Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.5 KB, 25 trang )

TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1.TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ ÁN
1826
1.1 Khái Niệm
Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn
riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy Ban Chứng
Khoán (UBCK) Nhà nước cấp.
Công ty chứng khoán có các chức năng của người môi giới, người chuyên viên và người bảo
lãnh chứng khoán. Để trở thành thành viên của Sở giao dịch, Công ty chứng khoán cũng phải hội
đủ những điều kiện do luật định và phải đăng ký kinh doanh chứng khoán trong Sở giao dịch
chứng khoán.
1.2 Điều Kiện Thành Lập Công Ty Chứng Khoán.
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 210/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạt động công
ty chứng khoán. Thông tư gồm 9 chương, 71 điều, có hiêu lực kể từ ngày 15/1/2013 trong đó quy
định khá chặt chẽ các điều kiện để được cấp phép thành lập và hoạt độngcông ty chứng khoán.
Cụ thể:
-

Công ty chứng khoán có trụ sở làm việc, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh doanh chứng
khoán theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sau khi được Bộ Tài chính chấp
thuận.

-

Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ là vốn thực góp, tối thiểu bằng mức vốn pháp định
theo quy định của pháp luật.

-

Công ty chứng khoán phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định


được quy định cụ thể cho từng loại hoạt động. Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hoạt


động thì yêu cầu về vốn càng nhiều. Mức vốn quy định cho hoạt động môi giới, tư vấn
thường không nhiều, trong khi đó hoạt động tự doanh hay bảo lãnh phát hành đòi hỏi mức
vốn pháp định tương đối cao.
-

Vốn pháp định theo Nghị định 14/2007/NĐ-CPcho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty
chứng khoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng
khoán nước ngoài tại Việt Nam là:
 Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
 Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
 Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
 Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam

-

Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các quy định như phải có
kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất ba năm và
có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu ba năm và phải có Chứng chỉ hành nghề phân tích
tài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ.

-

Có tối thiểu ba người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp
phép hoạt động.

-


Cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu công ty chứng khoán:
 Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn từ hai thành viên trở lên phải có tối thiểu hai cổ đông sáng lập, thành viên sáng
lập là tổ chức. Trong đó phải có ít nhất một tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài.
 Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, chủ sở hữu phải là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm.
 Tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ
chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh


nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ của công ty
chứng khoán.
 Cổ đông, thành viên sở hữu từ 10% trở lên vốn cổ phần hoặc phần vốn góp của một công
ty chứng khoán và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó không được
góp vốn trên 5% số cổ phần hoặc phần vốn góp của một công ty chứng khoán khác.
 Công ty chứng khoán thành lập và hoạt động tại Việt Nam không được góp vốn thành lập
công ty chứng khoán khác tại Việt Nam.

1.3 Mô Hình Hoạt Động Của Công Ty Chứng Khoán
Trên thế giới hiện nay có 2 loại mô hình hoạt động của công ty chứng khoán:
Công ty chuyên doanh chứng khoán:
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên
môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân hàng không được trực tiếp tham gia
kinh doanh chứng khoán.Ưu điểm của mô hình này:Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo
điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn.Mô hình này được áp dụng ở
nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh
doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể

đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh
doanh chung, khả năng chịu đựng các biến động của TTCK là cao. Mặt khác, ngân hàng tận
dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán; khách hàng có thể sử dụng được nhiều
dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng.
Tuy nhiên, mô hinh này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường cổ
phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo
lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, theo mô hình này, nếu có biến động trên TTCK sẽ


ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng
hoảng tài chính.
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là nhỏ bé, và đặc biệt vốn dài
hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tính
dụng thương mại ngắn hạn, trong hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn. Khả năng
khắc phục những điểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài. Do đó, để bảo vệ an
toàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quy định các Ngân hàng
thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập
một Công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng.
1.4 Nguyên Tắc Hoạt Động Của Công Ty Chứng Khoán
Công ty chứng khoán hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang
tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
1.4.1Nhóm Nguyên Tắc Đạo Đức:
Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng:
-

Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm

-

Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.


-

Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản khách
hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan
quản lý nhà nước.

-

Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho
khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng
thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn.

-

Công ty chứng khoán không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù
lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình.


-

Ở nhiều nước, các công ty chứng khoán phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng
khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường công ty chứng khoán mất khả năng thanh
toán.

-

Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các công ty chứng khoán không được phép sử
dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích
của khách hàng.


-

Các công ty chứng khoán không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và
công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác
gây thiệt hại cho khách hàng.

1.4.2 Nhóm Nguyên Tắc Tài Chính:
-

Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của
UBCK nhà nước. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách
hàng.

-

Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh
doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng.

-

Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của
mình. Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp
để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.

1.5 Vai Trò Và Chức Năng Của Công Ty Chứng Khoán
Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môi giới trung gian, đó là
các công ty chứng khoán - một định chế tài chính trên thị trường chứng khoán, có nghiệp vụ
chuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trung
gian môi giới mua - bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả

người đầu tư lẫn tổ chức phát hành.


Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được
lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn
từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả.
Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán:
-

Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn
(thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành).

-

Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh).

-

Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt, và
ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng).

-

Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạo
lập thị trường).

Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác
nhau trên thị trường chứng khoán.
Đối với các tổ chức phát hành.

Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành là huy động
vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành,
bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các
nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung
gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán
trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các công ty chứng khoán sẽ
thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc
này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường
chứng khoán.
Đối với các nhà đầu tư.


Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công ty
chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các
khoản đầu tư.
Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người
mua và người bán. Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của
giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí,
công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các công
ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực
hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
Đối với thị trường chứng khoán.
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết
định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các công
ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các công ty chứng
khoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường
thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành
đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham
gia định giá của các công ty chứng khoán.

Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường.
Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty
chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Thị trường chứng khoán có
vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các công ty
chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch
trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng
khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất
kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được
đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2.
Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực
hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng


khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của
những tài sản tài chính.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường.
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ
quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được vai
trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian
mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của
thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ
quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là
nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh
bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm
thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu. Trái phiếu và tổ
chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư v.v. . .nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị
trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai
trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý

thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung. Những vai trò này được thể hiện thông
qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán
1.6 ĐỀ ÁN 1826
Sau hơn 12 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã đạt được
những thành tựu quan trọng, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn của nền kinh tế, thúc đẩy quá
trình cổ phần hóa (CPH) các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thu hút đầu tư nước ngoài và từng
bước xã hội hóa hoạt động đầu tư của công chúng. Tuy nhiên, là một thị trường mới hình thành,
lại chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 và
những khó khăn của nền kinh tế trong nước, TTCK Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều khiếm
khuyết.
Từ đầu năm 2012, Chính phủ đã có những động thái tích cực trong việc điều hành chính sách
kinh tế vĩ mô và từng bước tái cấu trúc TTCK. Ngày 06/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký


Quyết định số 1826/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh
nghiệp bảo hiểm”.
Theo đề án 1826 về việc tái cấu trúc thị trường chứng khoán thì việc tái cấu trúc lại các tổ
chức kinh doanh chứng khoán là một trong những trọng tâm rất quan trọng trong đề án này.Một
trong những mục tiêu của đề án là cơ cấu lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù
hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thị trường; củng cố hoạt động, nâng cao
năng lực tài chính, quản trị công ty, quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế. Việc
tái cấu trúc sẽ dựa trên một số quan điểm sau:
-

Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật và trên
cơ sở tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu hệ thống tài chính
ngân hàng, nền kinh tế và điều kiện thực tế ở nước ta.

-


Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán một cách đồng bộ, toàn diện

-

Tái cấu trúc tổ chức công ty kinh doanh chứng khoán theo lộ trình cụ thể, thận trọng,
chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường, bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư, khách hàng và sự an toàn của cả hệ thống; tiết giảm chi phí xã hội.

-

Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán chu theo nguyên tắc thị trường trên
cơ sở doanh nghiệp tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực
hiện vai trò quản lý, giám sát, không làm thay doanh nghiệp.

2. THỰC TRẠNG CỦA CÁC CÔNG TY KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
2.1 Số Lượng Và Quy Mô Hoạt Động Của Các Công Ty Chứng Khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 07/2000,
để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, nhiều CTCK đã được thành lập. Trong thời gian
đầu, số lượng và quy mô của cácCTCK còn hết sức khiêm tốn (3 công ty),nhưng đến các năm
2005-2006 và cho đến đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán ViệtNam phát triển mạnh, tốc
độ cổ phần hóa được đẩy nhanh, chính sách tiền tệ nới lỏng, hoạt động cho vay đầu tư chứng
khoán của các NHTM không bị kiểm soát chặt chẽ… thì CTCK cũng phát triển, số lượng công
ty tăng nhanh đạt 105 công ty, nghiệp vụ đa dạng, quy mô vốn và nguồn nhân lực phát triển,
kinh doanh có lãi lớn. Song kể từ đầu năm 2009 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam điều


chỉnh mạnh, hầu như không có CTCK nào được thành lập mới. Con số 105 CTCK hiện nay
được xem là quá nhiều so với quy mô, nhu cầu của TTCK Việt Nam. Điều này có thể nhận thấy
rõ ràng nếu so sánh với một số TTCK khác trong khu vực. Tổng số tài khoản cá nhân trên
TTCK VN chỉ ở mức khoảng 0,7% dân số hiện tại trong khi Trung Quốc có khoảng trên 100

triệu tài khoản, tương đương với khoảng 8% dân số, nhưng số lượng CTCK cũng chỉ bằng Việt
Nam; thị trường chứng khoán Thái Lan với quy mô khoảng 100 tỷ USD, giá trị giao dịch bình
quân/phiên khoảng 400 triệu USD nhưng chỉ có gần 40 CTCK; Singapore chỉ có 26 CTCK,
Malaysia có 33 CTCK…
Số lượng lớn CTCK Việt Nam đang hoạt động nhỏ lẻ cho thấy sự phát triển thiếu chuyên
nghiệp và chưa có định hướng dài hạn. Theo thống kê, hiện có hơn 105 CTCK đang hoạt động
nhưng nắm thị phần chi phối thị trường chỉ khoảng 20 CTCK, các CTCK còn lại chỉ hoạt động
không hơn một quỹ đầu tư. Thị trường chứng khoán có tổng vốn hóa khá lớn (khoảng hơn 40 tỷ
USD tính tới cuối quý II/2013) nhưng giao dịch cổ phiếu hàng ngày trên mỗi sàn lại rất thấp chỉ
vài trăm tỷ đồng, tương đương vài chục triệu USD. Do đó, 105 CTCK là quá nhiều. Trong đó,
chỉ 10 công ty dẫn đầu đã nắm 60-70% thị phần. Phần còn lại là quá ít, không đủ giúp các
CTCK ở tốp dưới duy trì hoạt động
Mặc dù số lượng CTCK nhiều nhưng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch chưa
rộng khắp, chủ yếu vẫn chỉ tập trung ở những tỉnh, thành phố có kinh tế phát triển. Đặc biệt,
theo thống kê từ đầu năm 2010 đến nay, có tới 54 chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) của hơn 30
CTCK đã đóng cửa, trong khi chỉ có 28 chi nhánh, PGD của 20 CTCK được mở mới. Dẫn đầu
là CTCK ThăngLong (TLS) khi đóng cửa tới 6PGD và chuyển trụ sở chính, tiếp theo là WSS
với việc đóng cửa 5 chi nhánh, PGD.
2.2 Năng Lực Tài Chính
Theo quy định hiện hành,CTCK phải có vốn điều lệ tối thiểu 300 tỷ đồng nếu muốn có
đủ 4 nghiệp vụ kinh doanh là môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng
khoán. Tuy nhiên, số lượng CTCK có quy mô nguồn vốn chủ sở hữu dưới 300 tỷ đồng (tương
đương khoảng 15 triệu USD) chiếm khoảng 65% số lượng CTCK trên thị trường. Đặc biệt, số
lượng CTCK có vốn điều lệ dưới 50 tỷ đồng ( tương đương dưới 2,5 triệu USD) có xu hướng
gia tăng qua các năm. Thậm chí, một số CTCK đã xin rút giấy phép hoạt động một số nghiệpvụ
nhằm giảm áp lực vốn điều lệ theo quy định.


Theo báo cáo vốn khả dụng cuối quý 2 năm 2013 của các CTCK cho thấy: Nhiều CTCK
đạt tỷ lệ an toàn vốn khả dụng trên 250%, thậm chí, có công ty đạt hơn 300% điều này cho thấy

các công ty chứng khoán đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính của mình.
NHÓM CTCK CÓ TỶ LỆ VỐN KHẢ DỤNG CAO TẠI THỜI ĐIỂM 30/6/2013
Giá trị rủi ro
Tên công ty

Vốn khả dụng (tỷ đồng) (tỷ đồng)

Tỷ lệ an toàn (%)

Việt

351

71,83

489%

CTCK Sen Vàng

48,43

31,47

154%

CTCK Rồng Việt

222,7

85,8


260%

CTCK Đại Nam

50,76

17,18

295%

CTCK Hòa Bình

159,9

61,68

259%

896

292

307%

CTCK

MORGAN

STANLEY


CTCK

Ngân

Công thương

Hướng

hàng
(Nguồn: Báo cáo của các công ty chứng khoán)

Theo UBCKNN, tính đến hết tháng 6/2013, tổng vốn điều lệ của các CTCK trên thị
trường là 36.577 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu khoảng 37.000 tỷ đồng, khoảng 40% số CTCK có
lãi.Dù có những CTCK mất vốn, hay âm vốn chủ sở hữu, nhưng nhìn tổng thể, sức khỏe các
CTCK lớn vẫn khá tốt, đảm bảo hoạt động giao dịch, thanh toán, đồng thời nâng cao chất lượng
dịch vụ chứng khoán, góp phần tăng sức cầu cho thị trường. Bên cạnh đó, trên thị trường đang có
xu hướng phân loại rõ ràng hơn giữa các nhóm CTCK… Điều này cho thấy hoạt động giám sát
các CTCK đã có những kết quả nhất định về chất lượng, dự báo trong thời gian tới sẽ có sự giảm
mạnh về số lượng các CTCK.
Gần đây, Ủy ban Chứng khoán đã công bố danh sách 6 công ty chứng khoán bị đặt vào


tình trạng kiểm soát đặc biệt từ ngày 23/4/2012. Sáu công ty này bao gồm: Công ty Cổ phần
Chứng khoán Cao Su, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vina, Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà
Nội, Công ty Cổ phần Chứng khoán Trường Sơn, Công ty Cổ phần Chứng khoán Đà Nẵng và
Công ty Cổ phần Chứng khoán Mê Kông. Nguyên do, các công ty này có tỷ lệ vốn khả
dụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120%, bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt theo quy định tại
Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chínhquy định về điều kiện hoạt
động của CTCK. Nếu các CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng thấp hơn 150% sẽ bị đưa vào diện kiểm

soát đặc biệt và sau 6 tháng nếu không thay đổi được sẽ bị thu hồi giấy phép.
Dựa trên chỉ số an toàn tài chính và vi phạm của các CTCK, UBCKNN đã ban hành
quyết định chấm dứt mọi hoạt động kinh doanh để thực hiện thủ tục thu hồi giấy phép thành lập
và hoạt động với 3 CTCK, tạm dừng hoạt động 2 CTCK. Ngoài ra, có 2 CTCK nộp hồ sơ xin
giải thể. Nếu theo đúng lịch trình đến tháng 10-2013 đến cuối năm sẽ có thêm ít nhất 4 CTCK
nữa rơi vào hoàn cảnh tương tự. Từ nay đến lúc đó sẽ có thêm hàng chục CTCK rơi vào diện
kiểm soát đặc biệt để vào danh sách dự khuyết thu hồi giấy phép sang năm
2.3 Kết Quả Hoạt Động:
Năm 2007,doanh thu và lợi nhuận sau thuế tính chung của khối công ty chứng khoán
tăng vọt. Năm2008, con số này đột ngột chuyển sang lỗ 1.000 tỷ đồng. Năm 2009, TTCK tăng
trưởng trở lại góp phần đưa mức lãi của các CTCK tăng lên 3.000 tỷ đồng. Năm2010, chỉ còn
1.800 tỷ đồng và năm2011 mức lỗ tính chung là khoảng 2.000 tỷ đồng. Kết quả kinh doanh nói
chung của các CTCK trong năm 2012 được cải thiện so với năm 2011 lãi khoảng 2.100 tỷ đồng.
Kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2013 tại các công ty chứng khoán tuy không bằng cùng
kỳ, nhưng thể hiện sự ổn định. Hết quý 1, tổng lợi nhuận của các công ty chứng khoán là gần
520 tỉ đồng. Sang quý 2, con số này là 452 tỉ đồng.Lợi nhuận công ty chứng khoán chủ yếu đến
từ hai nguồn là lãi tiền gửi và cho vay ký quỹ (margin). Tuy nhiên, năm nay lãi suất tiền gửi lại
giảm rất mạnh, chưa kể với sóng chứng khoán như thời gian qua, các nhà đầu tư vay margin
cũng không nhiều nên cũng khó kéo được lợi nhuận lên như quý I/2012 cho các công ty. Ngay
cả công ty chứng khoán thuộc top 10 thị phần, doanh thu môi giới cũng chỉ có thể trang trải
khoảng 70% chi phí hoạt động doanh nghiệp. Đối với các đơn vị cỡ vừa và nhỏ, khách hàng
hiện nay lại có xu thế rời bỏ để tìm đến các doanh nghệp lớn mạnh, có tên tuổi và thị phần ổn
định. Trong 81 công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh quý 2/2013 vừa rồi, 31 công


ty báo lỗ với tổng giá trị lỗ là 107 tỉ đồng. Với khoản lỗ 26 tỉ đồng, Công ty Chứng khoán MHB
là công ty lỗ nặng nhất quý vừa rồi sau khi bán khoản tự doanh OTC khiến chi phí đầu tư chứng
khoán bị đẩy lên 43,8 tỉ đồng. Sau khi bị hủy niêm yết bắt buộc, Công ty Chứng khoán
Sacombank tiếp tục lỗ 18 tỉ đồng quý 2, đẩy giá trị lỗ 6 tháng đầu năm lên 33,6 tỉ đồng.Trong số
các công ty thua lỗ, đáng chú ý có Công ty Chứng khoán Phú Hưng (mã PHS-HNX). Khoản lỗ

3,7 tỉ đồng tuy không quá nghiêm trọng nhưng nó đánh dấu quý thứ 10 liên tiếp từ quý 1/2011
tới nay công ty thua lỗ. Tổng lỗ lũy kế của PHS hiện là 154 tỉ đồng, chiếm 44% tỷ lệ vốn điều
lệ. Cổ phiếu PHS hiện đang bị kiểm soát do công ty đã thua lỗ hai năm liên tiếp.
Có 10 công ty chứng khoán đại chúng khác cũng thuộc diện thua lỗ dài hạn như PHS.
Điều này cho thấy tình trạng kinh doanh yếu kém hiện đang tập trung chủ yếu ở những công ty
có hoạt động kinh doanh không tốt trong thời gian dài.
Việc lợi nhuận được phân hóa một cách rõ rệt ở các công ty chứng khoán lớn và nhỏ như
vậy là một lợi thế cho quá trình tái cấu trúc các công ty chứng khoán. Nhìn vào cơ cấu thị phần
hàng quý thì có thể thấy các công ty nhỏ sẽ không còn chỗ đứng trong thời gian tới. Việc thua lỗ
kéo dài của các công ty chứng khoán ảnh hưởng không nhỏ tới nhà đầu tư là khách hàng của
những công ty này. Kế hoạch tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán được Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước khởi động từ hai năm nay nhưng vẫn tiến hành khá chậm chạp. Từ số
lượng ban đầu là 105 công ty, cho đến nay số lượng công ty được giải thể, sáp nhập hay chấm
dứt hoạt động kinh doanh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhiều công ty giờ chỉ còn hoạt động trên
danh nghĩa.
2.4 Thực hiện các nghiệp vụ của các CTCK Việt Nam:
Hoạt động môi giới: Đây là mảng hoạt động nghiệp vụ có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các
CTCK, thị phần môi giới được chia sẻ cho các CTCK mới thành lập. Để thu hút khách hàng tới
mở tài khoản và giao dịch các CTCK tân binh đều nhanh chóng mở rộng mạng lưới nhận lệnh
ngay từ đầu nhằm thu hút các nhà đầu tư tới giao dịch. Nổi bật là CTCK APEC, với 20 chi
nhánh, đại lý nhận lệnh ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, miền Nam cho tới Tây Nguyên. Với
kết quả đó APEC là một trong những CTCK mới có số lượng tài khoản được mở tính đến hết
năm 2011 là 12.032 tài khoản, chiếm 2,45% thị phần. Hơn nữa, các hình thức đặt lệnh qua điện
thoại, internet, giao dịch online đã được hầu hết các CTCK áp dụng.
Hoạt động môi giới lại chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn: từ năm 2008 đến nay doanh thu từ
hoạt động môi giới của các CTCK chỉ chiếm từ 12-22%, trong tổng doanh thu. Điều này cho


thấy hoạt động môi giới không phải là hoạt động chính của các CTCK hiện nay. Theo báo cáo tài
chính năm 2012, công ty có doanh thu từ hoạt động môi giới lớn nhất là Chứng khoán Thăng

Long (TLS) 234 tỉ đồng chiếm 17,88%; SSI 176 tỉ đồng, chiếm 11,71%; Chứng khoán TPHCM
(HCM) 151 tỉ đồng chiếm 32,08% trong tổng doanh thu.
Hoạt động tự doanh: Liên tục từ năm 2008-2012, doanh thu tự doanh chiếm từ 35-42% trong
tổng doanh thu. Năm 2011, có 88 trên 94 công ty được thống kê có doanh thu từ hoạt động tự
doanh với tổng giá trị đạt 5.164 tỉ đồng, chiếm 36,14% trong tổng doanh thu. Công ty dẫn đầu
trong doanh thu tự doanh là SBS (1.131 tỉ đồng), SSI (710 tỉ đồng) và AGR (642 tỉ đồng). Đặc
biệt số CTCK có doanh thu đến chủ yếu từ tự doanh như Chứng khoán Á-Âu (82,61%), Chứng
khoán SBS (82,12%), Chứng khoán Bản Việt (70,11%). Các CTCK lớn đang niêm yết trên sàn
như SSI, HPC, SHS cũng có doanh thu từ hoạt động tự doanh chiếm tỷ lệ khá lớn.
Hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành: Hoạt động BLPH (bảo lãnh phát hành)
trong năm 2007 cũng gặp một số trở ngại do thị trường có dấu hiệu đi xuống và các đợt trì hoản
IPO của các DNNN lớn. hoạt động BLPH (đại lý phát hành) vẫn chỉ tập trung vào 1 số công ty
có uy tín trong lĩnh vực này như: VCBS, BVSC, các CTCK khác cũng tham gia tích cực vào với
tư cách là đại lý phát hành. Năm 2012 chỉ có 23 CTCK có doanh thu từ hoạt động bảo lãnh và
đại lý phát hành chứng khoán.
Hoạt động tư vấn: Các CTCK vẫn tập trung vào mảng tư vấn niêm yết và tư vấn phát hành,
Trong năm 2011, tổng số công ty niêm yết lên 699 công ty và 450 loại trái phiếu niêm
yết. Tổng giá trị giao dịch giai đoạn 2006 – 2010 đạt 2.315 nghìn tỷ đồng, gấp 45 lần so với
giai đoạn trước đó. Và năm 2012, số công ty niêm yết là 702 công ty.


Nguồn UBCK Việt Nam
2.5 Nguồn nhân lực tại các CTCK Việt Nam:
Sự đổi mới không ngừng của các sản phẩm trên thị trường chứng khoán đòi hỏi hàm
lượng chất xám của đội ngũ nhân viên công ty chứng khoán ngày càng cao. Tri thức của nhân
viên chính là chìa khóa quan trọng giúp các công ty chứng khoán có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của khách hàng từ đó mở rộng hoạt động của công ty mình.
Thực tế tại Việt Nam, lực lượng lao động hành nghề trong lĩnh vực kinh doanh chứng
khoán có sự phát triển nhanh cùng với sự phát triển của thị trường, quá trình thiết lập và mở
rộng hoạt động của các CTCK. Nhưng đi kèm với tốc độ gia tăng số lượng, chất lượng nguồn

nhân lực không được đảm bảo. Tỷ trọng nhân viên CTCK có giấy phép hành nghề mới chỉ
chiếm khoảng ½ tổng số nhân viên.
Mặt khác, việc đào tạo cấp chứng chỉ của UBCKNN đang quá tải do nhu cầu từ phía các
công ty chứng khoán và xã hội quá lớn trong khi hiện nay chỉ có một tổ chức được phép đào tạo
và cấp chứng chỉ. Điều đó đã dẫn tới, các công ty chứng khoán chỉ có thể đáp ứng yêu cầu tối
thiểu về vị trí công việc theo yêu cầu của pháp luật, còn lại hầu hết các nhân viên chưa có hoặc
có nhưng chưa đủ 3 chứng chỉ hành nghề do UBCKNN quy định. Nội dung đào tạo chứng chỉ
hành nghề cho nhân viên làm việc trong các công ty chứng khoán lại chưa có sự chuyên sâu theo
vị trí công việc hay theo nghiệp vụ. Do đó, nếu có đủ chứng chỉ hành nghề thì bất kỳ nhân viên
nào của công ty chứng khoán cũng có thể làm ở bất cứ bộ phận nghiệp vụ nào. Do vậy mà chất
lượng của đội ngũ nhân viên phần nào bị ảnh hưởng và tính nghiệp vụ chuyên sâu chưa cao dẫn
đến chất lượng dịch vụ cung cấp cũng bị ảnh hưởng.


Tuy nhiên, để có thể phát triển bền vững, mang lại dịch vụ tốt nhất cho nhà đầu tư, ngoài
chiến lược quản trị và lực lượng lãnh đạo đủ tầm, CTCK phải có sự cải thiện chính sách đãi ngộ
với cán bộ, nhân viên, nhằm thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.
2.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ tại các CTCK Việt Nam:
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong hoạt động của chính mình đã trở
thành giải pháp cơ bản để các Công ty chứng khoán có thể tồn tại và phát triển. Sử dụng công
nghệ thông tin viễn thông có thể giúp các nhà đầu tư có thể cập nhật, xử lý thông tin và ra quyết
định đầu tư kịp thời, ngay sau khi thông tin được công bố, thông tin qua máy tính cá nhân,
internet hay điện thoại di động khi họ ở bất cứ đâu. Điều này cũng làm tăng tính minh bạch và sự
công bằng trong xử lý thông tin đến người sử dụng khi họ ở bất cứ đâu. Điều này cũng làm tăng
tính minh bạch và sự công bằng trong xử lý thông tin đến người sử dụng dịch vụ của CTCK. Đặc
biệt, đối với các CTCK tham gia thị trường OTC thì hệ thống thông tin điện tử lại càng quan
trọng. Chúng giúp cho các CTCK có thể mua bán chứng khoán được với nhau và cho khách
hàng.
Hiện mới có 40% trong tổng số hơn 100 công ty chứng khoán đang hoạt động tại Việt
Nam đạt chuẩn về chất lượng công nghệ trong giao dịch. Trên thị trường, một số nhà cung cấp có

sản phẩm core securities với hệ thống đạt tiêu chuẩn đang được lưu hành như Tongyang,
Freewill, CMS, Syscom, Excel Force... Tuy nhiên, giới chuyên môn cho rằng, để đáp ứng các
yêu cầu về cơ sở hạ tầng công nghệ, các công ty chứng khoán phải bỏ ra một khoản tiền không
nhỏ để đầu tư hệ thống giao dịch. Đây được xem là một trong những yếu tố cơ bản để đánh giá
sự chuyên nghiệp của một công ty chứng khoán. Hiện tại, cả sàn Hà Nội (HNX) và sàn TP.HCM
(HOSE) đều đã áp dụng giao dịch thông sàn (host - to - host). Hình thức này rất hiệu quả khi
khách hàng sử dụng giao dịch qua hệ thống core securities bằng mạng Intemet. Theo phản ánh
của nhiều công ty chứng khoán, đầu tư hệ thống core securities đã khó, vận hành và hoàn thiện
hệ thống còn khó hơn. Do đó, việc thiết kế các tính năng hoàn thiện đáp ứng nền tảng công nghệ
hợp nhất là giải pháp tối ưu cho ngành chứng khoán.
Trong tương lai, khi mà khối lượng giao dịch của các nhà đầu tư ngày càng tăng cao, thị
trường chứng khoán VN phát triển hơn nữa thì hệ thống công nghệ thông tin của các công ty
chứng khoán bắt buộc phải có sự đầu tư nâng cấp nếu các công ty này muốn tiếp tục tồn tại. Tuy
nhiên, để có thể trang bị hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đòi hỏi một lượng vốn đầu tư khá
lớn, không chỉ cho máy móc thiết bị mà cho cả con người vận hành những máy móc đó. Điều


này không phải bất kỳ công ty chứng khoán nào ở nước ta cũng có thể làm được khi mà quy mô
vốn của các công ty này thực tế còn rất nhỏ.
3. GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VÀ LỘ
TRÌNH THỰC HIỆN THEO ĐỀ ÁN 1826
3.1 Mục tiêu tái cấu trúc các CTCK
-

Nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm
soát rủi ro của các công ty chứng khoán. Trên cơ sở đó, từng bước thu hẹp số lượng các công
ty chứng khoán.

-


Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty chứng khoán;

-

Cho phép mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết.

Do đó, nếu không thực hiện tái cấu trúc triệt để (trong đó mấu chốt là tái cấu trúc hoạt động tài
chính) thì các CTCK - trụ cột chính của TTCK - sẽ không thể trụ vững và thực hiện được vai trò,
vị trí và nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc các CTCK phải được thực hiện
theo lộ trình, có bước đi thận trọng, chắc chắn nhằm không làm xáo trộn hoạt động của TTCK
cũng như các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước, bảo đảm lợi ích hợp pháp của khách hàng;
có sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
3.2 Giải pháp
3.2.1 Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo bốn (04) nhóm trên cơ sở mức độ
rủi ro đối với thị trường để có biện pháp xử lý thích hợp:
(i) Nhóm hoạt động lành mạnh, gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng trên 180%;
(ii) Nhóm hoạt động bình thường gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 150% tới 180%;
(iii) Nhóm bị kiểm soát gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 120% tới 150%;
(iv) Nhóm bị kiểm soát đặc biệt gồm các tổ chức hoạt động kinh doanh thua lỗ làm cho tỷ lệ vốn
khả dụng dưới 120%.
3.2.2Giải pháp xử lý:
Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh:


-

Duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính: Tổ chức kinh doanh chứng khoán
xây dựng và triển khai phương án tự củng cố nhằm bảo toàn vốn, lành mạnh hóa và từng
bước nâng cao năng lực tài chính;


-

Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh; từng bước chuyên
nghiệp hóa, hiện đại hóa các dịch vụ cung cấp theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; mở rộng
quy mô, phạm vi và địa bàn hoạt động, khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán
cho các thị trường quốc tế trong khu vực và trên thế giới; sử dụng công nghệ và hạ tầng kỹ
thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư;

-

Nâng cao năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro; áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro theo
thông lệ quốc tế; cơ cấu lại danh mục đầu tư, chấn chỉnh lại các hoạt động kinh doanh nhằm
hạn chế rủi ro; tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán;

-

Nâng cao năng lực quản trị và điều hành công ty; cơ cấu lại hệ thống quản trị, tổ chức lại bộ
máy, nhân sự; áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực cao nhất về đạo đức nghề nghiệp của
đội ngũ nhân viên, cán bộ của các tổ chức này; có giải pháp hiệu quả nhằm ngăn ngừa xung
đột lợi ích;

-

Tạo điều kiện các tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập, mua lại theo nguyên
tắc tự nguyện nhằm tích tụ vốn, công nghệ, mở rộng địa bàn hoạt động, tận dụng kiến thức
chuyên môn, kinh nghiệm để tạo đà phát triển nhanh về quy mô và hoạt động nghiệp vụ;
khuyến khích các tổ chức này tham gia xử lý các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm
soát, kiểm soát đặc biệt.

Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường:

-

Tổ chức kinh doanh chứng khoán: Xây dựng, tổ chức thực hiện phương án khắc phục; cơ cấu
lại danh mục đầu tư, thu hồi nợ, hạn chế các hoạt động đầu tư và dịch vụ chứng khoán tiềm
ẩn rủi ro; tinh giản tổ chức nhân sự, cắt giảm chi phí hoạt động; củng cố năng lực và lành
mạnh hóa tài chính, tăng vốn, bán nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, hạn chế
phân phối lợi nhuận cho cổ đông, thành viên góp vốn, chi thưởng...;

-

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện:
 Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này; tăng tần suất báo cáo về tình hình tài
chính; phối hợp với các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán kiểm
soát chặt chẽ hoạt động thanh toán giao dịch của các tổ chức này;


 Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, hạn chế hoặc không chấp thuận cho các tổ chức này
mở rộng địa bàn, phạm vi hoạt động, bổ sung nghiệp vụ, phân phối lợi nhuận bằng tiền;
hạn chế các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư vào tài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro;
 Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán thuộc nhóm này
sáp nhập, hợp nhất với nhau, hoặc với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động
lành mạnh; khuyến khích hoạt động chuyển nhượng vốn cổ phần, phần vốn góp của cổ
đông lớn, thành viên góp vốn cho các tổ chức tài chính ngân hàng, kể cả việc chuyển
nhượng cho các tổ chức nước ngoài theo cam kết WTO;
-

Khuyến khích các tổ chức tín dụng, tập đoàn có tình hình tài chính lành mạnh là công ty mẹ,
chủ nợ, hay đối tác hỗ trợ việc lành mạnh hóa tình hình tài chính của tổ chức kinh doanh
chứng khoán như cấp vốn, bổ sung vốn, xóa nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu,
khoanh nợ...;


Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát:
-

Ngoài áp dụng các giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình
thường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng quy trình chi tiết để quá trình tái cơ cấu
các tổ chức thuộc nhóm này diễn ra theo lộ trình trật tự, bảo đảm an toàn tài sản của khách
hàng:
 Yêu cầu các tổ chức thuộc nhóm này lành mạnh hóa và củng cố năng lực tài chính: Tăng
vốn, không phân phối lợi nhuận, không mua cổ phiếu quỹ; tái cơ cấu danh mục đầu tư và
hoạt động kinh doanh theo hướng giảm dần các hạng mục đầu tư và dịch vụ có hệ số rủi
ro cao; thu hẹp địa bàn hoạt động, cắt giảm nhân sự...;
 Yêu cầu các tổ chức này tự nguyện hoặc thực hiện rút bớt các nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán theo quy định của pháp luật. Khi rút nghiệp vụ môi giới chứng khoán, chủ
động có lộ trình thực hiện, các biện pháp kỹ thuật, xử lý tình huống nhằm bảo đảm an
toàn tài sản của khách hàng.

Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát đặc biệt:
-

Sau thời gian bị kiểm soát đặc biệt, nếu không bảo đảm được các quy định về an toàn tài
chính và tiếp tục thua lỗ (lỗ lũy kế đạt trên 50% vốn điều lệ), thì đình chỉ hoạt động, thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động; giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật. Trường
hợp không khắc phục được và lỗ lũy kế đạt dưới 50% vốn điều lệ, thì chấm dứt mọi hoạt


động chứng khoán, duy trì tư cách pháp nhân để thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với
khách hàng, chủ nợ; hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ:
-


Nghiên cứu xây dựng, ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán sau khi hợp nhất, sáp nhập; tạo điều kiện hỗ
trợ các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mua lại các tổ chức kinh doanh chứng
khoán trong nước theo cam kết WTO;

-

Nghiên cứu xây dựng cơ chế cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán khi bị thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động, được chuyển đổi thành công ty đầu tư chứng khoán hoạt
động theo pháp luật chứng khoán hoặc đăng ký kinh doanh hoạt động theo pháp luật doanh
nghiệp để tiếp tục xử lý các tồn đọng, nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng;

-

Các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước không hoạt động trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm chủ động xây dựng phương án, kế hoạch hợp lý nhằm thoái vốn đầu tư
tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trọng
tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 ban hành kèm theo
Quyết định số 929/2012/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2012.

3.2.4 Đổi mới hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, nâng cao năng lực tài
chính, quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế và khả năng cạnh tranh:
-

Nâng cao điều kiện thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán, hạn chế việc thành lập mới,
bảo đảm chỉ duy trì số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù hợp với nhu cầu của
thị trường; khuyến khích các hoạt động chuyển nhượng, các ngân hàng thương mại, doanh
nghiệp bảo hiểm có tình hình tài chính lành mạnh nắm giữ cổ phần chi phối, kiểm soát hoạt
động các tổ chức kinh doanh chứng khoán, từng bước hình thành các tập đoàn tài chính đa

năng theo thông lệ quốc tế;

-

Hoàn thiện mô hình tổ chức và củng cố hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo
thông lệ quốc tế:
 Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa dịch vụ chứng khoán theo thông lệ quốc tế, tập trung
vào ba lĩnh vực chính: (i) môi giới chứng khoán và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn
đầu tư, quản lý tài khoản, cho vay mua ký quỹ...; (ii) tư vấn tài chính doanh nghiệp, bảo


lãnh phát hành và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tự doanh, tạo lập thị trường; (iii) quản lý tài
sản và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn đầu tư, quản trị rủi ro;
 Xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh mới. Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ
chứng khoán, hạn chế các hoạt động tự doanh, tự đầu tư và cung cấp các dịch vụ tài chính
tiềm ẩn rủi ro; chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào
dòng vốn từ khu vực ngân hàng, chủ động thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn từ các
nhà đầu tư khác ở trong và ngoài nước; tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức kinh doanh
chứng khoán mở rộng địa bàn hoạt động, cung cấp dịch vụ chứng khoán trong khu vực và
trên các thị trường quốc tế;
 Đổi mới và nâng cao hiệu quả, năng lực quản trị công ty, hệ thống kiểm soát, kiểm toán
nội bộ; cơ cấu, sắp xếp lại các bộ phận nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế nhằm ngăn ngừa
xung đột lợi ích; quản lý tách biệt tài sản của khách hàng và tài sản của công ty nhằm
tránh hiện tượng lạm dụng tài sản khách hàng; tăng cường tính minh bạch trong hoạt
động quản lý, điều hành và tình hình tài chính của các tổ chức kinh doanh chứng khoán;
 Xây dựng và áp dụng các quy trình nội bộ, quy trình nghiệp vụ, chính sách và quy trình
về kiểm soát và quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, trong đó
tập trung vào quản trị rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro nghiệp vụ; thực hiện việc
phân loại nợ và tài sản, trích lập dự phòng đầy đủ theo các mức độ rủi ro. Nâng cao năng
lực đánh giá, định lượng, kiểm soát rủi ro theo nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế

và điều kiện thực tế của thị trường;
 Xây dựng và áp dụng bộ đạo đức nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế, nâng cao ý thức
trách nhiệm của nhân viên hành nghề; tích cực đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cho đội ngũ người hành nghề kinh doanh chứng khoán;
 Giám sát hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán dựa trên rủi ro: (i) ban hành quy
định hướng dẫn hoạt động quản trị rủi ro tại các tổ chức này; (ii) ban hành hệ thống thẻ
điểm về mức độ rủi ro, đánh giá xếp hạng, phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán
theo các tiêu chí về vốn, tài sản, quản trị doanh nghiệp, lợi nhuận, khả năng thanh toán và
rủi ro; (iii) từng bước triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động dựa trên mức độ rủi
ro;
-

Mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết quốc tế; khuyến khích các tập đoàn tài
chính, ngân hàng lớn, có uy tín tham gia hoạt động tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng


khoán; cho phép các tổ chức này mua để sở hữu toàn bộ tổ chức kinh doanh chứng khoán
theo cam kết WTO.
3.2.5 Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, giám sát hoạt động các tổ chức kinh doanh
chứng khoán:
-

Xây dựng hệ thống phân loại, đánh giá rủi ro của các tổ chức kinh doanh chứng khoán dựa
trên ba trụ cột: (i) mức vốn khả dụng, bảo đảm các tổ chức này có đủ vốn là các tài sản thanh
khoản để hấp thụ các rủi ro có thể xảy ra; (ii) năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro theo thông
lệ quốc tế; (iii) mức độ minh bạch hóa thông tin về tình hình tài chính và hoạt động quản lý
điều hành doanh nghiệp;

-


Từng bước triển khai áp dụng đầy đủ các nguyên tắc quản lý, giám sát các tổ chức kinh
doanh chứng khoán dựa trên mức độ rủi ro theo chuẩn mực quốc tế; phát triển hệ thống giám
sát và cảnh báo sớm trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo tiêu
chuẩn quốc tế;

-

Hoàn thiện cơ chế giám sát dòng lưu chuyển vốn từ khu vực ngân hàng tới thị trường chứng
khoán thông qua quan hệ sở hữu giữa các ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh doanh
chứng khoán; nâng cao năng lực giám sát và quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại đối
với dòng vốn từ hệ thống ngân hàng vào thị trường chứng khoán;

-

Tập trung nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát, quản lý các tổ
chức kinh doanh chứng khoán; giám sát chặt và xử lý nghiêm các sai phạm trong quản trị,
điều hành và vi phạm pháp luật của các tổ chức kinh doanh chứng khoán và người hành
nghề.

3.3 LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
Năm 2012 - 2014
Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và triển khai các giải pháp phù hợp để tái
cấu trúc các tổ chức này. Trước mắt, ưu tiên các giải pháp tự tái cơ cấu, bao gồm tăng vốn; hợp
nhất, sáp nhập, mua lại; thu hẹp phạm vi và địa bàn hoạt động, chấm dứt hoạt động... Trường
hợp không khắc phục được, rút bớt các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, thu hồi giấy phép
thành lập và hoạt động, cho giải thể hoặc phá sản;
Ban hành quy trình kiểm soát và quản lý rủi ro; hệ thống đánh giá, giám sát theo tiêu
chuẩn quốc tế; hoàn thiện các quy định pháp lý, củng cố mô hình tổ chức và hoạt động các tổ
chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm;



Ban hành các quy định xác lập tiêu chí đánh giá, phân loại doanh nghiệp bảo hiểm; tổ
chức đánh giá, phân loại và thực hiện các giải pháp phù hợp để tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo
hiểm;
Xây dựng, ban hành các quy định để giám sát hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm dựa
trên ba tiêu chí: mức độ an toàn tài chính; quản trị rủi ro doanh nghiệp; và minh bạch hóa thông
tin;
Yêu cầu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chủ động xây dựng phương án và lộ
trình hợp lý nhằm thoái vốn đầu tư tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo
hiểm theo Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công
ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 929/2012/QĐ-TTg
ngày 17 tháng 7 năm 2012.
Năm 2015: Hoàn thành căn bản việc cơ cấu lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
3.4 Một Số Kiến Nghị
Nhìn chung, Đề án tái cấu trúc TTCK đã đưa ra hệ thống các giải pháp và lộ trình tương
đối hoàn chỉnh nhằm xử lý triệt để những tồn đọng của TTCK và góp phần giải quyết những khó
khăn nội tại của nền kinh tế. Tuy nhiên, lộ trình cụ thể cho việc giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể,
trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan hữu quan cũng như cơ chế để triển khai thực hiện
trên thực tế là vấn đề cần phải xem xét. Để Đề án thực sự đi vào cuộc sống, thực hiện thành công
việc tái cấu trúc TTCK, một vài kiến nghị được đưa ra như sau:
-

Trên cơ sở xác định nhiệm vụ quan trọng trong phương án tái cấu trúc, UBCKNN cần tham
mưu cho Bộ Tài chính từng bước hoàn thiện khung pháp lý làm cơ sở cho thị trường hoạt
động công khai, minh bạch và tạo cơ chế để những hàng hóa, sản phẩm mới có thể giao dịch
trên thị trường. Cơ chế pháp lý để xây dựng cơ sở nhà đầu tư, như các vấn đề liên quan đến
thuế, phí trong lĩnh vực chứng khoán; tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật cho sự hoạt
động của các định chế trên thị trường như các quỹ đầu tư; xây dựng và ban hành các văn bản
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.


-

Để đẩy mạnh công tác giám sát nhằm mục đích giúp thị trường hoạt động minh bạch, hiệu
quả, giảm thiểu rủi ro, tăng niềm tin cho nhà đầu tư khi tham gia thị trường, UBCKNN cần
tăng cường công tác giám sát thông qua việc phát triển nguồn nhân lực, thường xuyên đào


tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công chức thực hiện công tác thanh tra, giám
sát; tích cực đổi mới phương thức giám sát và chế độ công bố thông tin, báo cáo kịp thời.
-

Cần có sự phối hợp một cách đồng bộ giữa các cơ quan hữu quan như UBCKNN, Bộ Tài
chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan, xây dựng
cơ chế phối hợp và chế độ thông tin, báo cáo để triển khai thực hiện thành công phương án
tái cấu trúc TTCK.

-

Nhanh chóng xây dựng phương án tái cấu trúc SGDCK và TTLKCK. Đề án đã đề ra các mục
tiêu để sáp nhập hai SGDCK và củng cố hoạt động của TTLKCK. Tuy nhiên, chúng ta chưa
có kế hoạch và lộ trình một cách cụ thể. Trong thời gian tới UBCKNN và Bộ Tài chính cần
phải triển khai thực hiện công việc này để đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc thị trường, khắc
phục những nhược điểm của hệ thống giao dịch và thanh toán như hiện nay.

-

Do các hành vi giao dịch và nghiệp vụ của TTCK phức tạp, các nghiệp vụ mới liên tục phát
sinh, các văn bản mới cần được cơ quan quản lý triển khai sâu rộng và phổ biến rộng rãi kịp
thời cho công chúng đầu tư, qua đó thúc đẩy thị trường phát triển và hạn chế các hành vi vi
phạm trên thị trường. UBCKNN cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, cập

nhật kiến thúc và pháp luật cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân. Triển khai
các biện pháp để xây dựng hệ thống nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp nhằm tạo sức cầu,
giúp thị trường phát triển bền vững; tăng lòng tin và khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tham
gia thị trường.

-

Tóm lại, câu chuyện về tái cấu trúc TTCK giờ đây không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản
lý thị trường, của các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách mà còn nhận được sự quan tâm
của mọi chủ thể tham gia trên thị trường. Giải quyết được bài toán tái cấu trúc TTCK trong
bối cảnh hiện nay đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm và phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý
nhà nước, sự đồng lòng của các thành viên thị trường.

Tài liệu tham khảo:
1. “Thực trạng hoạt động và sự cần thiết tái cấu trúc khối công ty chứng khoán Việt Nam”


ThS. Trần Thị Xuân Anh
2. Các bài viết có liên quan đến tái cấu trúc nền kinh tế, DNNN, NHTM,CTCK trên tạp chí:
Nhịp cầu đầu tư số 254, 2011; Kỷ yếu Hội thảo “Tái cấutrúc DNNN”, Học viện Tài chính
tháng 11/2011.
3. Các trang web: www.cafef.vn; www.VEF.vn; www.vnexpress.vn


×