Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Khổng phu tử1 (tiếng trung 孔夫子) hoặc khổng tử (tiếng trung 孔子)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.3 MB, 17 trang )

Khổng phu tử[1] (tiếng Trung: 孔夫子) hoặc
Khổng tử (tiếng Trung: 孔子)
Khổng phu tử* [1] (tiếng Trung: 孔夫子) hoặc Khổng
tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu
thế cho Khổng Khâu (chữ Hán: 孔丘; 27 tháng 8, 551
TCN - 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲
尼). Ông được suy tôn như một trong những nhà khai
sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc
bậc nhất cõi Á Đông* [2]* [3]* [4].

mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt
hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ
mẹ, nhưng rất ham học. Ông từng nói "… Lúc nhỏ bị
nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều
việc nhỏ mọn. Người quân tử cần biết nhiều như vậy
không? Không cần biết nhiều nghề như vậy.* [9]". Năm
ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử đó sống một cuộc
Trí tuệ và công đức của Khổng Tử được đúc kết trong sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành,
mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ.
mỹ tự Vạn thế sư biểu* [5] (chữ Hán: 萬世師表) hoặc
*
Đại thành í thánh tiên sư [6] (chữ Hán: 大成至聖先
師).

2.2 Làm quan

1

Danh hiệu
• Nguyên danh: Khổng Khâu (孔丘).
• Biểu tự: Trọng Ni (仲尼).


• ụy hiệu: Bao thành tuyên Ni công (褒成宣尼
公; năm 1 triều Hán Bình Đế), Văn Tuyên vương
(文宣王; năm 739 triều Đường Huyền Tông), Đại
thánh Văn Tuyên vương (大聖文宣王, năm 1008
triều Tống Chân Tông), Chí thánh tiên sư (至聖先
師; năm 1560 triều Minh ế Tông), Đại thành chí
thánh Văn Tuyên vương ánh sư (大成至聖文宣
王聖師; năm 1645 triều anh ế Tổ)* [7].
• Khi dịch sách Trung Hoa sang ngôn ngữ Tây
dương, các tu sĩ dòng Tên đã chuyển âm Kǒng ūzǐ
thành Confucius.

Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ
coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương
công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức
quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc
vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức
lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng
2 Tiểu sử
công trình. Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm
chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của
2.1 Ấu thơ
kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa. Sau đó, qua làm chức
Khổng Khâu sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong
nước Lỗ* [8] (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, việc tế tự.
Trung Hoa) cuối thời Xuân u. Nhiều sử ký nói rằng Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được
ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời các môn đồ gọi bằng phu tử. Năm 25 tuổi thì ông chịu
vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ nước Tống di tang mẹ. Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước
cư đến nước Lỗ.
Lỗ.

Cha ông là Khổng Hột lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh
ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh
Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã
đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ,

Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô
nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường,
nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than
thở mà thôi. Học trò là Nam Cung át nghe vậy, liền
1


2

2 TIỂU SỬ

về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho ông một
cỗ xe song mã và vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử
và Nam Cung át đi Lạc Dương. Đến nơi, Khổng Tử
quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật
lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế
iên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế ần
Nông và ần Hậu ổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế
lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận.
Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về
nước Lỗ. Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều
nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng
vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước. Được mấy
năm, trong nước Lỗ, ý Bình Tử khởi loạn. Ông theo
Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Tề Cảnh Công

mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục,
muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan
Tướng quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho.
Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên
cứu cho tường tận Đạo học của ánh hiền. Lúc đó ông
được 36 tuổi.

2.3

Ngao du

này, thì người Khuông kia làm gì được ta ?"* [11]. Sau 14
năm đi chu du các nước không thành công, ông trở về
nước Lỗ, có quan Đại Phu ý Khang tử sai Công Hoa
ra đón ông. Phu nhân của Khổng Tử là bà ượng an
đã mất trước đó một năm. Các học trò của ông nói về
giai đoạn ông đi các nước truyền bá đạo học:
Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng “ầy
Khổng Tử của chúng ta mỗi khi đến
một nước nào đều được tham dự
vào công việc chính sự của nước đó.
Đây là do thầy chúng ta yêu cầu
hay do người ta chủ động mời thầy
?"
Tử Cống nói:“ầy chúng ta có đức
tính ôn, lương, cung, kiệm, nhường,
nên mới được vinh dự đặc biệt đó.
Phương pháp đề xuất yêu cầu được
tham gia chính sự của thầy chúng
ta hoàn toàn khác với phương pháp

xin việc của người khác.”* [12]
(Luận ngữ)
Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định công, ông được 51 tuổi,
được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung
Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh
thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông
làm khuôn mẫu. Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 TCN),
ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp
Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất
khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở y
Âm mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.

Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn
học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các
tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi
ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi
thường. Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước:
Vệ, Khuông, Trần, Tống, ái, Sở, mong thuyết phục
các vua chư Hầu chịu đem Đạo của ông ra ứng dụng
để đem lại thái bình cho dân chúng. Nhưng Đạo của
ông là Vương Đạo (đạo trị quốc) nên đi ngược ý đồ Bá
Đạo (đạo chinh phạt) của các vua chư hầu và quyền lợi
của các quan Đại phu nên các vua chư hầu đều không
dám dùng ông. Ông từng cảm thán "Ai mà không phải
đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không
có ai đi theo đạo này ?* [10]". Khi bị vây ở đất Khuông,
Khổng Tử nói "Sau khi vua Văn Vương mất, tất cả mọi
văn hóa, lễ nhạc đều không phải ở nơi ta cả ư ? Nếu trời
muốn cho nền văn hóa này mất đi, thì sao khi vua Văn
Vương chết, lại ủy thác cho ta nắm giữ nền văn hóa này

làm gì ? Còn nếu trời đã không muốn để mất nền văn hóa

a năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi
thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ ượng thư) coi việc
hình án. Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ,
lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật
tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không
còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị. Sau 4 năm, Lỗ
Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng
ốc), coi việc Chính trị trong nước. Ông cầm quyền
được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần iếu
Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Ông chỉnh đốn
kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa,
liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chánh trị
mỗi ngày một tốt lên. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên
thịnh trị.
Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại. Vua Tề
theo kế, lập ra Bộ Nữ Nhạc mà đem dâng vua Lỗ. Khổng
Tử biết vua Tề có ý dùng chuyện hưởng lạc để làm suy
bại chính sự nước Lỗ nên khuyên Lỗ Định công đừng
nhận, nhưng Định công không nghe. ả nhiên vua Lỗ
sau khi nhận Bộ Nữ Nhạc sinh ra lười biếng mà chán
ghét Khổng Tử. Lỗ Định công không nghe lời can gián
của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chánh, có khi luôn 3
ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho quyền
thần. Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không


2.4


Soạn sách

3

được, chán nản xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các
nước chư hầu. Đạo làm quan của ông thể hiện qua lời
ông nói với Nhan Hồi "Dùng ta thì ta giúp làm nên sự
nghiệp, không dùng thì ta ở ẩn. Chỉ có ta và ngươi có thể
làm được điều này mà thôi.* [13]".

được như yêu cầu của thầy ta.* [17]". Khổng Tử nói về
hoạt động dạy học của ông "Ta chẳng gặp được người
đạt mức trung dung để truyền đạo nên buộc lòng phải
tìm đến hạng cuồng giả, quyến giả. Cuồng giả có tinh
thần tiến thủ mãnh liệt. yến giả biết giữ lòng ngay
thẳng, không bao giờ làm chuyện bất nghĩa."* [18].

2.4

Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư
bị tản mát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền
hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn. Do vậy, Khổng Tử
thực hiện san định lại các kinh sách của ánh hiền đời
trước, lập thành 6 cuốn sách: Kinh i, Kinh ư, Kinh
Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân u. Mỗi cuốn
lại nói về một vấn đề khác nhau, từ thi ca, nghi lễ, bói
toán cho tới sử học. Việc Khổng Tử tự mình biên soạn
6 bộ sách đã thể hiện hiểu biết sâu rộng và tinh thần
làm việc miệt mài của ông, có thể coi đây là một dạng
Bách khoa toàn thư đầu tiên trong lịch sử Trung ốc.

6 cuốn sách này gồm:

Soạn sách

Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học
và bắt tay vào soạn sách. Ông cũng chỉnh lý lại các bản
nhạc nước Lỗ khiến cho nhạc nhã và nhạc tụng mỗi
loại có vị trí thích đáng của nó* [14]. Có thể nói Khổng
Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu
tiên trong lịch sử giáo dục Trung ốc. Trước thời ông,
trường học hoàn toàn là của triều đình và thường chỉ
thu nhận con em của gia đình quý tộc. Khổng Tử sáng
lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ bất kể xuất
thân sang hèn, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân,
đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống
hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại. Tổng số
môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới 3.000 người (Tam
thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng
tài giỏi, nên gọi là ất thập nhị hiền. Trong số học trò
của Khổng Tử, Nhan Hồi là người hiếu học nhất nhưng
không may chết sớm* [15]. Khổng Tử nói "Nhan Hồi ư!
Lòng dạ của trò ấy trong ba tháng không lúc nào xa rời
đạo nhân. Các trò khác không được như vậy, chỉ là ngẫu
nhiên làm việc nhân thôi.* [16]". Nhan Uyên, một học
trò của Khổng Tử, ngậm ngùi than rằng "Đạo của thầy
càng ngước trông lên càng thấy cao, càng nỗ lực nghiên
cứu càng thấy sâu. Mới chiêm nghiệm thấy ở phía trước,
đột nhiên lại hiện phía sau lưng. ầy khéo dẫn dắt dần
từng bước trước sau giảng cho ta thấu triệt. ầy dùng
đủ loại văn chương, làm cho tri thức của ta thêm phong

phú, lại biết dùng lễ tiết để đưa hành vi của ta dần vào
khuôn phép, khiến cho mình dù muốn thôi cũng không
thôi được, đã đua hết tài lực ra học thế mà vẫn trông
thấy đạo của thầy ta như đang đứng sững trước mặt.
Ta dẫu muốn theo đến cùng, mà vẫn không tài nào đạt

1. Kinh i (詩經 Shī Jīng): Sưu tầm các bài thơ dân
gian có từ trước Khổng Tử. Khổng Tử san định
thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình
cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt
rõ ràng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai“Học Kinh
i chưa ?", nó đáp“chưa”. Khổng Tử nói“Không
học Kinh i thì không biết nói năng ra sao”(sách
Luận ngữ).
2. Kinh ư (書 經 Shū Jīng): Lưu lại các truyền
thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng
Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau
nên theo gương các minh quân như Nghiêu, uấn
chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
3. Kinh Lễ (禮記 Lǐ Jì): Chép các lễ nghi thời trước.
Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương
tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội. Khổng Tử
nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở
đời” (sách Luận Ngữ).
4. Kinh Dịch (易經 Yì Jīng): Nói về các tư tưởng triết
học Trung Hoa dựa trên các khái niệm âm dương,
bát quái… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và
giải thích các quẻ của bát quái gọi là oán từ.
Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng
hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời

Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng
thêm oán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi
là oán truyện và Hào truyện.
5. Kinh Xuân u (春秋 Chūn Qiū): Chép các biến cố
xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử
không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi
mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện,
ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để
giáo dục các bậc vua chúa.
6. Ngoài ra còn có Kinh Nhạc bàn về nhạc thuật
và nhạc khí, nhưng nguyên bản đã bị thiêu hủy


4

3
trong Chiến tranh Hán-Sở, chỉ còn đôi chút làm
thành một thiên trong Kinh Lễ, gọi là Nhạc ký.
Tuy nhiên, giới học giả cũng cho rằng, so với 5
cuốn còn lại thì sách này có phẩm chất thấp nhất.

Tựu trung, 6 cuốn sách chỉ còn lại 5 mà hậu thế gọi là
Ngũ kinh. Hiện nay, Ngũ kinh giữ vị trí đặc biệt quan
trọng trong các tác phẩm cổ điển Trung Hoa, nhờ có nó
mà tới 2.500 năm sau người ta vẫn hiểu biết tường tận
về đời sống của đời thái cổ. Trong 6 cuốn sách, Khổng
Tử chú các lời nói của ánh hiền đời trước, xếp đặt lại
cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là
với Kinh Dịch, ông chú giải rất kỹ. Sau đó, Khổng Tử
viết ra Kinh Xuân u, chép những việc của nước Lỗ

và của nhà Chu liên hệ với các nước chư Hầu từ đời
Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời
Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng là 242 năm.
Khổng Tử thấy thời thế loạn lạc, chính đạo mờ mịt, các
tà thuyết dấy lên, những sự hung bạo rất nhiều, con
giết cha, bề tôi phản nghịch, cho nên ông lấy làm lo
sợ mà làm ra sách Xuân u, để định sự chính danh,
thưởng phạt theo đạo lý. Đây là cuốn kinh mà Khổng
Tử tâm đắc nhất, là một trong những tác phẩm sử học
đầu tiên của Trung Hoa, trước cả Sử ký.
Xem hình thể bề ngoài thì Kinh Xuân u là một bộ sử
biên niên, lời lẽ vắn tắt, lắm chỗ hình như không có ý
nghĩa gì cả, nhưng xét rõ đến tinh thần thì là bộ sách
triết lý về việc chính trị. Phép của Kinh Xuân u là
trị kẻ gian ác, dù còn sống hay chết rồi, trị ngay đến
bản thân, cốt để răn kẻ ác, khuyến khích trung nghĩa,
còn đến con cháu xa thì là để khuyến thiện, bỏ ác theo
thiện. Khổng Tử đã vận dụng bút pháp để khen chê, để
phân biệt người thiện kẻ ác hết sức minh bạch và đanh
thép, nên người đời sau gọi đó là những búa rìu giáng
lên kẻ gian tà, răn đe chúng suốt ngàn đời sau:

NHÂN CÁCH

Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một
hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi
vừa hát:“ái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết
nhân kỳ nuy hồ! (Núi ái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại
ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông là Tử Cống
liền đến hỏi thăm, ông nói:“Ta biết mình sắp chết”. Đến

ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất
(tháng 4 năm 479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73
tuổi. Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng
hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện
đồ thư, một đời ta thế là hết.* [19]". Mộ của ông ở bên bờ
sông Tứ ủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm,
thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

3 Nhân cách
3.1 Phẩm hạnh
Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học.
Bất cứ việc gì, ông cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để
biết cho cùng tận mới thôi. Tánh ông ôn hòa, nghiêm
trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận,
đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào iên mệnh. Ông tin
rằng con người được sinh ra trên đời này là có lý do,
bản thân ông được Trời giao cho sứ mệnh góp sức xây
dựng nên một xã hội quý trọng đạo đức và lòng hiếu
học, và ông đã giành cả đời nỗ lực cho sứ mệnh đó.

Ông là người nhân hậu, khiêm nhường, giản dị, chân
thành, giàu tình cảm, ôn hòa mà nghiêm túc, uy nghi
nhưng không thô bạo, cung kính mà an nhàn* [20]. Ông
sống thanh đạm, trọng nghĩa khinh tài. Khổng Tử nói
"Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, khi ngủ co cánh tay mà
gối đầu, niềm vui cũng ở trong đó rồi. Còn như dùng
phương pháp không chính đáng để đạt được giàu có và
phú quý, ta coi như đám mây trôi vậy"* [21]. Một người
ở xứ Đạt Hạng nói "Khổng Tử thật là vĩ đại, học rộng
Trong kinh Xuân u, được một

nhưng rất tiếc lại chẳng có danh tiếng gì!". Khổng Tử
chữ khen thì vinh hơn cái áo hoa
nghe được liền nói với học trò rằng "Ta làm cái gì ?
cổn vua ban, bị một chữ chê thì
Đánh xe ư ? Bắn tiễn ư ? Ta làm nghề đánh xe vậy!* [22]".
nhục hơn phải tội rìu búa (Nhứt tự
Khi Khổng Tử ở nhà dáng dấp rất thoải mái, trên mặt
chi bao, vinh ư hoa cổn; nhứt tự chi
biểu lộ thần thái hết sức hoài vui* [23]. Khi ăn uống ở
biếm, nhục ư phủ việt)
nhà có tang, Khổng Tử không bao giờ ăn no. Hôm nào
Từ khi Khổng Tử nêu cao cái nghĩa
Khổng Tử đi phúng viếng đám tang, thì suốt ngày hôm
trong Kinh Xuân u, bọn loạn
đó không đàn hát nữa.* [13] Ông đối xử với các học trò
thần tặc tử trong thiên hạ đều phải
bằng tình thương như cha đối với con còn các học trò
khiếp sợ (Khổng Tử tác Xuân u
kính trọng ông như người cha thứ hai của họ. Trong
nhi loạn thần tặc tử cụ).
quan hệ thầy trò, ông gần gũi với họ và hết sức chân
thành. Ông từng nói với các học trò "Các ngươi cứ tưởng
ta còn giấu các ngươi điều gì sao? Ta đâu có giấu điều gì.
2.5 Cuối đời
Ta không có điều gì làm mà không cho các ngươi biết.
*
Mùa Xuân năm Lỗ Ai công thứ 14 (481 TCN), tương Ta, Khổng Khâu là con người như vậy. [24]". Ba việc mà
hết sức thận trọng là trai giới, chiến tranh và
truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân Khổng Tử
*

[25].
bệnh
tật
què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi
bưng mặt khóc, ông than rằng:“Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo Ông là người thông kim bác cổ nhưng chưa bao giờ tự
của ta đến lúc cùng). Sách Xuân u chép đến đây thì nhận mình là người hiểu biết nhiều, ông biết rằng hiểu
hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân u là Lân kinh.
biết của một người chỉ là hạt cát so với kho tàng kiến


3.1

Phẩm hạnh

thức của nhân loại. Khổng Tử nói "Ta có nhiều hiểu biết
ư? Không! Ta không hiểu biết nhiều. Có một nông dân hỏi
ta một vấn đề mà lúc đầu ta không biết tí nào cả nhưng
ta đem hai mặt của vấn đề lật đi lật lại, suy nghĩ tìm
hiểu, rồi giải thích tường tận cho người ấy hiểu rõ.* [26]".
Khổng Tử thường hay nói về Kinh i, Kinh ư và
thực hành Kinh Lễ đều là những lời thanh nhã cả* [27].
Khổng Tử ít khi nói đến lợi, mệnh trời và nhân* [28],
không bao giờ bàn luận những chuyện quái dị, bạo lực,
phản loạn, quỷ thần* [29]. Tử Lộ hỏi về việc tế lễ quỷ
thần. Khổng Tử nói "Chưa biết phụng thờ con người làm
sao có thể phụng thời quỷ thần ?". Tử Lộ lại hỏi "Con
mạnh dạn hỏi thầy về đạo lý của sự chết". Khổng Tử
nói "Chưa biết đạo lý của sự sống sao biết đạo lý của sự
chết".* [30]
Khổng Tử không dùng màu xanh da trời và màu đỏ nâu

để viền quần áo, không dùng màu đỏ và màu tím. Mùa
nóng, Khổng Tử mặc áo đơn bằng vải mỏng nhất định
phải có áo lót ở trong. Mùa lạnh, thì mặc áo da cừu màu
đen ở trong, mặc áo dài màu đen ở ngoài; hoặc mặc áo
da hươu màu trắng ở trong, thì mặc áo dài màu trắng
ở ngoài; còn nếu mặc áo da cáo màu vàng ở trong thì
mặc áo dài vàng ở ngoài. ường ngày áo da mặc ở nhà,
may dài hơn lễ phục một ít, ống tay phải ngắn hơn ống
tay trái một ít để tiện lợi khi làm việc. Khi ngủ nhất
thiết phải mặc áo ngủ dài bằng một nửa người. Áo da
cáo da hạc mặc làm việc ở nhà có lông dày và ấm. Khi
mãn tang Khổng Tử thường hay đeo ngọc. Nếu không
là áo xiêm mặc để đi tế lễ và đến công đường làm việc
thì may giản dị hơn. Không mặc áo da cừu màu đen
và đội mũ màu đen đi điếu tang. Mồng một hàng tháng
Khổng Tử đều mặc triều phục vào chầu vua. Đến kỳ trai
giới, Khổng Tử giữ mình sạch sẽ, mặc áo vải tinh khiết
màu trắng, áo ngủ dài gấp rưỡi thân mình. Khi trai giới
nhất định thay đổi bữa ăn thường ngày, nơi ở cũng thay
đổi sang chỗ khác. Tuy không cầu kỳ cao lương mỹ vị
nhưng Khổng Tử yêu cầu rất cao đối với thực phẩm.
Khổng Tử thích ăn gạo giã trắng, ăn thịt thái mỏng.
Khổng Tử không ăn lương thực để lâu ngày, thức ăn đã
hôi thiu, rau quả đã héo úa, thịt cá sống đã đổi màu,
thức ăn có mùi vị khó ngửi, nấu sống hay nát quá, thức
ăn chín quá, thực phẩm không đúng mùa vụ, thức ăn
nêm mắm muối gia vị không đúng kiểu cách, thịt thái
không vuông vắn. ức ăn, thịt cá trên mâm cỗ nhiều,
Khổng Tử không bao giờ ăn quá mức bình thường. Chỉ
có rượu là không giới hạn tửu lượng nhưng yêu cầu giữ

mình không được say. Rượu và thịt khô mua ở chợ về
là không dùng. Mỗi bữa đều ăn thêm gừng nhưng chỉ
vừa đủ. Khi dự lễ ở tông miếu, Khổng Tử không để thịt
cách đêm. Khi tế tại nhà riêng, Khổng Tử không để lại
thịt tế quá ba ngày, chiếu trải không ngay ngắn không
ngồi, khi ăn cơm không mạn đàm với người khác, khi
ngủ không nói chuyện với ai. Dù chỉ ăn cơm canh bình
thường nhưng trước khi ăn Khổng Tử nhất định dành
một ít để thờ cúng, thành tâm như khi trai giới.* [31] Khi
ngủ Khổng Tử không duỗi thẳng tay chân như người
chết. Bình thường ở nhà, Khổng Tử không trang điểm
trau chuốt dung mạo.* [32]

5
Khi Khổng Tử uống rượu với người trong làng, ông đợi
các cụ cao tuổi rời khỏi mâm rồi mới rời sau. Khi người
làng làm lễ nghênh thần tống quỷ ông mặc triều phục
đứng ở thềm phía Đông. Khi nhờ người chuyển lời thăm
hỏi của mình đến bạn mình ở nước khác, Khổng Tử vái
người mình nhờ hai lạy để tiễn người ấy. Vua ban tặng
Khổng Tử thức ăn chín, Khổng Tử nhất định trải chiếu
ngay ngắn rồi mới ăn. Vua ban tặng cho thực phẩm
sống, ông nấu xong đem cúng tế tổ tiên rời mới ăn.
Vua ban tặng cho vật sống, Khổng Tử nhất định giữ lại
để nuôi. Khi ngồi hầu cơm bên vua khi vua đang tế lễ,
Khổng Tử nếm trước. Khổng Tử ốm tại nhà, khi vua
đến thăm, Khổng Tử chuyển đầu hướng về phía Đông,
đem triều phục đắp lên người với dây đai ở trên. Khi
vua triệu Khổng Tử đến gặp, ông đi bộ tới ngay, không
đợi xe.* [33] Bạn bè mất mà không có ai thân thuộc lo

liệu, Khổng Tử nói "Việc này do ta chịu trách nhiệm".
Khi bạn bè tặng lễ phẩm, dẫu quý như xe ngựa nhưng
không phải là vật cúng tế được thì khi nhận Khổng Tử
cũng không bao giờ bái tạ. Khổng Tử nhìn thấy người
mặc áo tang thì thay đổi thái độ tỏ lòng thương xót.
Khổng Tử nhìn thấy người đội mũ miện, mặc lễ phục
hoặc người mù luôn đối xử với họ rất lịch sự. Ngồi xe
đang đi trên đường, gặp người mặc tang phục, Khổng
Tử cúi người về phía trước gật đầu như muốn chia sẻ
nỗi buồn của tang chủ. Khổng Tử gặp người cầm sổ
sách của nhà nước cũng cúi chào như vậy để tỏ lòng
kính trọng người thi hành công vụ. Khổng Tử khi làm
khách, thấy chủ nhà dọn mâm thịnh soạn thì đứng lên
cảm tạ lòng hiếu khách của chủ nhân rồi mới cầm đũa.
Khi có sấm to bão lớn, Khổng Tử cũng thay đổi thái
độ, nét mặt hiện vẻ lo lắng sợ thiên tai gây họa cho
dân.* [34]
Khổng Tử câu cá không bao giờ đánh bằng lưới, khi
bắn chim không bao giờ bắn con đã về tổ nghỉ ngơi
ấp trứng* [35]. Khổng Tử cùng ngồi hát với người khác,
nếu phát hiện ai hát hay thì nhất định mời họ hát lại
một lần nữa để mình cùng được hát theo* [36]. Khi nhìn
thấy người mặc tang phục, người đội mũ miện mặc lễ
phục và người mù, mặc dù họ còn rất trẻ thì Khổng
Tử cũng nhất định dừng lại, nếu phải đi qua trước mặt
họ thì đi rất nhanh* [37]. Khổng Tử không bao giờ mắc
phải bốn sai lầm: không dựa vào ý riêng; không phán
đoán khẳng định, áp đặt; không cố chấp; không tự cho
mình là đúng cả* [38]. Một lần có người chỉ ra sai lầm
của Khổng Tử, ông nói "Ta thật may mắn, giả dụ có

sai lầm thì người ta cũng biết được"* [39]. Khổng Tử là
người am hiểu lễ nhạc. Ông nói "Khi nhạc sư Chí mới
ra làm quan, tấu bản nhạc phổ theo bài thơ an ư,
tới khúc cuối cùng, tiếng nhạc dào dạt, nghe vui thích,
thuận tai lắm thay!* [40]".
Khổng Tử khi ở quê hương, đứng trước mặt cha anh,
bạn bè thì hết sức khiêm tốn, kính cẩn vâng lời, chẳng
hề tranh với ai điều gì. Khổng Tử rất ít nói, có lúc tựa
như chẳng biết nói năng gì. Nhưng khi ra nơi tông miếu
triều đình, giải quyết công việc, Khổng Tử ăn nói rất lưu
loát, mạch lạc, chững chạc đâu ra đấy; duy có điều lời lẽ


6
rất cẩn thận, không tùy tiện bao giờ. Ở triều đình, khi
nói chuyện với quan đại phu dưới quyền, Khổng Tử
rất cương nghị, thẳng thắn; khi nói chuyện với quan
đại phu bậc trên luôn luôn giữ thái độ hòa nhã. Khi vua
đến Khổng Tử tỏ ra hết sức cung kính rụt rè, trong lòng
như có điều gì chưa yên tâm, không thể hiện cử chỉ nào
thất lễ. Khi vua triệu đến tiếp khách quý, tiếp chỉ xong,
sắc mặt Khổng Tử thay đổi ngay, tỏ ra hết sức nghiêm
trang. Trước mặt tân khách, Khổng Tử tỏ ra hết sức
chu đáo, cẩn thận, chân bước nhanh hơn. Đứng chào
khách, Khổng Tử chắp hai tay cúi đầu chào khách bên
trái rồi bên phải, còn quần áo mặc khi tiếp khách thì
ngay ngắn, phía sau cũng chỉnh tề như phía trước. Khi
dẫn khách vào Khổng Tử lanh lẹ đi trước dẫn đường,
hai cánh tay thẳng, tựa hồ như chim duỗi cánh. Khi
khách cáo từ ra về, Khổng Tử liền trở vào tâu với vua

rằng "Khách không còn ngoảnh mặt lại nữa" ý muốn
thưa rằng mọi việc tiếp đãi, bàn luận đã hết sức chu
đáo. Khi bước vào cửa cung điện nơi vua và đại thần
hội họp Khổng Tử hết sức kính cẩn hơi có vẻ lo lắng
cảm thấy mình bé nhỏ như không có chỗ dung thân,
như chưa xứng đáng với thân phận của mình. Khổng
Tử khi đi ngang qua ngai vua thì sắc mặt hơi đổi, chân
bước nhanh hơn, nói năng khe khẽ như không đủ lời.
Khi vén áo bước lên công đường Khổng Tử cúi mình
nín thở. Khi trở ra, xuống một bậc thềm thì sắc mặt thư
giãn, trở nên vui vẻ thư thái; xuống đến bậc thềm chót
thì rảo bước, đưa hai tay như chim xòe cánh. Khi trở lại
chỗ của mình, Khổng Tử lại giữ vẻ cung kính. Khổng
Tử lĩnh mệnh vua đi sứ các nước, hai tay cầm thẻ Ngọc
Khuê dâng lên vua chư hầu rất cung kính, dường như
nâng không nổi vậy. Khổng Tử giơ cao Ngọc Khuê lên
như để vái chào, rồi hạ xuống ngang ngực, báo hiệu
chuẩn bị dâng lễ; nét mặt tỏ ra kính sợ, chân bước rón
rén như phải vịn vào vật gì mới đi nổi. Khi dâng lễ vật
của vua sắc mặt Khổng Tử tươi tắn, ôn hòa, trang trọng.
Khi dâng lễ của riêng mình thì hết sức thoải mái vui
tươi.* [41]

3

NHÂN CÁCH

ông sống cũng đã suy đồi. Tử Lộ hỏi về phẩm đức của
một người toàn tài. Khổng Tử nói "Có trí tuệ như Tang
Vũ Trọng, liêm khiết như Mạnh Công Xước, dũng cảm

như Biện Trang Tử, tài nghệ như Nhiễm Cầu, lại nắm
được lễ nhạc, được như vậy xem như là một người toàn
tài". Khổng Tử lại nói tiếp "Bây giờ muốn trở thành một
người toàn tài thì chẳng cần phải như vậy nữa. Chỉ cần
nhìn thấy lợi thì trước hết hãy nghĩ đến nghĩa, gặp việc
nguy nan không tiếc thân mình, lời hứa ngày thường dù
lâu cũng không bao giờ quên, được như vậy xem như là
một người toàn tài rồi"* [43].
Ông mong muốn tái lập lại trật tự xã hội, làm cho mọi
người trở nên tốt đẹp hơn, đối xử với nhau hòa hảo,
thân ái. Một lần Khổng Tử tâm sự với học trò "Nguyện
vọng của ta là muốn cho người già được nuôi dưỡng đầy
đủ, bạn bè tin cậy lẫn nhau, trẻ nhỏ được quan tâm chăm
sóc.* [44]". Chính vì thế ông luôn muốn dùng tài năng
của mình giúp nước, giúp đời. Khổng Tử nói "Nếu có
người bổ dụng ta làm quan quản lý nhà nước thì một
năm cũng đã tương đối rồi, ba năm nhất định có nhiều
thành tích hơn nữa"* [45]. Bản thân ông lại thích cuộc
sống an nhàn, tự do tự tại. Khi Khổng Tử hỏi chí hướng
của học trò ông là Tăng Tích, người này thưa "áng ba
cuối xuân mặc trang phục mùa xuân, cùng hẹn với năm
sáu bạn trẻ, sáu bảy em nhỏ đến sông Nghi tung tăng
bơi lội tắm mát, lên đài cầu mưa Vũ Vu nhảy múa hứng
gió, vừa đi vừa ngâm vịnh mà trở về nhà.". Khổng Tử
ngậm ngùi than rằng "Ta tán thành cách suy nghĩ của
con.".* [46]

Trong suốt cuộc đời dạy học, viết sách và du thuyết của
mình, Khổng Tử luôn tự vấn bản thân "Im lặng nhớ kỹ
những điều đã học được; kiên trì học tập không biết chán,

dạy bảo người khác không biết mệt mỏi. Trong ba việc
này ta đã làm được việc nào ? * [47]", "Ở triều đình thì tôn
kính các bậc công khanh; ở nhà thì hiếu để với cha anh;
gặp việc tang chẳng dám không có lễ tiết cho chu toàn;
rượu chè không đến nỗi quá say mà lèm nhèm. Những
việc đó ta đã làm được việc nào chăng ?* [48]". Ông nói
"Đức hạnh không tu dưỡng, học vấn không giảng giải,
nhìn thấy việc nghĩa không làm, tự có điều sai không
3.2 Tâm nguyện
chịu sửa chữa, những điều này là nỗi lo của ta.* [49]".
Ngay từ thời trẻ, Không Tử đã đặc biệt yêu thích văn Phương châm sống của ông là "Lập chí vì đạo, giữ *vững
hóa cổ đại, ông thấy rằng giá trị văn hóa cổ đại rất cao lấy đức, noi theo điều nhân, vui chơi trong lục nghệ" [50].
xa và sâu sắc, cảm nhận được“cõi lòng cao thượng của Sách Trung Dung nói về Khổng Tử "Khổng Tử tôn sùng
cổ nhân”. Đây là yếu tố ảnh hưởng tới tư tưởng của tiếp nối đạo đức của vua Nghiêu, vua uấn; noi theo và
Khổng Tử một cách tự nhiên, hướng tư tưởng phẩm làm sáng tỏ phép tắc của vua Văn Vương, vua Vũ Vương,
chất của Khổng Tử đến một trình độ tự giác cao“yết trên thuận thiên thời, dưới hợp địa lý. Đức của Khổng
chí học tập, phát huy văn hóa truyền thống, chịu trách Tử vĩ đại như trời đất, không có cái gì không chứa nổi,
nhiệm trước lịch sử, lập chí cho sự nghiệp lớn sống vì không có cái gì không che chở; lại giống như bốn mùa
thiên hạ!”
thay nhau luân chuyển, như mặt trời, mặt trăng thay
*
Ông sống trong thời kỳ trật tự xã hội đã suy đồi, chư nhau tỏa sáng. [51]" còn ông chỉ khiêm tốn tự nhận
người trung
hầu lấn quyền thiên tử, đại thần tiếm đoạt ngôi chư "Một thôn có chục nhà thì nhất định có một
*
[52]
Ta không
tín
như
ta,

chỉ
khác
không
ham
học
như
ta.
hầu dẫn đến cảnh chém giết nhau hỗn loạn, không còn
phải

người
sinh
ra
đã
biết
tất
cả,

do
hâm
mộ đạo
đạo lý, kỷ cương. Đau lòng trước cảnh này Khổng Tử
nghĩa
đời
xưa,
nên
cần
mẫn
học
tập



được
tri
thức
than: "Các dân tộc Di Địch lạc hậu ở biên giới còn có
*
[53].
Về
tri
thức
văn
hóa
thì
ta
cũng
chỉ
như
hiện
nay
vua, không như các dân tộc Hoa Hạ ở Trung Nguyên cứ
*
bằng
người
khác.
Nếu
nói
về
làm
một

người
quân
tử
tu
như thể chẳng có vua gì cả! [42]". Đạo đức xã hội thời


4.1

Đạo đức

thân hành đạo trong thực tiễn thì ta vẫn chưa làm được
bao nhiêu* [54]. Nếu khoác cho ta hai chữ thánh nhân
ta đâu dám nhận. Nhưng thực hiện theo công việc của
bậc thánh và bậc nhân thì ta từ trước đến nay chưa biết
chán, dạy học trò chưa bao giờ biết mệt mỏi, chỉ có vậy
thôi* [54].".

7
gia, trị quốc, bình thiên hạ", đưa ra các quy tắc trong
các mối quan hệ xã hội, đề cao "Đạo Trung Dung”và
các đức tính “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”. Khổng Tử
đề cao mối quan hệ gia đình, thờ cúng tổ tiên, trẻ kính
trọng già, vợ tôn trọng chồng, và gia đình là căn bản
cho một xã hội lý tưởng. Ông đã tuyên bố rõ nguyên
tắc nổi tiếng, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì
mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Ông
cũng luôn lấy những điều tốt đẹp trong quá khứ ra làm
chuẩn mực, và khuyên người Trung ốc, đặc biệt là
tầng lớp cai trị, tự đổi mới mình dựa trên những hình

mẫu những vị vua hiền trong quá khứ.

ái Sử Công Tư Mã iên từng ca ngợi Khổng Tử:
“Núi cao cúi phục, thiên nhiên cũng kính nể ngừng khoe
sắc đẹp. iên hạ biết không đuổi kịp được ông nhưng
luôn hướng theo ông! Từ bậc quân vương đến thường
dân lúc đó đều ca ngợi ông. Tuy chỉ là người mặc áo vải
nhưng ông đời đời được tôn vinh, những người học đều
coi ông là thầy, có thể nói ông là bậc thánh hiền!”.
Nói về triết học của đức Khổng Tử, có hai chủ thuyết là
nhân sinh quan và vũ trụ quan. Nhân sinh quan có hai
mặt là cơ xuất thế và cơ nhập thế. Cơ nhập thế là nói về
mười lăm đức, con người phải có đạo đức, nếu không
4 Triết lý
có đức con người có khác gì cầm thú. Còn về cơ xuất
thế là tánh mạng song. Cụ thể trong Trung iên dịch,
là cơ năng chuyển hóa từ hậu thiên trở về với iên
tiên. Trong quẻ Bát uần Càn có câu, Càn đạo biến
hóa các Chánh tánh mạng, bảo hiệp ái hòa mải lợi
trinh… Con người có tánh, tức là có tâm hồn là thần trí
của ta nó là thể vô hình. còn mạng ta, tức là hình thể
xác thân là khí huyết. Bên Đạo Giáo gọi là ần Khí,
bên Phật giáo gọi là Tâm tức.
Về vũ trụ quan của ông thể hiện bằng tám quẻ: Càn
là Trời, Khôn là Đất, Ly là mặt Nhật, Khảm là mặt
Nguyệt… Như vậy triết lý tự nhiên của ông rất siêu
hình.

Tư Mã iên đã đánh giá Khổng Tử như sau: “Trong
thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi

sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là
một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học
giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung
ốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu
chuẩn. Có thể gọi là bậc Chí ánh vậy”.

4.1 Đạo đức
Lý thuyết đạo đức của Khổng tử dựa trên ba quan niệm
chính:
Khi Khổng tử trưởng thành, lễ được xem là ba khía cạnh
sau trong cuộc đời: hiến tế cho thần thánh, thiết chế
chính trị và xã hội, và hành vi hàng ngày. Lễ được xem
là quy phạm đạo đức và hành vi mà iên thượng (Trời)
chế định cho con người, lấy đó mà biết việc nào nên
Dù Khổng giáo thường được người Trung ốc tin theo làm, việc nào không nên làm.
như một tôn giáo, vẫn tồn tại những cuộc tranh luận về Đối với Khổng tử, Nghĩa (義 [义]) là nguồn gốc của Lễ.
việc liệu đó có phải là một tôn giáo không, bởi Khổng Nghĩa chính là cách hành xử đúng đắn. Trong khi làm
giáo ít đề cập tới các vấn đề thần học hay duy linh (quỷ việc vì lễ, vị kỷ cá nhân chưa hẳn đã là xấu và người cư
thần, kiếp sau, vân vân).
xử theo lễ một cách đúng đắn là người mà cả cuộc đời
Mộ phần của Khổng Tử tại nguyên quán Khúc Phụ. Khổng miếu,
mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ Khổng nay là một di sản
thế giới do UNESCO công nhận.

Các triết lý của Khổng Tử được chấp nhận chủ yếu bởi
nó dựa trên nền tảng quan điểm phổ thông trong xã hội
Trung ốc. Triết học của ông nhấn mạnh sự tu dưỡng
đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức: “tu thân, tề

dựa trên trí. Tức là thay vì theo đuổi quyền lợi của cá

nhân mình, người đó cần phải làm những gì là hợp lẽ
và đạo đức. Trí là làm đúng việc vì một lý do đúng đắn.
Nghĩa dựa trên quan hệ qua lại. Một ví dụ sống theo


8
Nghĩa là tại sao phải để tang cha mẹ ba năm sau khi
chết. Lý do là vì cha mẹ đã phải nuôi dưỡng chăm sóc
đưa trẻ toàn bộ trong suốt ba năm đầu đời, và là người
có trí phải đền đáp lại bằng cách để tang ba năm.
Cũng như Nghĩa xuất phát từ Lễ, thì Nghĩa cũng xuất
phát từ Nhân (仁). Nhân là cách cư xử tốt với mọi
người. Nhân là trung tâm của các đức tính: tình cảm
chân thật, ngay thẳng; hết lòng vì nghĩa; nghiêm trang,
tề chỉnh; rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần
mẫn. Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa,
đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi.

4

TRIẾT LÝ

mang tính hệ thống về cuộc sống và xã hội, ông muốn
các môn đồ của mình phải suy nghĩ sâu sắc cho chính
mình và lặng lẽ nghiên cứu thế giới bên ngoài, chủ yếu
thông qua các cuốn kinh cũ và qua các sự kiện quá khứ
có liên quan (như Kinh Xuân u) hay những tình cảm
của nhân dân trong quá khứ (như Kinh i).

Sự giáo hóa của Khổng Tử chủ yếu là làm sao cho sáng

tỏ cái đức sáng của con người, chớ không đặt trọng tâm
vào sự truyền thụ kiến thức. Đây là một phương pháp
giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người. Nền
giáo dục hiện đại, nhiều nơi làm ngược lại: đặt trọng
Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên lòng vị tha tâm vào sự truyền thụ kiến thức chứ không quan tâm
và hiểu những người khác thay vì là việc cai trị dựa đến giáo dục đạo đức lối sống, cho nên cái Tâm của học
trên luật pháp có được như một quyền lực thần thánh. trò không được mở mang khiến họ dễ thành kẻ xấu. Đó
Để sống mà được cai trị bằng Nhân thì thậm chí còn là điều mà Khổng Tử tối kỵ, ông xem đó là dạy tiểu xảo
tốt hơn là sống trong luật pháp của Nghĩa. Để sống có chứ không phải dạy người.
nhân thì ta theo nguyên tắc vàng của Khổng tử: ông Khổng Tử coi việc dạy học là để mưu cầu lợi ích cho
đã tranh luận rằng người ta phải luôn đối xử với người nhân dân chứ không phải để mưu lợi cá nhân. Ông nói
khác đúng như những gì họ muốn người khác đối xử "Chỉ cần tự mình dâng lên một xâu thịt khô làm lễ xin
với họ. Đức hạnh theo Khổng tử là dựa trên việc sống học, thì ta chưa từng bao giờ từ chối ai làm học trò của
hài hòa với mọi người.
ta.* [55]". Nội dung giáo dục của Khổng Tử đối với học
trò có bốn mặt là văn, hạnh, trung, tín* [56]. Người làng
Khổng Tử nói: “Muốn nhân mà không muốn học thì bị
cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị Hỗ Hương rất khó cùng trò chuyện. Một đứa trẻ làng ấy
đến yết kiến Khổng Tử xin vào học. Học trò của Khổng
cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì
bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn Tử cảm thấy nghi hoặc không hiểu nổi. Khổng Tử nói
"Ta tán thành mặt tiến bộ của họ, không tán thành mặt
học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà
không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương yếu kém của họ. Chẳng việc gì phải đối xử quá đáng với
họ. Người ta thanh khiết tốt đẹp đến với mình thì nên tán
mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh
thành sự thanh khiết tốt đẹp của họ, không nên cứ truy
suất”.
cứu việc quá khứ của họ.* [57]".
Ông áp dụng nguyên tắc trên như sau:“Kỷ sở bất dục,

vật thi ư nhân - Cái gì mà ta không muốn thì đừng làm Ở thời đại của sự phân chia, hỗn loạn và những cuộc
chiến tranh không dứt giữa các nước chư hầu, ông
cho người khác”
muốn tái lập iên Mệnh để có thể thống nhất “thiên
Dựa theo mức độ tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử chia loài hạ" (天下, mọi thứ dưới gầm trời, ở đây nghĩa là Trung
người thành ba hạng:
ốc) và mang lại hòa bình, thịnh vượng cho nhân dân.
Vì thế Khổng Tử thường được coi là người đã đề xướng
• ánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chủ nghĩa bảo thủ, nhưng khi xem xét kỹ những đề xuất
của ông ta thấy ông đã sử dụng (và có thể cố ý bóp méo)
chuyển giao chân lý minh triết.
những định chế và lễ nghi trong quá khứ nhằm đặt ra
• ân tử: Người cao nhã, kẻ phấn đấu để làm điều một hệ thống chính trị mới của riêng mình. Ông mơ
chân chính.
ước về sự khôi phục một vương quốc thống nhất mà
những vị vua phải được lựa chọn xứng đáng theo đạo
• Tiểu nhân: Kẻ “hèn mọn”, hành động không
đức (như vua Nghiêu, vua uấn) chứ không phải theo
màng tới đạo đức.
dòng họ. Những người cai trị phải hành động vì nhân
dân, và họ phải đạt tới mức hoàn thiện. Một vị vua như
Khổng Tử nói:“Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, vậy có thể dùng đạo đức của mình giáo hóa nhân dân
sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân thay vì áp đặt mọi người bằng pháp luật và quy định.
không biết mệnh trời, nên không sợ, mà còn khinh nhờn
Nhiều khía cạnh tư tưởng của Khổng Tử vẫn còn lưu
bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người
truyền và phát huy đến tận ngày nay. Có được sự
quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu
trường tồn đó, là ở tinh thần đam mê học hỏi và thái
căng mà không ung dung”.

độ nghiêm túc đối với việc học của Khổng Tử. Ông nói:
Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử tự coi mình là một “Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ
“người truyền đạt lại cái đã có mà không phát minh ra không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm
thứ gì khác”. Ông rất nhấn mạnh trên tầm quan trọng được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo
của sự học, và chương mở đầu Luận Ngữ cũng đề cập người ta không biết mình”. eo Ông, đã không học
tới việc học. Vì thế, ông được người Trung ốc coi thì thôi chứ đã học là phải “Học cho rộng, hỏi cho kỹ;
là vị Đại Sư. ay vì tìm cách xây dựng một lý thuyết


4.1

Đạo đức

nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng tỏ, làm cho hết
sức. Có điều không học nhưng đã học điều gì thì phải học
cho kỳ được. Có điều không hỏi, nhưng khi đã hỏi điều
gì thì phải hỏi cho thật hiểu. Có điều không nghĩ nhưng
đã nghĩ điều gì thì phải nghĩ cho ra. Có điều không phân
biệt nhưng đã phân biệt điều gì thì phải phân biệt cho
minh bạch. Có điều không làm nhưng đã làm điều gì thì
phải cố hết sức mà làm cho bằng được… Nếu quả theo
được đạo ấy thì tuy ngu mà cũng thành sáng, yếu đuối
rồi cũng thành ra khoẻ mạnh”.

9
dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy.
Từ iên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai
nói về“Lục Nghệ" thì đều xem học thuyết ấy của Khổng
Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một
ánh nhân chí cao vô thượng”.

Một trong những giáo lý sâu sắc nhất của Khổng Tử,
một trong những điều khó hiểu nhất từ quan điểm
phương Tây, có thể là việc ông sử dụng những câu
chuyện cách ngôn chứ không giảng giải trực tiếp cách
cư xử cho các môn đồ. Đạo đức của ông có thể được coi
là một trong những kiểu đạo đức cao nhất. Cách dạy
“gián tiếp”này được sử dụng rất nhiều trong các bài
giảng của ông thông qua những lời ám chỉ, nói bóng
gió, và thậm chí là sự lặp thừa. Điều này giải thích tại
sao khi nghiên cứu cần đặt các bài giảng của ông vào
đúng ngữ cảnh. Một ví dụ là câu chuyện sau:

Khổng Tử cũng nhấn mạnh trên cái mà ông gọi là“Lễ
và Nhạc”, coi hai thứ đó là những trụ cột của sự cân
bằng cho trật tự và sự hài hòa. Lễ là các yêu cầu và quy
phạm trong việc đối nhân xử thế; còn Nhạc (âm nhạc,
văn nghệ) là để thống nhất mọi con tim cùng chung
vui, cũng là để giữ gìn đức hạnh. Ông nói thêm rằng lễ
không chỉ là cúng tế, và âm nhạc không chỉ là âm thanh
của dùi đánh vào chuông. Cả hai còn là cách truyền
Từ triều về nhà, nghe tin chuồng
đạt giữa lòng nhân của một người và hoàn cảnh xã hội
ngựa cháy, Khổng Tử nói,“Có ai bị
của anh ta; cả hai yếu tố đó đều tăng cường các mối
thương không?" Ông không hề hỏi
quan hệ xã hội, như Ngũ ường (năm mối quan hệ
về Ngựa.
chủ yếu): quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu
Luận
thê (vợ chồng), huynh đệ (anh em) và bằng hữu (bạn

Ngữ
bè). Các trách nhiệm luôn được cân bằng, và nếu một
thần dân phải tuân lệnh vua, thì thần dân cũng phải
Câu chuyện không dài, nhưng có tầm quan trọng rất
can ngăn khi nhà vua sai lầm.
lớn. Ở thời ông, một con ngựa có thể đắt gấp 10 lần
Khổng Tử chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân một nô lệ. Khi không hỏi tới ngựa, Khổng Tử thể hiện
trước tiên, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai sự quan tâm lớn nhất của mình: con người. Vì thế, theo
trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: “Tu thân, Tề gia, Trị nhiều nhà bình luận cả Đông và Tây, những bài giảng
quốc, Bình iên hạ". Ông nhấn mạnh vào Ngũ thường: của Khổng Tử có thể được coi là một biến thể kiểu
“Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Nhân là lòng từ thiện, Trung Hoa của Chủ nghĩa nhân đạo.
Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay
quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ Có lẽ bài giảng nổi tiếng nhất của ông là y tắc vàng:
dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy
Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào
nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói. Người
có thể dẫn dắt hành xử trọn đời
ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối
không?"
loạn.
ầy đáp: “Có lẽ là chữ ứ
Những bài giảng của Khổng Tử sau này được các môn
(恕)chăng? Cái gì mà mình không
đồ của ông hệ thống thành một bộ văn bản tỉ mỉ về
muốn thì đừng làm cho người
những quy định và cách thức thực hiện nghi lễ. Nhiều
khác?"
thế kỷ sau khi ông đã qua đời, cả Mạnh Tử và Tuân
Luận Ngữ
Tử đều viết những cuốn sách quan trọng, và lúc ấy,

một triết lý đã được tạo dựng đầy đủ, gọi là Khổng
giáo. Sau hơn 1.500 năm, học giả Chu Hi đã diễn giải ý (Điều mình không muốn đừng bắt người phải chịu thì
tưởng Khổng giáo theo một cách hoàn toàn mới, được gọi là ứ 恕)
gọi là Tân Khổng giáo, để phân biệt với những ý tưởng Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã
trong cuốn Luận Ngữ. Tân Khổng giáo đã có ảnh hưởng đề xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt
sâu rộng ở Trung ốc, Triều Tiên, Việt Nam và nhiều chẽ, với những kiến giải sâu sắc. Có thể nói với hệ thống
nước châu Á khác cho tới tận thế kỷ 20.
phương pháp giáo dục này Khổng Tử xứng đáng là một
Tư Mã iên đã có lời bình về Khổng Tử:“Trong kinh nhà giáo dục lớn. Khổng Tử đã sử dụng nhiều phương
“i”có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao pháp dạy học rất độc đáo, có thể khái quát lại gồm:
khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo
khiến người ta tuân theo. Từ xưa tới nay trong thiên hạ,
ân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi
đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi
thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình

• Một là: Phương pháp đối thoại gợi mở, giảng dạy
bằng cách trao đổi giữa thầy và trò, giữa người
dạy và người học nhằm phát huy tính năng động,
sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người
học. Ông nói: “Kẻ nào chẳng phấn phát lên để


10

5

VINH DANH

hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được.

Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta
chẳng khai phát cho được. Kẻ nào đã biết rõ một
góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn
ba góc kia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa.”

đã giải thích điều đó tại một trong những đoạn quan
trọng nhất ở cuốn Luận Ngữ: “Dùng mệnh lệnh, pháp
luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý
dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng
người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo
đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa
• Hai là: Phương pháp kết hợp học đi đôi với hành, dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào
lời nói kết hợp với việc làm, là thực hành điều đã là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện
học và đem tri thức của mình vận dụng vào trong sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng.”
cuộc sống. Ông nói:“Người quân tử trước học văn (Tứ ư - Luận Ngữ, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân
chương (như Kinh i, Kinh ư) đặng mở rộng trí 2003) Sự“biết sỉ nhục”là sự mở rộng của trách nhiệm,
thức của mình; kế đó, người nương theo lễ giáo mà nơi mà hành động trừng phạt đi trước hành động xấu
kiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý. xa, chứ không phải đi sau nó như trong hình thức luật
- ân tử bác học ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ pháp của Pháp gia.
phất bạn hỹ phù".
Trong khi ủng hộ ý tưởng về một vị Hoàng đế đầy
• Ba là: Phương pháp "ôn cũ biết mới”, thường quyền lực, nguyên nhân là vì tình trạng hỗn loạn ở
xuyên rèn luyện, tu dưỡng và học tập. Ông thường Trung ốc thời Xuân u, các triết lý của Khổng Tử
nhắc rằng: “Người nào ôn lại những điều đã học, chứa đựng một số yếu tố hạn chế sự lạm quyền của
do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người đó có những nhà cai trị. eo ông người cầm quyền phải có
thể làm thầy thiên hạ đó - Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ đạo đức, đặt nhân nghĩa lên hàng đầu và đặt lợi ích của
vi sư hỹ". eo Khổng Tử, muốn tiến bộ người học dân chúng cao hơn lợi ích bản thân. Ông cho rằng lời lẽ
phải luôn cố gắng nỗ lực, siêng năng trau dồi tri phải luôn ngay thật; vì thế tính trung thực có tầm quan
thức cho mình, phải luôn có thái độ cầu tiến, vượt trọng hàng đầu. Sự thành thật có thể làm cảm động
lên. Người học nhất định phải có thái độ khách lòng người, quy tụ thiên hạ. Ông nói "Có lòng thành thật

quan trong học tập, không được vị kỷ tư dục, võ thì sẽ biểu hiện ra ngay. Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói.
đoán, cố chấp, tự phụ chủ quan - “Vô ý, vô tất, vô Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người* [58]". ậm
cố, vô ngã".
chí Khổng Tử còn ca ngợi người lãnh đạo biết nhường
quyền lực cho người tài đức hơn mình. Ông nói "ái
Khổng Tử đã đưa ra hệ thống các phương pháp giáo Bá là con người có đức hết mực. Nhiều lần ông ta đem
dục, phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân
người học. Những phương pháp đó đến nay vẫn có ý chúng biết mà ca ngợi công đức của mình* [59]".
nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khi bàn luận về mối quan hệ giữa thần dân và nhà vua
Trong quá trình giáo dục, Khổng Tử nhấn mạnh: cả
thầy và trò đều phải có nghĩa vụ to lớn với nhau. Trò
phải tôn kính thầy, dẫu sau này có thành đạt, quyền
cao chức trọng đến đâu chăng nữa cũng không được bỏ
rơi lễ nghĩa, vẫn luôn phải cung kính thầy. Ngược lại,
người thầy thì phải có tư cách mẫu mực để làm gương
cho trò. Người thầy có can trực, đạo đức, như thế mới
có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước.
Trong Lịch sử Việt Nam có chuyện kể rằng: Phạm Sư
Mạnh sau khi đỗ đạt, làm quan to ở triều, về thăm thầy
là Chu Văn An. Dọc đường qua khu chợ đang họp, ông
ra uy để lính thét dân phải dẹp đường. Biết chuyện, Chu
Văn An giận Phạm Sư Mạnh làm quan mà tỏ ra hách
dịch với dân, làm trái lời thầy dạy, nên không cho gặp
mặt. Dù đã là quan lớn triều đình, Phạm Sư Mạnh vẫn
phải quỳ gối cả buổi trước cửa nhà thầy để xin tha lỗi,
về sau cũng hành xử khiêm nhường không dám hách
dịch nữa.

(hay giữa con và cha), ông nhấn mạnh sự cần thiết phải
có sự tôn trọng của người dưới với người trên. Điều này

không có nghĩa là người dưới phải răm rắp tuân theo
mọi mệnh lệnh từ người trên như nhiều người hiện nay
suy diễn sai mà người dưới phải đưa ra lời khuyên cho
người trên nếu người trên có hành động sai lầm. Tư
tưởng này được học trò của ông là Mạnh Tử phát triển
thêm khi nói rằng nếu nhà vua không coi trọng nhân
dân và có những hành vi gây hại cho đất nước, ông ta sẽ
mất iên mệnh và sẽ phải bị lật đổ. Vì thế hành động
giết bạo chúa không bị coi là phản nghịch mà là đúng
đắn, bởi vì tư cách của kẻ bạo chúa giống một kẻ cướp
hơn là một vị vua. Ngược lại người trên cũng phải dùng
lễ nghĩa đối xử với người dưới nếu không sẽ bị xem là
vô đạo.

4.2

5.1 Bản quán

Chính trị

Tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tư tưởng đạo đức
của ông. Ông cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ
cai trị bằng “Lễ nghĩa” và đạo đức tự nhiên của con
người, chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc. Ông

5 Vinh danh

Ngay sau khi Khổng Tử mất, cố hương Khúc Phụ (曲
阜) trở thành nơi hành hương để người đời bày tỏ lòng
kính ngưỡng. Hiện đây vẫn là một địa điểm du lịch văn

hóa nổi tiếng, nhiều người Trung ốc thường xuyên


5.1

Bản quán

Tượng Khổng thánh tại Văn miếu Hà Nội, tạc vào năm
1729* [60].

11

Tượng Khổng thánh tại Vân Tuyền Tiên Quán, Hồng Kông.

viếng thăm mộ và những ngôi đền xung quanh. Tại
Trung ốc, có nhiều ngôi đền nơi Phật giáo, Lão giáo
và Khổng giáo cùng hiện diện. Cũng có nhiều ngôi đền
thờ riêng Khổng Tử, chúng thường là nơi tổ chức những
buổi lễ tưởng nhớ ông.
• Hoa lục
• tỉnh Vân Nam
• Côn Minh (1)
• Jianshui (1)
• Đài Loan (20+)
• Tỉnh Đài Bắc (5)
• Pescadores (1)
• Nhật Bản
• Yushima Seidō, Khu Bunkyo, Tokyo
Các triều đại phong tặng Khổng Tử các danh hiệu sau:
• Năm 739, vua Đường Huyền Tông phong tặng Đức

Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, tượng thờ ông
được mặc phẩm phục Hoàng đế, tặng cho các đệ
tử các tước: Công, Hầu, Bá.

Tượng Khổng thánh tại Yushima Seido, Tokyo.

• Năm 1008, vua Tống Chân Tông phong là: Đại
ánh Văn Tuyên Vương, phong cho cha Khổng


12

5

VINH DANH

Dù trong lịch sử Trung ốc luôn xảy ra những cuộc
thay đổi triều đại, danh hiệu Diễn ánh công luôn
được trao cho các thế hệ con cháu của Khổng Tử. Người
cuối cùng được phong tước hiệu này là Khổng Đức
ành* [61] (1919-2008), cháu đời thứ 77 của Khổng Tử.
Mãi cho đến năm 1935, chính phủ Trung Hoa Dân quốc
bãi bỏ tước vị này, nhưng vẫn chỉ định ông Khổng
Đức ành làm người trông coi việc cúng giỗ Khổng
Tử. a hơn 2.000 năm với hàng chục lần chiến tranh
loạn lạc hoặc thay đổi triều đại, hậu duệ của Khổng Tử
vẫn tiếp tục gìn giữ việc tế tự ông tại Khổng Phủ. Trải
qua nhiều thời đại, các thành viên họ Khổng thường có
quan hệ hôn nhân với một số gia đình chính trị có ảnh
hưởng ở Trung ốc. Hoàng đế Càn Long đã cưới một

người cháu gái của Khổng Hiến Bồi, cháu đời thứ 72
của Khổng Tử, khiến họ Ái Tân Giác La và họ Khổng
có quan hệ với nhau. Một người cháu khác là Khổng
Tường Hy, cháu đời thứ 75, từng giữ chức Viện trưởng
Hành chính, kiêm Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ
Tưởng Giới ạch, lập gia đình với Tống Ái Linh, trở
thành anh em cột chèo với cả hai vị tổng thống của
Trung Hoa Dân quốc là Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới
ạch.
Dòng chính thống của ông đã rời quê hương Khúc Phụ
tới Đài Loan trong thời Nội chiến Trung ốc. Người
trưởng tộc là Khổng Đức ành, một giáo sư tại Đại
học ốc lập Đài Loan. Ông từng phục vụ cho chính
Tượng Khổng thánh tại Québec.
phủ Trung Hoa Dân quốc với tư cách Chủ tịch Khảo
thí viện. Ông cưới Tôn Kỳ Phương, chắt của một vị học
giả,
quan chức nhà anh và cũng là chủ tịch đầu tiên
Tử là Lỗ Công, mẹ là Lỗ Phu Nhân, vợ là Bà
của
Đại
học Bắc Kinh Tôn Gia Nại, gia đình ông này đã
ượng an ị làm Vân Phu Nhân, và ra lệnh
lập
ra
tổ
hợp kinh doanh đầu tiên ở Trung ốc hiện
cho các tỉnh lập miếu thờ ông.
đại ngày nay, gồm nhà máy bột mì lớn nhất Châu Á,
• Năm 1560, vua Minh ế Tông phong tặng ông là Công ty Bột mì Fou Foong. Con trai trưởng của ông

Chí ánh Tiên Sư.
là Khổng Duy Ích, cháu đời thứ 78 của Khổng Tử đã
qua đời vào năm 1989. Cháu nội của ông, Khổng ụy
• Năm 1645, vua anh ế Tổ phong ông là Đại
Trường, sinh năm 1975, là cháu đời thứ 79. Năm 2008,
ành Chí ánh Văn Tuyên Vương ánh Sư
Khổng Đức ành qua đời ở tuổi 90, nhưng cũng đã
Khổng Phu Tử.
kịp chứng kiến sự ra đời của người cháu đời thứ 80 của
Khổng Tử, Khổng Hựu Nhân, được sinh hạ vào ngày 1
tháng 1 năm 2006 tại Đài Bắc. Hiện tại, ông Khổng ụy
5.2 Hậu duệ
Trường giữ chức vụ danh dự "Đại thành chí thánh tiên
Mọi nhân vật có tư cách hậu duệ chính thống của sư phụng tự quan”(大成至圣先师奉祀官) của chính
Khổng tử luôn được thiên hạ tôn kính, các chính thể phủ Đài Loan, chịu trách nhiệm tế tự cho Khổng Tử.
quân chủ thường liệt họ vào hàng quý tộc và ban thực Trước sự quan tâm lớn về dòng dõi của Khổng Tử, một
ấp cũng như quan tước tùy khả năng. Sơ khởi, Hán dự án được tiến hành ở Trung ốc để kiểm tra ADN
Cao tổ đã phong cho cháu đời thứ 9 của Khổng Tử là của các thành viên gia đình đã được biết.* [62] eo
Khổng Đằng chức“Phụng Tự quân”, trông coi việc tế đó, cho phép các nhà khoa học xác định nhiễm sắc
giỗ Khổng Tử. Đến đời Hán Nguyên đế đã phong cho thể Y chung của các thế hệ con cháu theo dòng nam
Khổng Bá, cháu đời thứ 13 tước “Bao ành hầu”. của Khổng Tử. Nếu thế hệ con cháu được tiếp nối liên
Họ Khổng được phong tước Hầu cả thảy 35 lần kể từ tục, cha truyền cho con, những thành viên nam của
thời nhà Hán. Đến thời Đường, Đường Huyền Tông đã gia đình sẽ có các nhiễm sắc thể Y giống nhau với đột
phong tước “Văn Tuyên công”cho Khổng Chi, cháu biến nhỏ xảy ra theo thời gian.* [63] Tuy nhiên, năm
đời thứ 35. Đến năm 1055, hoàng đế Tống Chân Tông 2009, những thành viên gia đình đã quyết định không
cải phong thành tước “Diễn ánh công”(衍聖公 - tiến hành kiểm tra ADN.* [64] Bryan Sykes, giáo sư di
Yǎnshèng gōng) cho Khổng ánh Hữu, cháu đời thứ truyền học của Đại học Oxford, giải thích quyết định
46. Tính tổng cộng, họ Khổng tiếp tục được gia phong này: “Dòng dõi gia đình Khổng Tử có một dấu ấn văn
tước Công 42 lần từ đời Nhà Đường tới thời Nhà anh.



13
hóa quan trọng… Đây không chỉ là vấn đề về mặt khoa
học.”* [65] Cuộc kiểm tra ADN dự định bổ sung những
thành viên mới vào dòng dõi gia đình Khổng Tử, mà
những bản gia phả đã thiếu sót vì những biến động
trong thế kỷ XX* [66]* [67].

• Confucius (2003). Confucius: Analects —With
Selections from Traditional Commentaries.
Translated by E. Slingerland. Indianapolis:
Hacke Publishing. (Original work published c.
551–479 BC) ISBN 0-87220-635-1.

5.3

• Creel, Herrlee Glessner (1949). Confucius and the
Chinese Way. New York: Harper.

Môn đồ

• Creel, Herrlee Glessner (1953). Chinese ought
from Confucius to Mao Tse-tung. Chicago:
University of Chicago Press.
Môn đồ và là người cháu duy nhất của ông, Tử Tư, tiếp
tục duy trì trường phái triết học Khổng Tử sau khi ông
qua đời. Trong khi vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống đức
trị của Khổng Tử, hai trong số những môn đồ nổi tiếng
nhất của ông nhấn mạnh trên những khía cạnh khác
biệt trong giáo lý của ông. Mạnh Tử tin vào tính thiện

vốn có của con người, trong khi Tuân Tử đề cao sự thực
tế và những khía cạnh vật chất trong tư tưởng Khổng
Tử.
Ở thời Nhà Tống, học giả Chu Hi đã thêm các ý tưởng
từ Đạo giáo và Phật giáo vào Khổng giáo. Trong suốt
cuộc đời mình, Chu Hi không được mọi người biết tới,
nhưng không lâu sau khi ông mất, những ý tưởng đó
trở thành một quan điểm chính thống mới về những ý
nghĩa thực sự của tư tưởng Khổng Tử. Các nhà sử học
hiện đại coi Chu Hi là người đã tạo ra một thứ gì đó
khác biệt và gọi tư tưởng của ông là Tân Khổng giáo.
Ở thời hiện đại, vẫn có một số học giả nghiên cứu Nho
giáo nhưng trong thời Cách mạng Văn hoá, Khổng giáo
thường bị những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung
ốc lên án.

6

Xem thêm
• Văn miếu
• Khổng ánh miếu
• Khổng tử gia ngữ
• Học viện Khổng Tử
• Phê Lâm phê Khổng vận động

7

Tham khảo
• Clements, Jonathan (2008). Confucius: A
Biography. Stroud, Gloucestershire, England:

Suon Publishing. ISBN 978-0-7509-4775-6.
• Confucius (1997). Lun yu, (in English e Analects
of Confucius). Translation and notes by Simon
Leys. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-040194.

• Csikszentmihalyi, M. (2005). “Confucianism: An
Overview”. In Encyclopedia of Religion (Vol. C, pp
1890–1905). Detroit: MacMillan Reference USA.
• Dawson, Raymond (1982). Confucius. Oxford:
Oxford University Press. ISBN 0192875361.
• Dollinger, Marc J. (1996). “Confucian Ethics
and Japanese Management Practices,”in Sterling
Harwood, ed., Business as Ethical and Business as
Usual Boston: Jones & Bartle.
• Fingaree, Hebert (1998). Confucius: the secular
as sacred. Long Grove, Ill.: Waveland Press. ISBN
1577660102.
• Mengzi (2006). Mengzi. Translation by B.W. Van
Norden. In Philip J. Ivanhoe & B.W. Van Norden,
Readings in Classical Chinese Philosophy. 2nd ed.
Indianapolis: Hacke Publishing. ISBN 0-87220780-3.
• Ssu-ma Ch'ien (1974). Records of the Historian.
Yang Hsien-yi and Gladys Yang, trans. Hong
Kong: Commercial Press.
• Van Norden, B.W., ed. (2001). Confucius and
the Analects: New Essays. New York: Oxford
University Press. ISBN 0-19-513396-X.
• Vidal, Gore (1981). Creation. New York: Random
House. ISBN 0-394-50015-6.
• Khổng miếu, mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ

Khổng được đưa vào danh sách di sản thế giới của
UNESCO

8 Chú thích
[1] “Confucius (Stanford Encyclopedia of Philosophy)”.
Plato.stanford.edu. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
[2] Ban 111, vol.56 (Chinese language only)
[3] Gao 2003
[4] Chen 2003
[5] e Analects 479 BC - 221 BC, VII.1


14
[6] Kang 1958
[7] Đức Khổng tử

8

CHÚ THÍCH

[31] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 307-310

[8] Chien 1978

[32] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 313

[9] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 284


[33] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 310-312

[10] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 219

[34] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 313-314

[11] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 283

[35] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 250

[12] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 112-113

[36] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 254

[13] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 237

[37] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 287

[14] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 291


[38] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 281

[15] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 320

[39] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 253

[16] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 210

[40] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 274

[17] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 288

[41] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 305-306

[18] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 383

[42] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 147

[19] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 286


[43] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 401

[20] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 258

[44] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 202

[21] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 242

[45] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 374

[22] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 280

[46] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 338

[23] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 233

[47] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 231

[24] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 247


[48] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 292

[25] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 239

[49] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 232-233

[26] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 285

[50] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 234

[27] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 243

[51] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 90

[28] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 279

[52] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 204

[29] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 245


[53] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 244

[30] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 323

[54] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 255


15
[55] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 235
[56] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 248
[57] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 251-252
[58] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 81-82
[59] Tứ thư, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003,
trang 259
[60] yền tri phủ uận An Nguyễn Kim Hoa (người xã Bá
ủy, huyện Gia Phúc) tạo tượng Tiên thánh, đề ngày 8
tháng 8 năm Vĩnh Khánh thứ nhất (1729)
[61] Khổng Đức ành và bài diễn thuyết tại Đại học Văn
khoa Sài Gòn ngày 4 tháng 10 năm 1958
[62] “DNA test to clear up Confucius confusion”.
Ye2.mofcom.gov.cn. Ngày 18 tháng 6 năm 2006. Truy
cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.

[63] “DNA Testing Adopted to Identify Confucius
Descendants”. China.org.cn. Ngày 19 tháng 6 năm
2006. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
[64] Jane Qiu (ngày 13 tháng 8 năm 2008). “Inheriting
Confucius”. Seedmagazine.com. Truy cập ngày 7 tháng
11 năm 2010.
[65] Qiu 2008, online.
[66] “Confucius descendents say DNA testing plan lacks
wisdom”. Eng.bandao.cn. Ngày 21 tháng 8 năm 2007.
Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
[67] www.stat.yale.edu Common Ancestors Article

9

Liên kết ngoài
• Tư Mã iên, Sử ký, “Khổng Tử thế gia”, (phần
tiếp theo)
• Khổng miếu, mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ
Khổng được đưa vào danh sách di sản thế giới của
UNESCO.
• Khổng Tử, Lê Anh Minh lược dịch từ H.G. Creel,
Chinese ought from Confucius to Mao TsêTung (Tư Tưởng Trung ốc từ Khổng Tử đến
Mao Trạch Đông), A Mentor Book, New York,
1964, p. 29-44.


16

10 NGUỒN, NGƯỜI ĐÓNG GÓP, VÀ GIẤY PHÉP CHO VĂN BẢN VÀ HÌNH ẢNH


10
10.1

Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh
Văn bản

• Khổng Tử Nguồn: Người đóng góp: Mxn, DHN,
Robbot, Mekong Bluesman, Vương Ngân Hà, Phan Ba, Trung, Avia, Zatrach, Chobot, ái Nhi, VLVN Cup, Vinhtantran, VietLong,
Newone, Annonymous, DHN-bot, Trungda, Tuấn Nghĩa, NTT, Nad 9x, Escarbot, JAnDbot, ijs!bot, Minhbu, CommonsDelinker,
Freelance, Zhaladshar, Rungbachduong, VolkovBot, TXiKiBoT, Lương Hoàng Hưng, Synthebot, Chihuong bk, Giang Hoài Ngọc,
BotMultichill, Saruman, AlleborgoBot, SieBot, TVT-bot, Ehonobe~viwiki, PipepBot, Loveless, DragonBot, Idioma-bot, Qbot, Lord
Voldermort, OKBot, Alexbot, Ti2008, MelancholieBot, Y Kpia Mlo, WikiDreamer Bot, CarsracBot, MF6, Vuhoangsonhn, Nallimbot,
Klfalv, Pq, Eternal Dragon, Grenouille vert, HerculeBot, Kenny htv, ArthurBot, Porcupine, Rubinbot, Xqbot, GhalyBot, angbao,
Obersachsebot, TobeBot, Cướp biển Vịnh Hà Tiên, Trần Nguyễn Minh Huy, KamikazeBot, Maassi, Atomic King, MastiBot, TjBot, Phá
phách, Tnt1984, TuHan-Bot, EmausBot, Tinhngogia, Yduocizm, DSisyphBot, CNBH, Cheers!, WikitanvirBot, Movses-bot, Cheers!-bot,
I Love Triệu Đà, TRMC, MerlIwBot, AvicBot, AvocatoBot, PhuongViet, TuanUt, JYBot, Alphama, AlphamaBot, Hugopako, TT 1234,
Addbot, OctraBot, Arc Warden, itxongkhoiAWB, Hophudat, Tuanminh01, Louis Anderson, TuanminhBot, andieu123, Hunho,
Likemass, Holoco, Tomorono, Yeuem123, Rotoren, Holocat, Condomvn, aiduong123, Derf45, Froten, Nampluss, Lumerita, Frendit,
Giangve, Dinhcao, Xixaxixup, Flying Lights, 渭水生, Nam Hương Tử, Vân Tiên, Kosombo, Trantrongnhan100YHbot, Huỳnh Nhânthập, Hancaoto, Typue và 62 người vô danh

10.2

Hình ảnh

• Tập_tin:027_Văn_Miếu_-Temple_of_literature_-_Buddha_C.JPG Nguồn: />027_V%C4%83n_Mi%E1%BA%BFu_-Temple_of_literature_-_Buddha_C.JPG Giấy phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do
chính người tải lên tạo ra (Own photo) Nghệ sĩ đầu tiên: Anneli Salo
• Tập_tin:1000_bài_cơ_bản.svg Nguồn: />BA%A3n.svg Giấy phép: CC-BY-SA-3.0 Người đóng góp: File:Wikipedia-logo-v2.svg Nghệ sĩ đầu tiên: is file: Prenn
• Tập_tin:Commons-logo.svg Nguồn: Giấy phép: Public
domain Người đóng góp: is version created by Pumbaa, using a proper partial circle and SVG geometry features. (Former versions
used to be slightly warped.) Nghệ sĩ đầu tiên: SVG version was created by User:Grunt and cleaned up by 3247, based on the earlier

PNG version, created by Reidab.
• Tập_tin:Confucius_Statue_at_the_Yushima_Seido.JPG Nguồn: />Statue_at_the_Yushima_Seido.JPG Giấy phép: Public domain Người đóng góp: I took this photo Nghệ sĩ đầu tiên: Abasaa
• Tập_tin:Confucius_Tang_Dynasty.jpg Nguồn: />jpg Giấy phép: Public domain Người đóng góp: ? Nghệ sĩ đầu tiên: ?
• Tập_tin:Confuciustombqufu.jpg Nguồn: Giấy phép:
CC-BY-SA-3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên: Rolf Müller (User:Rolfmueller)
• Tập_tin:The_dragon,_image,_and_demon;_or,_The_three_religions_of_China-_Confucianism,_Buddhism,_and_Taoism,
_giving_an_account_of_the_mythology,_idolatry,_and_demonolatry_of_the_Chinese_(1887)_(14597245430).jpg
Nguồn:
/>religions_of_China-_Confucianism%2C_Buddhism%2C_and_Taoism%2C_giving_an_account_of_the_mythology%2C_idolatry%
2C_and_demonolatry_of_the_Chinese_%281887%29_%2814597245430%29.jpg Giấy phép: No restrictions Người đóng góp:
Nghệ sĩ đầu tiên: Internet Archive Book Images
• Tập_tin:The_dragon,_image,_and_demon;_or,_The_three_religions_of_China-_Confucianism,_Buddhism,_and_Taoism,
_giving_an_account_of_the_mythology,_idolatry,_and_demonolatry_of_the_Chinese_(1887)_(14597438437).jpg
Nguồn:
/>religions_of_China-_Confucianism%2C_Buddhism%2C_and_Taoism%2C_giving_an_account_of_the_mythology%2C_idolatry%
2C_and_demonolatry_of_the_Chinese_%281887%29_%2814597438437%29.jpg Giấy phép: No restrictions Người đóng góp:
Nghệ sĩ đầu tiên: Internet Archive Book Images
• Tập_tin:The_dragon,_image,_and_demon;_or,_The_three_religions_of_China-_Confucianism,_Buddhism,_and_Taoism,
_giving_an_account_of_the_mythology,_idolatry,_and_demonolatry_of_the_Chinese_(1887)_(14780807461).jpg
Nguồn:
/>religions_of_China-_Confucianism%2C_Buddhism%2C_and_Taoism%2C_giving_an_account_of_the_mythology%2C_idolatry%
2C_and_demonolatry_of_the_Chinese_%281887%29_%2814780807461%29.jpg Giấy phép: No restrictions Người đóng góp:
Nghệ sĩ đầu tiên: Internet Archive Book Images
• Tập_tin:WPQc-133_Confucius.JPG Nguồn: Giấy
phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên: Malimage
• Tập_tin:Wikibooks-logo-en-noslogan.svg
Nguồn:
/>Wikibooks-logo-en-noslogan.svg Giấy phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ
đầu tiên: User:Bastique, User:Ramac et al.
• Tập_tin:Wikiquote-logo.svg Nguồn: Giấy phép: Public

domain Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên: Rei-artur
• Tập_tin:Wikisource-logo.svg Nguồn: Giấy phép: CC
BY-SA 3.0 Người đóng góp: Rei-artur Nghệ sĩ đầu tiên: Nicholas Moreau
• Tập_tin:Wun_Chuen_Sin_Kwoon,_Confucius_statue_(Hong_Kong).jpg Nguồn: />3/36/Wun_Chuen_Sin_Kwoon%2C_Confucius_statue_%28Hong_Kong%29.jpg Giấy phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do
chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên: Mk2010


10.3

10.3

Giấy phép nội dung

Giấy phép nội dung

• Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

17



×