoạn trước và sau khủng hoảng .....................................................................................47
Bảng 4.10. Kết quả ước lượng với biến phụ thuộc là tỷ lệ tiết kiệm theo toàn thời gian,
giai đoạn trước và sau khủng hoảng ..............................................................................48


1
TÓM TẮT
Dầu thô là một loại nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia. Trong đó, việc khai thác và xuất nhập khẩu dầu thô ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cán cân tài khoản vãng lai. Do đó, luận văn này nghiên cứu tác động của xuất nhập khẩu
dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai tại 20 quốc gia đang phát triển ở châu Á, giai đoạn
năm 1990 – 2015, đồng thời xem xét sự khác biệt của mối quan hệ này giữa các nước
xuất khẩu và nhập khẩu dầu, trong đó nhấn mạnh sự khác biệt giữa Việt Nam với các

quốc gia đang phát triển trong khu vực. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng đo lường tính bền
vững của tác động từ xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai
giai đoạn trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Bằng cách sử dụng phương
pháp ước lượng OLS với các mô hình OLS gộp (pooled OLS), mô hình nhân tố cố định
(Fixed Effects Models, FEM) và mô hình nhân tố ngẫu nhiên (Random Effects models,
REM), cũng như các kiểm định Hausman (so sánh mô hình FEM và REM) và kiểm định
nhân tử Breusch – Pagan Lagrangian (so sánh mô hình REM và Pooled OLS), bài nghiên
cứu tìm thấy xuất nhập khẩu thương mại dầu thô có một tác động đáng kể lên cán cân tài
khoản vãng lai và tác động tích cực này chủ yếu là do nhân tố xuất khẩu dầu thô chứ
không phải nhân tố nhập khẩu dầu. Đặc biệt tác động này tại Việt Nam có xu hướng mạnh
hơn so với các quốc gia khác. Thêm vào đó, mối quan hệ giữa các biến đại diện cho xuất
nhập khẩu dầu và cán cân tài khoản vãng lai trong bài nghiên cứu này là bền vững trong
giai đoạn trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, điều này góp phần khẳng
định mối quan hệ giữa xuất nhập khẩu dầu thô và cán cân tài khoản vãng lai.
Từ khóa: Dầu thô, cán cân tài khoản vãng lai.


2
CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.

Lý do nghiên cứu
Một trong những nhiên liệu đầu vào quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của

một nền kinh tế hiện đại chính là Dầu thô (dầu mỏ), trong đó, 50% dầu mỏ dùng để sản
xuất năng lượng điện và là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông phục vụ vận
chuyển hàng hóa ra thị trường, 50% còn lại dùng cho hóa dầu để sản xuất các chất dẻo,
dung môi, phân bón, nhựa đường, thuốc trừ sâu và nhiều sản phẩm khác. Việc khai thác
và xuất khẩu dầu thô góp phần rất quan trọng cho sự ổn định và phát triển nền kinh tế
quốc dân thời gian qua. Do tầm quan trọng của dầu mà nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế

giới hàng năm tăng từ 1- 2%/năm song song với nhịp độ phát triển kinh tế kỹ thuật hiện
nay. Tuy nhiên, với nguồn cung đang dư thừa bởi sự bùng nổ của việc khai thác dầu thô
đá phiến bằng sự kiện các công ty năng lượng Mỹ sử dụng công nghệ khoan ngang và ép
thủy lực để thu nguồn dầu thô từ các tầng đá phiến đã làm cho giá dầu thô giảm mạnh
trong những năm gần đây, đặc biệt là giảm sâu tới mức 35 USD/thùng vào cuối năm
2015. Bên cạnh đó, nguồn cung dầu thô tăng và giá dầu giảm cũng làm giảm sự phụ thuộc
của các quốc gia vào việc nhập khẩu dầu thô, dẫn đến giảm thâm hụt cán cân tài khoản
vãng lai của quốc gia đó.
Trong nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến cán cân tài khoản vãng lai, đã có
không ít bài phân tích về mối quan hệ này. Morsé và các cộng sự (2012) đã kết luận rằng
ranh giới giữa nguồn cung của dầu đá phiến và khí ga tự nhiên, kết hợp với sự tiếp tục cải
tiến hiệu suất năng lượng có thể làm giảm tài khoản vãng lai của Mỹ đến 60% trong vòng
8 năm tới (trước năm 2020). Tương tự, Medlock và các cộng sự (2011) cũng đã có những
đánh giá khả quan trong hàm ý của việc cách mạng khí ga tự nhiên cho triển vọng thương
mại Mỹ.
Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của biến động xuất nhập
khẩu dầu thô với thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai trong bối cảnh kinh tế của các nước
đang phát triển ở Châu Á còn rất ít. Điều này một phần là do thiếu các dữ liệu đáng tin
cậy và một phần do sự ít phụ thuộc vào dầu mỏ trong lịch sử của các nước này. Một điều


3
đáng chú ý là Châu Á là thị trường tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới: 26 triệu thùng/ngày,
chiếm gần 30% thế giới và dự báo, nhu cầu tiêu thụ dầu thô tại Châu Á đến năm 2030 có
thể đạt tới 42,6 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 38% thế giới. Do đó, trên cơ sở phương
pháp tiếp cận và cách thức nghiên cứu của các bài nghiên cứu trước đây, đồng thời bổ
sung bài nghiên cứu theo phương pháp định lượng, góp phần đưa ra những tài liệu tham
khảo có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách tác giả đã thực hiện nghiên
cứu đề tài: “Tác động của xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản
vãng lai tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á”.

1.2.

Vấn đề và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu tác động của xuất nhập khẩu thương mại dầu

thô lên thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai của 20 quốc gia đang phát triển Châu Á trong
giai đoạn 1990 – 2015, đồng thời xem xét sự khác biệt của mối quan hệ này giữa các
nước xuất khẩu và nhập khẩu dầu, trong đó nhấn mạnh sự khác biệt giữa Việt Nam với
các quốc gia trong khu vực. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng đo lường tính bền vững tác
động của xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai giai đoạn
trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Từ đó tiến hành kiểm định mối quan hệ
trên nhằm rút ra kết luận và những vấn đề còn tồn tại trong nền kinh tế các nước đang
phát triển Châu Á.
1.3.

Mục tiêu nghiên cứu
Dựa vào những kết quả nghiên cứu trước đó, đặc biệt là nghiên cứu của Hillard G.

Huntington (2015), mục tiêu nghiên cứu trong bài này là:
Trong bối cảnh nền kinh tế 20 nước đang phát triển châu Á giai đoạn 1990 – 2015:
- Đo lường tác động của xuất nhập khẩu dầu thô lên thâm hụt tài khoản vãng lai
- Xem xét sự khác biệt về tác động của xuất nhập khẩu dầu thô lên thâm hụt tài
khoản vãng lai tại các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu dầu. Trong đó nhấn mạnh đến sự
khác biệt giữa Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực.


4
- Xem xét sự khác biệt về tác động của xuất nhập khẩu dầu thô lên thâm hụt tài
khoản vãng lai tại các nước đang phát triển châu Á trong giai đoạn trước và sau cuộc
khủng hoảng năm 2008.

1.4.

Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả sẽ thu thập dữ liệu từ 20 quốc gia

đang phát triển Châu Á theo dữ liệu năm trong giai đoạn 1990 – 2015. Phương pháp
nghiên cứu được sử dụng là kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng sử dụng các phương pháp ước
lượng bao gồm: Pooled OLS (Pooled Ordinary least squares), FEM (Fixed effect model),
REM (Random effect model) và GMM (Generalized method of moments) hệ thống cũng
như các kiểm định Hausman (so sánh mô hình FEM và REM) và kiểm định nhân tử
Breusch – Pagan Lagrangian (so sánh mô hình REM và Pooled OLS).
1.5.

Nội dung nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm những phần quan trọng sau:
Chương 1: Tác giả đề cập lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, mục

tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước đây. Phần này
trình bày sơ lược những nghiên cứu trước đây về vai trò của giao dịch dầu thô và cú sốc
dầu tác động đến nền kinh tế và tác động của các giao dịch thương mại dầu thô lên thâm
hụt tài khoản vãng lai.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, mô
hình và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này trình bày kết quả hồi quy đạt
được, kiểm định kết quả, phân tích kết quả và giải thích ý nghĩa.
Chương 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những
khuyến nghị, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới.



5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1.

Khung lý thuyết
Trong phần này, tác giả sẽ trình bày lý thuyết về cán cân tài khoản vãng lai, các

nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia nói chung, trong đó
nhấn mạnh đến nhân tố xuất nhập khẩu dầu thô. Tiếp theo trình bày phần lý thuyết “thâm
hụt kép” liên quan đến việc sử dụng các biến trong mô hình và giải thích kết quả bài
nghiên cứu và cuối cùng trình bày lý thuyết “Nghịch lý của tiết kiệm” được tác giả vận
dụng trong bài nghiên cứu này.
2.1.1 Tài khoản vãng lai
Theo giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp
(2012), tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch
vụ của một quốc gia. Tài khoản vãng lai gồm các thành phần:
- Cán cân mậu dịch (Trade balance): giao dịch hàng hóa giữa các quốc gia là hoạt
động mậu dịch lâu đời và tiêu biểu nhất cho các giao dịch kinh tế quốc tế. Vì vậy, mà
thành phần chủ yếu của tài khoản vãng lai được đặt một tên gọi riêng là cán cân mậu dịch
dùng để đo lường giá trị giao dịch của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
- Cán cân dịch vụ: đo lường giá trị xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ giữa các nước.
Các giao dịch về dịch vụ quốc tế phổ biến nhất thường là dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du
lịch, hàng không và dịch vụ xây dựng của các công ty nội địa thực hiện ở nước ngoài. Ở
các quốc gia phát triển thì khoản mục này đã phát triển rất nhanh chóng trong suốt những
thập niên vừa qua.
- Thu nhập vãng lai chủ yếu thường đi kèm với những khoản đầu tư đã được thực
hiện trong những thời kỳ trước đó
- Chuyển giao vãng lai (tổng các khoản cho, biếu tặng, viện trợ từ người di cư ra
nước ngoài): khi nhận các khoản thanh toán phát sinh liên quan đến việc thay đổi quyền
sở hữu của một loại tài sản nào đó. Tài sản thực hoặc tài sản tài chính. Bất kỳ các giao



6
dịch nào có tính một chiều từ một quốc gia này với một quốc gia khác đều được phản ánh
lên cán cân chuyển giao vãng lai.
- Thông thường hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán
cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã mô tả ở trên cho nên cán cân mậu dịch
đóng một vai trò quan trọng trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, ở các quốc gia công
nghiệp phát triển thì cán cân mậu dịch không quan trọng bằng cán cân dịch vụ.
2.1.2 Các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch
vụ của một quốc gia. Theo giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các
đồng nghiệp (2012) và bài nghiên cứu của Mann (2002) thì tài khoản vãng lai là sự tương
tác cân bằng tổng thể giữa nhiều yếu tố, trong đó những nhân tố được tác giả chọn để đưa
vào bài nghiên cứu này như: thu nhập quốc dân, tiết kiệm (tỷ lệ dân số phụ thuộc), ngân
sách chính phủ, độ mở cửa thương mại:
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân theo lý thuyết giáo trình Tài chính quốc tế của
GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp (2012):
Nếu mức thu nhập của một quốc gia (thu nhập quốc dân) tăng theo một tỷ lệ cao
hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các
yếu tố khác bằng nhau. Do mức thu nhập thực tế (đã điều chỉnh do lạm phát) tăng, mức
tiêu thụ của hàng hóa cũng tăng. Một tỷ lệ tăng trong tiêu thụ hầu như sẽ phản ánh một
mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài.
- Ảnh hưởng của các nhân tố theo quan điểm Mann (2002):
+ Quan điểm trong nước dựa trên thu nhập quốc dân và sản lượng:
Cũng theo Mann (2002), các quan điểm đầu tiên về thâm hụt tài khoản vãng lai
được dựa trên các tài khoản thu nhập quốc dân và sản lượng nội địa và cho thấy mô hình
tiết kiệm và đầu tư nội địa được phản ánh trong cán cân thương mại và cán cân tài khoản
vãng lai như thế nào. Trong khuôn khổ tài khoản quốc gia, sản xuất nội địa trong một nền



7
kinh tế phải bằng chi tiêu cộng với cán cân thương mại. Trong trường hợp thâm hụt
thương mại, chi tiêu của một quốc gia sẽ vượt sản xuất trong nước.
Tiết kiệm khu
vực tư nhân
trong nước

Thâm
=
hụt
+

thương mại

=

=
Đầu tư tư nhân

+
Thâm hụt ngân
+

sách chính phủ

Các tài khoản thu nhập quốc dân và tài khoản sản lượng có những điểm tương
đồng, khi sản xuất bằng chi tiêu cũng ngụ ý rằng tiền tiết kiệm bằng đầu tư (S = I). Tiết
kiệm có ba thành phần: tiết kiệm tư nhân (Sp) bao gồm tiết kiệm hộ gia đình và lợi nhuận
doanh nghiệp; tiết kiệm khu vực công (T - G), và tiết kiệm nước ngoài, hay nghịch đảo

của thâm hụt thương mại (M - X). Thay thế và kết hợp các thành phần theo nguồn và sử
dụng các quỹ: Sp+ (M - X) = I + (G - T).
+ Quan điểm dựa trên thương mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ:
Quan điểm thứ hai trên tài khoản vãng lai là một quan điểm quốc tế dựa vào các
yếu tố làm cơ sở cho các dòng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Các quan
điểm trước đó cho rằng người nước ngoài phản ứng lại một cách thụ động với những nhu
cầu được phản ánh trong các tài khoản quốc gia. Ví dụ, nếu một khoảng cách giữa tiết
kiệm tư nhân thấp và đầu tư tư nhân cao trong nền kinh tế của Mỹ, các quan điểm đầu tiên
dường như ngụ ý rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ đơn giản là tiêu dùng ít hơn đồng
thời tiết kiệm tăng và đầu tư tài chính vào nền kinh tế Mỹ. Các quan điểm thứ hai, tập
trung vào các lực lượng thúc đẩy dòng xuất khẩu và nhập khẩu, cung cấp một vai trò rõ
ràng về nhu cầu nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ. Phương pháp thay thế này cho
phép chúng ta kiểm tra tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới và nội địa và tỷ giá hối đoái
có thể ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai như thế nào. Nó cũng cho phép chúng ta xem xét
tác động về tài khoản thương mại và tài khoản vãng lai của các yếu tố cấu trúc như so
sánh lợi thế và toàn cầu hóa (Mann, 2002).
Mỗi quan điểm là một góc nhìn riêng để thông qua đó phân tích cân bằng tổng thể.
Mỗi quan điểm liên quan đến một quyết định tập trung vào các biến hoặc các mối quan hệ


8
kinh tế nhất định và giảm dần hoặc thậm chí bỏ qua các biến và các mối quan hệ khác.
Mỗi quan điểm có thể hữu ích trong các tình huống hoặc khung thời gian nhất định. Tóm
lại, ba quan điểm đưa ra nhận định phù hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
- Mối quan hệ giữa giao dịch dầu thô và Thâm hụt tài khoản vãng lai:
Thông thường, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán
cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã trình bày ở trên và dầu thô là một trong
những hàng hóa cơ bản của rỗ hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo thống kê sơ bộ của Tổng
cục Hải Quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong quý I/2016 đạt
29,61 tỷ USD, trong đó, tổng trị giá xuất khẩu là 15,12 tỷ USD, tăng 49,7% và tổng trị giá

nhập khẩu là 14,49 tỷ USD. Dầu thô là 1 trong số 12 hàng hóa xuất khẩu chính và tính
đến hết tháng 3/2016 lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 1,82 triệu tấn (#498 triệu
USD), chiếm 3,23% tổng giá trị xuất khẩu. Do đó, giao dịch xuất nhập khẩu dầu thô của
một quốc gia sẽ tác động đến cán cân thương mại và góp phần gây ra thâm hụt hoặc thặng
dư cán cân tài khoản vãng lai của quốc gia đó.
2.1.3 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ đi sâu hơn vào việc phân tích tác động của nhiều
biến số tới thâm hụt tài khoản vãng lai. Ưu điểm của phương pháp này là cho thấy những
thay đổi của cán cân thương mại có thể phản ánh những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình
tiết kiệm và đầu tư quốc gia. Điều này cho phép mô hình có thể mở rộng ra rất nhiều biến
số có thể tác động tiềm ẩn lên tài khoản vãng lai.
Có rất nhiều bài nghiên cứu đề xuất phương pháp cận này và đã được tác giả thực
hiện công trình nghiên cứu khoa học “Nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai
Việt Nam – Góc nhìn từ cách tiếp cận liên thời kỳ và hàm ý chính sách” năm 2013, tổng
hợp như:
Phương pháp tiếp cận này được phát triển bởi Obstfeld và Rogoff (1994). Thực
nghiệm các ứng dụng của mô hình liên thời kỳ đi theo hai hướng chính. Một mặt, nhiều
nghiên cứu cố gắng thiết lập bằng chứng ủng hộ mô hình cơ bản sử dụng các “chiến lược


9
kiểm định” khác nhau (different testing strategies) (Bergin & Sheffrin, 2000; Nason &
Rogers, 2006). Mặt khác, một số bài viết đã xem xét các mối quan hệ dài hạn giữa cán
cân vãng lai và các nhân tố vĩ mô cơ bản quyết định nó bằng cách áp dụng các kỹ thuật
kinh tế lượng chuẩn (Debelle & Faruquee, 1996; Chinn & Prasad, 2003; Gruber &
Kamin, 2005; Lucun Yang, 2011). Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đi theo hướng thứ hai
tương tự như những nghiên cứu này.
Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ xem xét tài khoản vãng lai như là sự khác biệt
giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước:
CA= S - I

và tập trung vào các yếu tố vĩ mô mà quyết định tới hai biến này. Phương pháp tiếp
cận liên thời kỳ cho rằng hệ quả quyết định tiết kiệm và đầu tư dài hạn được tính toán dựa
trên giá trị kỳ vọng của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau. Phương pháp này cố gắng giải
thích sự phát triển của tài khoản vãng lai thông qua việc xem xét kỹ hơn các quyết định
tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư theo thời kỳ. Cách tiếp cận này đã tổng hợp quan điểm
thương mại và dòng chảy tài chính bằng cách xem xét các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng như
thế nào tới giá tương đối trong tương lai và giá tương đối này lại ảnh hưởng như thế nào
tới quyết định tiết kiệm và đầu tư (Obstfeld & Rogoff, 1994).
Cách tiếp cận liên thời kỳ chỉ ra rằng, đối với nền kinh tế đang phát triển, tăng
trưởng dài hạn có thể làm phức tạp thêm các phân tích bởi việc cho phép cán cân tài
khoản vãng lai khác không tại trạng thái ổn định. Điều này đồng nhất với tỷ lệ NFA/GDP
là ổn định, ngụ ý rằng tại trạng thái ổn định ta có:
CA/Y = g*NFA/Y
với g là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (g=ΔY/Y). Trong quá trình chuyển
sang trạng thái ổn định dài hạn, có thể có nhiều yếu tố tác động ảnh hướng tới mối quan
hệ trên (Calderon et al., 2000). Cụ thể, xu hướng trong tỷ giá hối đoái thực tế có thể làm
phức tạp thêm mối quan hệ này nếu nó có ảnh hưởng khác nhau tới NFA và GDP
(Debelle & Faruqee, 1996).


10
Cũng có sự khác nhau giữa nước đi vay và nước cho vay trong mối quan hệ giữa
NFA và CA. Kraay & Ventura (2003) lập luận rằng những dấu hiệu của tài khoản vãng lai
với những cú sốc tạm thời phụ thuộc vào phần tài sản nước ngoài (đi vay hoặc cho vay)
trên tổng tài sản trong nước của một quốc gia. Theo một số giả định, họ cho rằng phản
ứng của tài khoản vãng lai trước những cú sốc tạm thời bằng sự gia tăng tiết kiệm được
tạo ra trong thời gian xảy ra cú sốc. Quy tắc này ngụ ý rằng với một cú sốc có lợi sẽ tạo ra
thâm hụt cán cân vãng lai đối với nước đi vay và thặng dư ở nước cho vay.
Cách tiếp cận liên thời kỳ cũng cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế đóng một vai trò
quan trọng trong giải thích sự phát triển dài hạn sự phát triển tài khoản vãng lai thông qua

mức độ của xu hướng tiết kiệm. Đặc biệt, sự đánh giá cao của tỷ giá hối đoái thực làm
tăng sức mua hàng hoá nhập khẩu bằng cả thu nhập hiện tại và tương lai. Hiệu ứng này
gây ra xu hướng tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm, do vậy làm giảm số dư tài khoản vãng
lai.
Ngoài ra cách tiếp cận này chỉ ra rằng có thể xác định tài khoản vãng lai thông qua
tập trung rõ hơn vào phần còn lại trong cán cân thanh toán đó là tài khoản vốn. Trong một
nền kinh tế mở, tài khoản vốn có thể bị ảnh hưởng bởi đặc điểm các quốc gia và sự phản
ứng lại đối với các chính sách kinh tế vĩ mô. Ví dụ, mức độ mở thương mại quốc tế có thể
phản ánh các lựa chọn chính sách, bao gồm cả các chế độ thuế quan, hạn ngạch. Theo các
nghiên cứu chỉ ra, các quốc gia cởi mở hơn trong thương mại quốc tế có xu hướng thu hút
vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu liên quan tới thu nhập, góp phần tạo ra thâm hụt tài
khoản vãng lai. Do đó, các quốc gia mà duy trì tài khoản vốn tương đối mở sẽ có khả
năng có sự mất cân bằng lớn trong cán cân vãng lai hơn là không duy trì. Vì vậy độ mở
thương mại có thể có tác động quan trọng trong dài hạn đối với tài khoản vãng lai.
Một nhân tố khác quyết định tới tiết kiệm mà theo Edwards (1995) là độ sâu tài
chính, thường được đại diện bởi tỷ lệ cung tiền M2/GDP. Có thể giải thích rằng biến này
như là một thước đo cho sự phát triển của hệ thống tài chính, hệ thống tài chính càng phát
triển có thể gây ra tiết kiệm nhiều hơn. Nhưng biến này cũng có thể xem như là đại diện
cho các hạn chế cho vay đối với các cá nhân, do đó, thực sự có liên quan với mức độ thấp


11
hơn trong tiết kiệm tư nhân. Tuy nhiên, Chinn & Prasad (2003) cho rằng những ảnh
hưởng của độ sâu tài chính thường ít rõ ràng hơn từ góc độ lý thuyết.
2.1.4 Lý thuyết thâm hụt kép
Lý thuyết giải thích cho giả thuyết thâm hụt kép được dựa trên mô hình nổi tiếng
Mundell-Fleming. Theo mô hình này, sự gia tăng thâm hụt ngân sách gây áp lực lên lãi
suất mà lần lượt các dòng vốn di chuyển và đánh giá cao của tỷ giá hối đoái. Cuối cùng,
sự tăng giá đồng nội tệ sẽ dẫn đến sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Tiết kiệm tư
nhân vẫn được duy trì vì công chúng nhận thức phát hành trái phiếu chính phủ để tài trợ

cho thâm hụt như gia tăng sự giàu có của họ. Phản ứng của đầu tư trong nước và thâm hụt
tài khoản vãng lai phụ thuộc vào sự huy động vốn. Do đó, dòng vốn nước ngoài sẽ nhanh
chóng bù đắp sự sụt giảm đầu tư trong nước. Dòng vốn lần lượt đặt áp lực lên tỷ giá hoặc
thông qua một tỷ lệ tăng lên trong tỷ giá danh nghĩa trong trường hợp của một chế độ tỷ
giá cố định hay giá cả tăng cao trong một hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt. Vì vậy mô
hình Mundell – Fleming dự đoán một mối quan hệ tích cực giữa hai thâm hụt (Nguyễn
Thị Lan Hương, 2015).
Bên cạnh mô hình lý thuyết Mundell – Fleming, lý thuyết Keynes cũng cho thấy
mối quan hệ giữa hai thâm hụt. Theo lý thuyết Keynes, sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ
dẫn đến lãi suất cao, tiết kiệm thấp và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng nhập khẩu và
việc mở rộng nhập khẩu sẽ dẫn đến gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Do đó giống như
các mô hình Mundell – Fleming, các trường phái Keynes cho thấy rằng mối quan hệ nhân
quả giữa hai biến từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai và không tồn tại
mối quan hệ ngược lại.
Theo lý thuyết thâm hụt kép, sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách dẫn đến sự thay
đổi trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại. Để làm rõ mối quan hệ giữa hai biến
này, chúng ta bắt đầu với định nghĩa thu nhập quốc gia cho một nền kinh tế mở:
𝑌 = 𝐶 + 𝐼 + 𝐺 + 𝑋 − 𝑀 (1)
Trong đó:


12
Y: Tổng cầu (tổng thu nhập)
C: Tiêu dùng khu vực tư nhân
I: Đầu tư
G: Chi tiêu chính phủ (hàng hóa và dịch vụ)
X: Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
M: Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Từ phương trình (1), tài khoản vãng lai (CA) được viết lại như sau:
𝐶𝐴 = 𝑌 − (𝐶 + 𝐼 + 𝐺 ) (2)

Trong một nền kinh tế đóng không có thương mại quốc tế, tiết kiệm (S) bằng đầu
tư (I): (S=I). Tuy nhiên trong một nền kinh tế mở:
𝑆 = 𝐼 + 𝐶𝐴 (3)
Từ phương trình (3) cho thấy trong nền kinh tế mở, một quốc gia có thể tìm kiếm
nguồn đầu tư cả trong nước lẫn ngoài nước để gia tăng thu nhập trong tương lai. Tiết kiệm
quốc gia có thể chia làm hai phần: tiết kiệm tư nhân (SP) và tiết kiệm chính phủ (Sg). Ta
có:
𝑆𝑝 = Y − T − C (4)
Và,
𝑆𝑔 = 𝑇 − 𝐺 (5)
Trong đó, T là tổng thuế của chính phủ.
Sử dụng phương trình (4) và (5) thay thế vào phương trình (3) ta có được kết quả
như sau:
𝑆𝑝 = 𝐼 + 𝐶𝐴 − 𝑆𝑔 (6)
Hay:
𝑆𝑝 = 𝐼 + 𝐶𝐴 − (𝐺 − 𝑇)(7)


13
Hay:
𝐶𝐴 = 𝑆𝑃 − 𝐼 − (𝐵𝐷 ) (8)
Với BD = G – T: Ngân sách Nhà nước.
Từ phương trình (8), dấu của (BD) là dấu âm. Điều này cho thấy: sự gia tăng trong
thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng tương tự trong thâm hụt tài khoản vãng lai
nếu đầu tư và tiết kiệm tư nhân ít thay đổi. Điều này ủng hộ quan điểm của Keynes.
Theo bài nghiên cứu của Bernheim (1988) cũng lập luận rằng nếu thị trường vốn
thế giới được hợp nhất và cân bằng Ricardo không giữ vững thì sự gia tăng thâm hụt ngân
sách gần như chắc chắn sẽ đóng góp vào sự thâm hụt tài khoản vãng lai
Ngược lại, bài nghiên cứu của Summers (1988) lập luận rằng một quan hệ nhân
quả đảo ngược có thể chạy từ tài khoản vãng lai đến biến ngân sách Chính phủ khi suy

giảm trong thâm hụt tài khoản vãng lai dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn và
sau đó làm tăng thâm hụt ngân sách.
Theo giả thuyết cân bằng Recardo – Ricardian Equivalence Hypothesis (REH), khi
Chính phủ cắt giảm thuế và tăng thâm hụt ngân sách, người dân dự đoán rằng họ sẽ phải
đối mặt với các mức thuế cao hơn trong tương lai và sau đó họ phải trả lại các khoản nợ
của Chính phủ. Vì vậy, sẽ giảm chi tiêu của họ và tăng tiết kiệm tư nhân để bù đắp cho sự
sụt giảm trong tiết kiệm của chính phủ. Như vậy, thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng
đến thâm hụt tài khoản vãng lai.
Bài nghiên cứu của Baxter (1995) xem xét sự gia tăng chi tiêu chính phủ và thấy
rằng nó làm giảm tỷ số tài khoản vãng lai trên GDP. Điều này đúng cho cả những cú sốc
chi tiêu tạm thời và vĩnh viễn, do nguồn cung lao động nội sinh. Tác giả tiếp tục giả định
rằng chi tiêu chính phủ được tài trợ thông qua nợ. Giả định này gây ra một mối tương
quan dương giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai mặc dù cân bằng
Ricardo tồn tại. Việc giảm thuế bóp méo được coi là tốt: Baxter thấy rằng nó làm giảm tài
khoản vãng lai nếu nó bền vững vì trong trường hợp này các kích thích đầu tư chi phối sự
gia tăng cung ứng lao động. Gần đây hơn, trong bài nghiên cứu của Erceg, Guerrieri và


14
Gust (2005) phân tích chính sách tài khóa trong một mô hình trong đó 50% là các hộ gia
đình tiêu dùng thu nhập khả dụng của mình trong từng thời kỳ. Các tác giả thấy rằng một
món nợ tăng chi tiêu chính phủ làm giảm cán cân thương mại sau 2-3 năm.
Tóm lại, trong khi có một số bằng chứng ủng hộ cho một mối quan hệ thâm hụt kép thì
cũng cần lưu ý rằng kết quả mâu thuẫn đã được nêu ra. Sự phân tán tương đối cao của các
kết quả bản thân nó không gây ngạc nhiên vì những nghiên cứu này sử dụng thời kỳ mẫu
khác nhau, sử dụng kỹ thuật khác nhau và tập trung vào các quốc gia khác nhau. Tuy
nhiên, trong mọi trường hợp, các tác giả cho rằng mối quan hệ thâm hụt kép hoặc là
không mạnh mẽ hoặc không ổn định qua thời gian (Mann, 2002).
2.1.5 Lý thuyết “nghịch lý của tiết kiệm”
Môt trong những phương pháp để tác giả kiểm định tính bên vững của mô hình

nghiên cứu trong bài nghiên cứu này là tác giả thay biến phụ thuộc bằng biến tỷ lệ tiết
kiệm quốc gia để đánh giá một cách trung gian ảnh hưởng của xuất khẩu dầu thô ròng lên
tài khoản vãng lai. Khi đó, mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và tiết kiệm
quốc gia theo lý thuyết “nghịch lý của tiết kiệm” (the paradox of thrift) do Keynes khởi
xướng.
Trong những năm qua, khi tình hình kinh tế trở nên khó khăn thì người dân sẽ bắt
đầu thắt chặt chi tiêu và tăng tiết kiệm. Tăng tiết kiệm trong điều kiện kinh tế khó khăn thì
tốt cho mỗi cá nhân nhưng không nhất thiết cũng tốt cho cả nền kinh tế. Khi mỗi người
dân cố gắng gia tăng tiết kiệm thì chưa hẳn tổng tiết kiệm của nền kinh tế cũng gia tăng.
Keynes cho rằng, chi tiêu của người tiêu dùng đóng góp vào lợi ích của tập thể, tức làm
tăng thu nhập của người khác. Chính vì vậy khi người ta tiết kiệm nhiều hơn thay vì chi
tiêu sẽ làm giảm doanh thu buộc doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, giảm lương và sa
thải lao động. Người ta gọi đây là nghịch lý của tiết kiệm.
Giả sử nhiều người quyết định tiết kiệm nhiều hơn. Điều này dễ làm nhiều người
lầm tưởng rằng tổng tiết kiệm quốc dân cũng sẽ tăng lên. Cái được gọi là ảo tưởng về sự
tổng gộp (fallacy of composition) ở đây chính là các quyết định hợp lý của mỗi người lại


15
được khái quát hóa thành một nền kinh tế toàn dụng. Khi tiết kiệm tăng thì có nghĩa là chi
tiêu sẽ giảm đi mà điều này sẽ làm sụt giảm tổng cầu và từ đó lại kéo nền kinh tế đi
xuống. Khi nền kinh tế đi xuống thì thu nhập lại càng giảm và từ đó lại ảnh hưởng lên
mức tiết kiệm. Sự sụt giảm tiết kiệm lúc này thậm chí còn lớn hơn mức tiết kiệm gia tăng
thêm ban đầu (Krugman 2009).
Thông thường là nếu ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất sẽ làm cho cầu đầu tư
tăng lên. Tuy nhiên, điều không may là việc cắt giảm lãi suất chưa hẳn đã làm tăng cầu
đầu tư. Tình huống phổ biến là khi lãi suất danh nghĩa đã bắt đầu tiệm cận giới hạn 0
(zero-bound) và nền kinh tế rơi vào bẫy thanh khoản (liquidity trap) thì việc tiếp tục giảm
lãi suất là điều không thể. Nhưng cũng cần phải biết rằng bẫy thanh khoản cũng có thể
xuất hiện trong một số trường hợp ngay cả khi lãi suất danh nghĩa còn ở mức dương, khi

đó việc tiếp tục hạ thêm lãi suất một vài điểm phần trăm vẫn không chắc sẽ giúp tăng cầu
đầu tư bởi nhà đầu tư vẫn đang cố gắng giải nợ (deleveraging).
Điều này một phần có thể là do đầu tư đã tăng quá mức trong những giai đoạn tăng
trưởng nóng trước đây dẫn đến tồn kho tăng cao nên cần phải có thời gian để nền kinh tế
hấp thụ. Một phần lý do nữa, có thể đã đi cùng với giai đoạn tăng đầu tư quá mức trên
đây, là do gánh nặng nợ vay quá lớn đi kèm với những rủi ro vỡ nợ mà các doanh nghiệp
phải đặt mục tiêu trước mắt là thu hẹp bảng cân đối tài sản bằng cách giải nợ. Chính xu
hướng giảm nợ phổ biến này mới là động lực làm giảm lãi suất. Nhưng vẫn còn yếu tố
quan trọng khác đó chính là sự kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế. Khi
sự bi quan vẫn là yếu tố chủ đạo thì việc hạ lãi suất không phải là một biện pháp hữu hiệu
để kích thích đầu tư. Người dân giữ tiền, trả bớt nợ và không muốn chi tiêu vì họ lo ngại
thu nhập của mình sẽ giảm trong tương lai. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng giữ tiền
và không muốn gia tăng đầu tư bởi vì không đủ cầu trong nền kinh tế. Như vậy, hai trong
ba thành phần của tổng cầu nội địa đều suy giảm, ở đó các doanh nghiệp trì hoãn đầu tư
trong khi đó người dân thì trì hoãn tiêu dùng.


16
Tuy nhiên, đối với một nền kinh tế mở thì vấn đề có đôi chút khác biệt. Trong một
nền kinh tế mở, việc gia tăng tỉ lệ tiết kiểm và giảm tiêu dùng có thể tác động lên phía cầu
nhập khẩu của nền kinh tế chứ không chỉ là tổng cầu nội địa. Đối với đa phần các nước
đang phát triển, tình trạng suy giảm kinh tế thường đi kèm với sự cải thiện của cán cân
thương mại. Việc người dân gia tăng tiết kiệm trong thời kỳ khó khăn này cũng tác động
làm giảm cầu hơn nữa đối với hàng nhập khẩu và từ đó càng giúp cải thiện tình trạng mất
cân bằng cán cân thương mại. Ngoài ra, đối với một số quốc gia, xuất khẩu là lối thoát
cho sự dư thừa năng lực sản xuất của nền kinh tế được tích lũy những năm bùng nổ trước
đó. Tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào năng lực tham gia ngoại thương của các sản
phẩm có thể ngoại thương (tradable goods). Tuy nhiên, đây không hẳn là một tín hiệu tốt
mà ngược lại nó cho thấy sự phụ thuộc của các nước này vào thương mại quốc tế và
nguồn tài trợ hay giải pháp thường đến từ bên ngoài.

Tóm lại, Nghịch lý trên được diễn giải là: "Trong một nền kinh tế không có đủ việc
làm, các hộ gia đình càng tiết kiệm thì sản lượng và việc làm càng thấp" hoặc theo cách
thứ hai là “Khi mọi người muốn gia tăng tiết kiệm ở mọi mức thu nhập so với trước, thì
cuối cùng tiết kiệm của nền kinh tế sẽ giảm xuống”. Với giả định Yd không đổi, cơ chế
lan truyền như sau:
S↑→ C↓→ AD↓→ Y↓→ Yd↓→ S↓
2.2.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Trong phần này, tác giả trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về mối tương quan

của xuất nhập khẩu dầu thô và thâm hụt tài khoản vãng lai ở nhiều quốc gia thảo luận và
vai trò của dầu thô như một biến giải thích cho cán cân tài khoản vãng lai.
2.2.1. Mối tương quan giữa xuất nhập khẩu dầu thô đến tài khoản vãng lai
Theo phân tích của Huntington (2015), có rất nhiều chỉ số giá đo lường chi phí dầu
thô ở các khu vực khác nhau trên thị trường dầu mỏ thế giới. Ở hầu hết các khu vực, các
chỉ số giá dầu thô có mối tương quan mạnh mẽ với nhau vì dầu thô là sản phẩm rất dễ


17
thay thế mặc dù giữa chúng có sự khác biệt trong các thuộc tính quan trọng như trọng lực
và khối lượng riêng. Hiện nay, giá dầu Brent đã trở thành chuẩn mực giá dẫn đầu toàn cầu
cho dầu thô lưu vực Đại Tây Dương, đây là khu vực chiếm hai phần ba (2/3) cung dầu thô
được giao dịch trên toàn thế giới. Không giống như giá dầu thô WTI (Western Texas
Intermediate) được sử dụng rộng rãi cho khu vực nước Mỹ trong những năm gần đây, giá
dầu Brent không bị bóp méo bởi tính mất cân đối (như tình trạng thiếu hụt nguồn cung
dầu) ở khu vực. Để phản ánh vấn đề này, cơ quan quản ký thông tin năng lượng của Mỹ
(EIA) đã chuyển từ giá dầu WTI và chi phí mua lại nhà máy lọc dầu ở Mỹ sang giá Brent
khi thảo luận về xu hướng giá dầu toàn cầu.
Xu hướng biến động hàng năm của giá dầu thô Brent được Jones (1990) quan sát

từ giai đoạn sau năm 1984. Khi đó, giá dầu giảm mạnh vào năm 1985 ngay sau khi Ả Rập
Xê – Út quyết định mở rộng sản xuất của mình để lấy lại một số các thị phần mà nó đã
mất trong thời gian năm năm trước.
Trong giai đoạn sau năm 2004, khi tăng trưởng kinh tế châu Á bùng nổ nhanh hơn
nhiều so với dự kiến và nguồn cung dầu mỏ có sẵn vẫn tương đối ổn định, bài nghiên cứu
của Hamilton (2009) tìm thấy giá dầu bắt đầu tăng mạnh trong giai đoạn này. Tác giả tìm
hiểu sự giống và khác nhau giữa sự tăng lên của giá dầu trong những năm 2007 - 2008 và
các cú sốc giá dầu trước đó bằng cách nhìn vào những gì gây ra sự tăng giá này và những
tác động trong nền kinh tế. Trong đó, những cú sốc giá dầu giai đoạn trước đã được gây ra
chủ yếu là do sự gián đoạn vật lý của nguồn cung, tuy nhiên giá tăng lên trong giai đoạn
2007- 2008 là do đối mặt với tình trạng trì trệ sản xuất trên thế giới. Mặc dù nguyên nhân
là khác nhau nhưng hậu quả cho nền kinh tế dường như là tương tự như quan sát thấy
trong các thời kỳ trước đó, với những tác động đáng kể đến chi tiêu tiêu dùng và việc mua
xe ô tô nội địa nói riêng. Giai đoạn quý IV năm 2007 – quý III năm 2008 nên được thêm
vào danh sách các cuộc suy thoái ở Mỹ mà giá dầu dường như đã làm một góp phần quan
trọng.
Mối quan hệ giữa giao dịch dầu thô và sự thâm hụt tài khoản vãng lai của các nước
xuất và nhập khẩu dầu trên thế giới cũng được Hungtington (2015) nghiên cứu. Bài


18
nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng lấy từ 91 quốc gia trong giai đoạn 1984 – 2009 để giải
thích cán cân tài khoản vãng lai hàng năm. Các biến độc lập được chọn tương tự như
được dùng trong các nghiên cứu dữ liệu bảng trước đó của Chinn và Prasad (2003), Chinn
và Ito (2007) và Gruber và Kamin (2007, 2009). Các tác giả tập trung vào khoản thời gian
trung hạn hơn là ngắn hạn nên ưu tiên cho dữ liệu năm hơn là quý. Tương tự, các tác giả
xuất phát từ phương pháp của những bài nghiên cứu trên, nơi mà khoảng thời gian cho
mỗi quan sát sẽ dài và được đo lường bởi trung bình trong 1 giai đoạn 5 năm. Trong bài
nghiên cứu trước, các trung bình được tính trong khoản thời gian ngắn hơn 5 năm khi có
dữ liệu bị thiếu. Trong bài nghiên cứu này, những quan sát hàng năm với dữ liệu bị thiếu

đã được giảm từ phân tích, kết quả là một mẫu dữ liệu không cân bằng. Tuy nhiên với hầu
hết các quốc gia, dữ liệu bao phủ toàn bộ giai đoạn sau năm 1983. Những nghiên cứu đã
đề cập trước nhấn mạnh rằng cán cân tài khoản vãng lai là một khái niệm tương đối, đáp
ứng các điều kiện ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Chính các biến trong nước là
không đủ để xác định cán cân tài khoản vãng lai. Để thống nhất với các nghiên cứu về dữ
liệu bảng trước đây với cùng chủ đề này, bài nghiên cứu đã chuyển đổi tất cả các biến từ
cấp quốc gia đến độ lệch của chúng từ toàn cầu trung bình mỗi năm. Các biến độc lập
trong bài bao gồm: TUỔI là tỷ lệ tương đối dân số trong độ tuổi phụ thuộc so với dân số
trong độ tuổi lao động, GOV là phần trăm thâm hụt ngân sách chính phủ so với GDP (giá
danh nghĩa), TRADE là độ mở của nền kinh tế được đo bằng phần trăm tổng kim ngạch
xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP (danh nghĩa), INCOME là GDP thực tế bình quân
đầu người (2000 triệu $), INCOME2 là bình phương của GDP thực tế bình quân đầu
người (triệu $ 2000) và OIL là phần trăm cán cân xuất khẩu dầu thuần so với GDP (danh
nghĩa). Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu dầu
ban đầu có thể làm giảm thâm hụt thương mại tổng hợp của quốc gia trong những điều
kiện nhất định. Bài phân tích tìm ra bản chất của mối quan hệ này và sau khi kiểm soá các
nhân tố ngoại sinh, tác giả thấy rằng xuất khẩu dầu thuần là một yếu tố quan trọng trong
việc giải thích thặng dư tài khoản vãng lai nhưng nhập khẩu dầu thuần thường không ảnh
hưởng đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Trong số tất cả các quốc gia nhập khẩu dầu tồn tại
một ngoại lệ cho các quốc gia tương đối giàu có, khi đó nhập khẩu dầu càng tăng sẽ đóng


×